MỤC LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................... 16
MỞ ĐẦU
Sự ra đời và tồn tại của nhà nước, sự xuất hiện của nền sản xuất hàng
hóa bao giờ cũng gắn liền với sự tồn tại của ngân sách nhà nước (NSNN).
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự
toán đã được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định và được thực
hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà
nước.” Đó là hệ thống các mối quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nước và
các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình hình thành, phân phối
và sử dụng quỹ tiền tệ tập chung quan trọng nhất của nhà nước nhằm đáp ứng
cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước về mọi mặt. NSNN
cũng đã trở thành công cụ quan trọng nhất được nhà nước sử dụng để khắc
phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, huy động nguồn tài chính,
điều tiết vĩ mô nền kinh tế , cũng như điều tiết nền thu nhập nhằm đảm bảo
công bằng xã hội. Những việc đó được thực hiện thông qua hoạt động thu, chi
ngân sách nhà nước. Nguồn thu cho NSNN là các khoản thu từ thuế, lệ phí, từ
hoạt động kinh tế của Nhà nước, vay nợ, viện trợ, đóng góp của công chúng,
…Thu để định hướng đầu tư,kích thích hoặc hạn chế sản xuất, kinh doanh...
chi để nâng cao hiệu quả chất lương y tế, giáo dục nâng cao đời sống nhân
dân...Tuy nhiên trong điều kiện NSNN còn eo hẹp cần phải hợp lí, hiệu quả,
tiết kiệm và công khai, tránh sự thâm hụt, thất thoát ngân sách đó luôn là bài
toán khó. Do đó, việc công khai trong hoạt động NSNN là rất quan trọng,
đảm bảo việc sử dụng NSNN đúng mục đích, đúng trình tự, thủ tục, tránh tình
trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí. Việc công khai cũng chính là việc hiện
thực hóa quyền giám sát của công dân với những công việc quan trọng của đất
nước, mà cụ thể là hoạt động sử dụng NSNN của các cá nhân, cơ quan nhà
Công khai ngân sách là việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các
thông tin tài chính phải công khai, phù hợp với từng đối tượng cung cấp và
2
tiếp nhận thông tin thông qua những hình thức pháp luật quy định như công bố
trong các kì họp thường niên, phát hành ấn phẩm, thông báo trên các phương
tiện thông tin đại chúng, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức,
cá nhân…. , trừ những tài liệu, số liệu thuộc bí mật nhà nước. Việc gửi các
báo cáo quyết toán NSNN các cấp, báo cáo quyết toan tài chính của các đơn vị
dự toán NSNN, các tổ chức được NSNN hỗ trợ, các doanh nghiệp nhà nước
thực hiện theo chế độ báo cáo tài chính và kế toán hiện hành (Điều 2 Quyết
định 192/2004/QĐ-TTg).
Đối tượng phải công khai tài chính gồm: các cấp ngân sách nhà nước,
các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ,
các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các
doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ
có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân dân được cấp có thẩm quyền
cho phép thành lập theo quy định của pháp luật. Các đối tượng nói trên sau
đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức, đơn vị. Không công khai những tài liệu và số
liệu thuộc bí mật nhà nước quy định tại Pháp lệnh về bảo vệ bí mật nhà nước
số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, Quyết định số 237/2003/QĐ-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2003
của Thủ tướng Chính phủ về danh mục bí mật nhà nước độ Tuyệt mật và Tối
mật trong ngành tài chính, các tài liệu, số liệu thuộc bí mật của các ngành, địa
phương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng Bộ Công
an.( Điều 3 Quyết định 192/2004/QĐ-TTg).
1. Công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước
* Đối với ngân sách nhà nước và ngân sách trung ương
- Nội dung công khai bao gồm:
phố trực thuộc Trung ương đã được Uỷ Ban thường vụ Quốc hội quyết định,
Thủ tướng Chính phủ giao.
Cơ quan thực hiện việc công khai NSNN và ngân sách trung ương là Bộ
Tài Chính. Việc công khai phải được thực hiện hàng năm, chậm nhất sau 60
ngày, kể từ ngày Quốc hội ban hành Nghị quyết về quyết định dự toán NSNN,
phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước,
dưới các hình thức thông báo bằng văn bản cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, HĐND và UBND các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phát hành ấn phẩm; công bố trên trang
thông tin điện tử của Bộ Tài chính.
* Đối với ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ngân
sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Việc công khai đối với ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
và ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng bao gồm những
nội dung như việc công khai đối với ngân sách trung ương. Bao gồm: Cân đối
dự toán, quyết toán ngân sách tỉnh; Dự toán, quyết toán thu, chi ngân sách cấp
tỉnh, ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Dự toán, quyết toán
thu, chi ngân sách nhà nước và ngân sách tỉnh trên địa bàn theo từng lĩnh vực;
Dự toán, quyết toán chi xây dựng cơ bản cho từng dự án, công trình, chi cho
các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia; Dự toán, quyết toán thu ngân sách
nhà nước trên địa bàn, chi cân đối ngân sách huyện, thị xã, quận, thành phố
thuộc tỉnh, số bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp tỉnh
cho ngân sách từng huyện, thị xã, quận, thành phố thuộc tỉnh và tỷ lệ phần
trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp chính
4
quyền địa phương cho ngân sách từng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh trong thời kỳ ổn định ngân sách.
Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện công
sau 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận nội dung chất vấn. Trường hợp nội dung
chất vấn phức tạp, cần nhiều thời gian để chuẩn bị trả lời thì phải có văn bản
hẹn ngày trả lời cụ thể cho người chất vấn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ
ngày nhận được nội dung chất vấn.
2. Công khai tài chính đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử
dụng vốn ngân sách nhà nước
5
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì các dự án đầu tư và xây dựng
có sử dụng nguồn vốn NSNN được cơ quan có thẩm quyền quyết định giao kế
hoạch vốn đầu tư của Nhà nước trong dự toán NSNN hàng năm đều phải thực
hiện công khai tài chính, bao gồm các dự án được đầu tư 100% bằng nguồn
vốn NSNN và các dự án được hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn NSNN.
Hàng năm cơ quan cấp trên của chủ đầu tư phải thực hiện công khai tài
chính các nội dung thuộc thẩm quyền như: Tổng mức vốn đầu tư được Nhà
nước giao theo kế hoạch trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm và triển
khai phân bổ kế hoạch vốn đầu tư cho từng dự án thuộc cấp mình quản lý; Kết
quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt của từng dự án;
Số liệu quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách hàng năm của từng dự
án; Số liệu quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày ký quyết định phân bổ, điều
hòa, điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư, ký gửi báo cáo quyết toán niên độ ngân
sách và ký quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành hoặc chậm
nhất là 15 ngày, kể từ ngày có kết quả lựa chọn nhà thầu được phê duyệt đối
với nội dung về kết quả lựa chọn nhà thầu.
Các chủ đầu tư phải thực hiện công khai tài chính các nội dung thuộc
quyền quản lý như tổng mức vốn đầu tư, tổng dự toán được duyệt của từng dự
án đầu tư; Kế hoạch vốn đầu tư (kể cả điều hòa, điều chỉnh, bổ sung) được cơ
quan cấp trên của chủ đầu tư giao trong năm cho từng dự án đầu tư; Kết quả
- Quyết toán kinh phí NSNN, kinh phí khác.
Và niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của đơn vị (thời gian niêm yết ít
nhất là 90 ngày, kể từ ngày niêm yết); đồng thời thông báo bằng văn bản cho
các đơn vị cấp dưới trực thuộc và các đơn vị được ủy quyền (nếu có), chậm
nhất sau 30 ngày, kể từ ngày được cấp có thẩm quyền giao đầu năm và điều
chỉnh giảm hoặc bổ sung trong năm (nếu có) hoặc từ ngày được cấp có thẩm
quyền phê duyệt.
Thủ trưởng các đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí NSNN cũng
công bố công khai dự toán thu – chi NSNN, kể cả phần điều chỉnh giảm hoặc
bổ sung (nếu có) đã được cấp có thẩm quyền giao và nguồn kinh phí khác và
công khai quyết toán một số nội dung chi chủ yếu như chi mua sắm trang thiết
bị, phương tiện làm việc, chi sửa chữa lớn TSCĐ, chi hội nghị. Những nội
dung này phải được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của đơn vị (thời
gian niêm yết ít nhất là 90 ngày, kể từ ngày niêm yết); đồng thời công bố
trong hội nghị cán bộ, công chức, viên chức của đơn vị, chậm nhất sau 30
ngày, kể từ ngày được đơn vị dự toán cấp trên hoặc cấp có thẩm quyền giao
đầu năm và điều chỉnh giảm hoặc bổ sung trong năm (nếu có) hoặc kể từ ngày
được đơn vị dự toán cấp trên hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Với các tổ chức được NSNN hỗ trợ, những đơn vị này phải công khai
phân bổ dự toán kinh phí NSNN hỗ trợ và quyết toán NSNN hỗ trợ. Trách
nhiệm tổ chức thực hiện việc công khai ngân sách thuộc về thủ trưởng tổ chức
đó. Những nội dung này phải được niêm yết công khai tại trụ sở làm việc của
đơn vị (thời gian niêm yết ít nhất là 90 ngày, kể từ ngày niêm yết); đồng thời
thông báo bằng văn bản cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc chậm nhất sau 30
ngày, kể từ ngày được cấp có thẩm quyền giao đầu năm và điều chỉnh giảm
hoặc bổ sung trong năm hoặc từ ngày được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4. Công khai tài chính với các doanh nghiệp Nhà nước
Quyết định 192/2004/QĐ-TTg quy định như sau:
Điều 12. Nội dung công khai tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước
thực hiện. Các DNNN có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các
thông tin tài chính phải công khai tại hệ thống báo cáo tài chính hàng năm,
bao gồm các thông tin về tài sản, tiền vốn, kết quả sản xuất kinh doanh, tình
hình thực hiện nghĩa vụ đối với NSNN, lưu chuyển tiền tệ và thông tin thuyết
minh về báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý nhà nước theo chức năng;
hoặc các thông tin tài chính về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh
8
doanh, việc trích lập sử dụng các quỹ doanh nghiệp, các khoản đóng góp cho
ngân sách nhà nước của doanh nghiệp, các khoản thu nhập và thu nhập bình
quân của người lao động, số vốn góp và hiệu quả góp vốn của nhà nước tại
doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp, tổ chức công đoàn,
đoàn thanh niên, Đảng và các đối tượng khác. Hội đồng quản trị, Tổng giám
đốc (Giám đốc) công ty chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của
nội dung công khai. Tùy vào tình hình thực tế mà các DNNN có thể công khai
các thông tin trên theo hình thức gửi báo cáo tài chính, theo hình thức cổ đông
hoặc người góp vốn thông qua báo cáo tài chính tại đại hội Đại hội đồng cổ
đông hoặc tại hội nghị thành viên hoặc phát hành ấn phẩm; niêm yết tại doanh
nghiệp; công bố trong hội nghị cán bộ, công nhân, viên chức của doanh
nghiệp, chậm nhất trong vòng 120 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Các tổ chức, cá nhân được tiếp nhận thông tin công khai tài chính có
quyền chất vấn về các nội dung công khai tài chính. Hội đồng quản trị, Tổng
giám đốc (Giám đốc) công ty thực hiện công khai tài chính có trách nhiệm trả
lời chất vấn về các nội dung công khai tài chính. Các chất vấn phải được trả
lời cho người chất vấn chậm nhất sau 10 ngày kể từ ngày tiếp nhận nội dung
chất vấn. Trường hợp nội dung chất vấn phức tạp, cần nhiều thời gian để
chuẩn bị trả lời thì phải hẹn lại ngày trả lời cụ thể cho từng người chất vấn,
nhưng tối đa không quá 45 ngày kể từ ngày tiếp nhận nội dung chất vấn.
5. Công khai tài chính với các quỹ có nguồn từ ngân sách Nhà nước
niêm yết bằng văn bản tại trụ sở chính của quỹ và các đơn vị trực thuộc và
công bố công khai trong hội nghị cán bộ, công nhân, viên chức của quỹ.
Chủ tịch Hội đồng quản lý hoặc Tổng giám đốc (Giám đốc); người có
trách nhiệm quản lý quỹ; Chủ tịch UBND các xã, thị trấn có tổ chức huy động
đóng góp của nhân dân cho đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, chủ tịch
Hội đồng xét thầu có trách nhiệm trả lời chất vấn về các nội dung công khai.
Việc trả lời chất vấn phải được thực hiện bằng văn bản và gửi tới người chất
vấn. Thời gian trả lời chất vấn chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận chất vấn.
Trong trường hợp nội dung chất vấn phức tạp thì phải có giấy hẹn và trả lời
chậm nhất là 45 ngày kể từ ngày nhận được chất vấn.
6. Công khai hỗ trợ trực tiếp của ngân sách nhà nước đối với cá nhân,
dân cư.
Thông tư của Bộ Tài Chính số 54/2006/TT-BTC ngày 19/06/2006
Hướng dẫn thực hiện quy chế công khai hỗ trợ trực tiếp của ngân sách nhà
nước đối với cá nhân, dân cư:
Nội dung công khai:1.1. Công khai các chính sách, chế độ hỗ trợ trực
tiếp của Nhà nước cho cá nhân, dân cư như: trợ cấp đối với người có công với
cách mạng; chính sách cứu trợ xã hội; chính sách hỗ trợ cho người nghèo,
người già không nơi nương tựa, trẻ em lang thang cơ nhỡ; nạn nhân chất độc
da cam,...1.2. Công khai các chính sách, chế độ hỗ trợ có tính chất đột xuất
của Nhà nước cho cá nhân, dân cư, như: hỗ trợ khắc phục thiên tai, dịch bệnh;
cứu đói; thăm hỏi nhân dịp lễ, tết,…1.3. Công khai thủ tục và quy trình xét
duyệt, thủ tục chi trả cho các đối tượng được hưởng các chính sách, chế độ hỗ
trợ của Nhà nước theo quy định.1.4. Công khai kết quả xét duyệt và chi trả
cho các đối tượng được hưởng các chính sách, chế độ của nhà nước theo quy
định như: Công khai số đối tượng được hưởng, chế độ được hưởng và mức
được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (theo biểu mẫu đính kèm).
Hình thức công khai: 2.1. Niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường, thị
trấn.2.2. Thông báo bằng văn bản cho Đảng ủy, các tổ chức chính trị - xã hội ở
cấp xã và trưởng các thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc ở xã và tổ dân phố ở
Chất vấn và trả lời chất vấn: Mặt trận tổ Quốc xã, các tổ chức đoàn thể
ở xã và nhân dân giám sát việc thực hiện công khai của UBND cấp xã theo
các quy định của Thông tư này. Nếu có thắc mắc có quyền chất vấn Chủ tịch
UBND cấp xã về các nội dung công khai.Chủ tịch UBND cấp xã phải trả lời
chất vấn về các nội dung công khai, việc trả lời chất vấn có thể trả lời trực tiếp
hoặc trả lời bằng văn bản. Trong trường hợp nội dung chất vấn có liên quan
đến các cơ quan, đơn vị thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện được giao nhiệm vụ
xét duyệt hỗ trợ cho cá nhận, dân cư; UBND cấp xã có quyền yêu cầu cơ quan
đó trả lời bằng văn bản cho người chất vấn thay cho UBND cấp xã.Trường
hợp trả lời bằng văn bản, thời gian trả lời chất vấn chậm nhất sau 10 ngày, kể
từ ngày tiếp nhận nội dung chất vấn. Trường hợp nội dung chất vấn phức tạp,
11
cần nhiều thời gian để chuẩn bị trả lời thì phải có văn bản hẹn ngày trả lời cụ
thể cho người chất vấn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được nội
dung chất vấn.
Tổ chức thực hiện:1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể
từ ngày đăng Công báo.2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính
phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ
chức thực hiện; cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân
dân cùng cấp thực hiện đầy đủ những quy định về việc công khai ngân sách
nhà nước.
7. Xử lý vi phạm
Theo quy định của pháp luật hiện hành, những hành vi sau bị coi là
hành vi vi phạm quy định của pháp luật về công khai tài chính:
- Công khai không đầy đủ nội dung, hình thức, thời gian quy định.
- Công khai số liệu sai sự thật;
- Công khai những số liệu thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
phương, đơn vị sử dụng ngân sách.
Về công bố thông tin: Việc công bố công khai số liệu thu, chi ngân sách
nhà nước ngày càng được tăng cường. Năm 1998 là năm đầu tiên Việt Nam
công bố số liệu thu, chi ngân sách trong cuốn Niên giám thống kê do Tổng cục
Thống kê phát hành hàng năm. Cũng trong năm 1998, Việt Nam lần đầu tiên
đã công bố số liệu thu, chi ngân sách nhà nước của Việt Nam trong Niên giám
Thống kê Tài chính Chính phủ của Quỹ Tiền tệ quốc tế. Ngoài việc quy định
công bố công khai số liệu dự toán và quyết toán ngân sách nhà nước đã được
Quốc hội và HĐND các cấp quyết định, phê chuẩn, còn mở rộng nội dung
công khai ngân sách và kinh phí của các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ
trợ kinh phí; công khai các quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước và các quỹ có
nguồn từ các khoản đóng góp của nhân dân; các dự án, công trình đầu tư xây
dựng cơ bản thuộc nguồn ngân sách nhà nước; công khai các khoản hỗ trợ của
ngân sách nhà nước cho các cá nhân, dân cư…
Việc công khai quy trình ngân sách, công khai dự toán, thực hiện dự toán
và quyết toán ngân sách, công khai kết quả kiểm toán ngân sách hàng năm
cũng được đẩy mạnh. Dự toán ngân sách được công khai từ các định hướng
chính sách ngân sách của Nhà nước đối với năm lập dự toán ngân sách; công
khai số liệu dự toán sau khi được Quốc hội và HĐND các cấp phê duyệt. Theo
đó, hàng quý, Bộ Tài chính thực hiện công khai số liệu ngân sách nhà nước
theo mẫu báo cáo thống kê tài chính Chính phủ. Số liệu về thực hiện ngân
sách hàng năm được công khai 2 lần, lần thứ nhất vào thời điểm tháng 11 của
năm đó và lần thứ 2 vào thời điểm tháng 5 của năm sau. Các số liệu quyết toán
ngân sách và báo cáo kiểm toán cũng được công khai theo quy định. Từ năm
2006 đến nay, để tăng cường hơn nữa công tác công khai minh bạch trong
quản lý tài chính công, hàng năm, Bộ Tài chính công khai Báo cáo đánh giá
thực hiện ngân sách nhà nước năm hiện hành và dự toán ngân sách nhà nước
cho năm sau gắn với thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
Với sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, nhân dân có thể
dễ dàng tiếp cận được với những nội dung công khai ngân sách của các cấp
quốc tế để sử dụng chung cho tất cả các đơn vị sử dụng ngân sách Trung ương
và ngân sách địa phương; nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống phân loại ngân
sách hiện hành phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm phục vụ tốt hơn trong tổ
chức quản lý ngân sách như công tác công khai, minh bạch và hội nhập quốc
tế;
- Cơ chế luật pháp cần phải hướng tới việc điều chỉnh việc chi tiêu, mua sắm
của Chính phủ. Những vấn đề cần lưu tâm là: Chính phủ phân bổ các nguồn
lực như thế nào; cơ chế đầu tư của chi tiêu công; sau khi đầu tư, mua sắm tài
sản đó thuộc về ai, ai sử dụng? Cần kiểm tra, kiểm soát tài sản quốc gia, kể cả
tài sản định lượng được và tài sản không định lượng được. Việc nâng cao chất
lượng chi tiêu của Chính phủ sẽ góp phần tích cực nâng cao chất lượng hoạt
động tài chính, ngân sách, tạo dựng và củng cố lòng tin của nhân dân.
- Cần gắn chặt công tác công khai hoạt động ngân sách với hoạt động chất
vấn, kiểm tra, giám sát, để tăng cường hiệu quả thực tế của công tác công khai
ngân sách.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng quy chế công khai tài
chính – ngân sách trong các tầng lớp nhân dân để người dân hiểu biết về tình
14
hình công khai ở địa phương, từ đó thực hiện tốt vai trò kiểm tra, giám sát
trong quá trình sử dụng ngân sách nhà nước…
KẾT LUẬN
Công khai, minh bạch trong hoạt động ngân sách là biện pháp quan
trọng hàng đầu để ngăn ngừa tham nhũng. Để ngăn ngừa tham nhũng thì việc
công khai, minh bạch trong cơ chế, chính sách, trong hoạt động của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, tức là làm cho “dân biết” được rõ ràng cơ chế, chính
sách, các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức
trong hệ thống chính trị là biện pháp quan trọng hàng đầu. Công khai, minh
bạch tạo điều kiện để người dân cũng như xã hội giám sát hoạt động thu, chi,
và
các
tổ
chức
được
ngân
sách
nhà
nước
hỗ
trợ.
8. Thông tư của Bộ Tài Cính số 29/2005/TT-BCT ngày 14/04/2005 Hướng
dẫn quy chế công khai tài chính doanh nghiệp nhà nước.
9.
Thông tư của Bộ Tài Chính số 54/2006/TT-BTC ngày 19/06/2006 Hướng
dẫn thực hiện quy chế công khai hỗ trợ trực tiếp của ngân sách nhà nước đối