so sánh giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu - Pdf 31

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong một vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi
mới cơ chế kinh tế với sự thừa nhận đa hình thức sở hữu, đa hình thức kinh
doanh. Ngày 14- 11- 2005 Quốc hội đã ban hành Luật Thương mại số 36/
2005- QH 11 quy định về hoạt động thương mại (chính thức có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 01 năm 2006, thay thế luật thương mại- 1997) nhằm tạo thành
một hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho các thương nhân trong hoạt động
thương mại.
Cũng giống như Luật thương mại 1997, Luật thương mại 2005 cũng
quy định khá đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bán
hàng hoá. Tuy nhiên để hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua
bán hàng hoá nói riêng đi vào chiều sâu, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế, mỗi
cá nhân cần phải tìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động
thương mại theo đúng luật, nhằm hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng
có, để các quy định của luật thương mại thực sự có ích trong cuộc sống, tạo
thuận lợi cho mọi chủ thể của hoạt động thương mại.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, với bài tập nhóm tháng
thứ nhất môn Luật Thương Mại 2, nhóm 2 lớp N02 TL1 chúng em xin chọn
đề tài: “Giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng
hóa vô hiệu” với mong muốn được hiểu cũng như làm rõ hơn về vấn đề này.
Sau đây là toàn bộ nội dung chính trong bài làm của chúng em.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ, HỢP ĐỒNG MUA
BÁN HÀNG HÓA
Chế định hợp đồng là một trong những chế định ra đời sớm nhất trong


hệ thống pháp luật. Kể từ khi loài người có hoạt động giao lưu, trao đổi với
nhau thì cơ sở cho việc hình thành hợp đồng đã ra đời, cho dù hợp đồng ở
thời kỳ đầu tiên này còn ở dạng thô sơ nhất. Về phương diện pháp lý, hợp



mại trên cơ sở điều 428 của Bộ luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Do
đó, Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của
HĐMBTS, dù vẫn mang những nét đặc thù riêng. Hợp đồng mua bán hàng
hóa có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa
các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Thương nhân là chủ thể của hợp đồng
mua bán hàng hóa có thể là thương nhân Việt Nam hoặc là thương nhân
nước ngoài. Bên cạnh chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không
phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán
hàng hóa (trong trường hợp các chủ thể chọn Luật thương mại để điều chỉnh
hoạt động của mình)
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập theo
cách thức nào mà cả hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hóa
giữa các bên. Theo điều 24 Luật thương mại 2005: “Hợp đồng mua bán
hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng
hành vi cụ th ể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật
quy định phải dược lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.
Thứ ba, về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng
hóa. Tuy nhiên không thể hiểu theo nghĩa thông thường, hàng hoá là sản
phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu
của con người hay chỉ bao gồm máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu,
vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường,
nhà ở dùng để kinh doanh đưới hình thức cho thuê, mua, bán (khoản 3 Điều
5 Luật Thương Mại 1997). Luật Thương mại 2005 quy định :
“Hàng hoá bao gồm :
a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
b) Những vật gắn liền với đât đai.”


tuân thủ theo các thủ tục giao kết dưới đây:
1. Đề nghị giao kết hợp đồng mua bán:
Đề nghị giao kết hợp đồng có bản chất là hành vi pháp lí đơn phương
của một chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể
khác theo những điều kiện xác định. Từ quy định của Điều 390 BLDS 2005,
có thể định nghĩa đề nghị giao kết hợp đồng trong thương mại là việc thể
hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của
bên đề nghị đối với bên đã được xác định cụ thể. Về nguyên tắc, hình thức
của đề nghị hợp đồng phải phù hợp với hình thức của hợp đồng. BLDS 2005
không quy định về hình thức của đề nghị hợp đồng, song có thể dựa vào quy
định về hình thức của hợp đồng để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng,
theo đó đề nghị hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc
hành vi cụ thể hoặc kết hợp giữa các hình thức này. Trường hợp pháp luật
quy định hình thức của hợp đồng phải bằng văn bản thì hình thức của đề
nghị hợp đồng cũng phải bằng văn bản.
Đề nghị hợp đồng được gửi đến một hoặc nhiều chủ thể đã xác định.
Hiệu lực của nó thông thường do các bên tự ấn định. Trường hợp bên đề
nghị không ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng thì đề nghị
giao kết hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị
đó. Căn cứ xác định bên được đề nghị đã nhận được đề nghị giao kết hợp
đồng là khi: Đề nghị được chuyển đến nơi cư trú hoặc trụ sở của bên được
đề nghị. Đề nghị được đưa vào hệ thống thông tin chính thức của bên được
đề nghị. Bên được đề nghị biết được đề nghị giao kết hợp đồng thông qua
các phương thức khác.
Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình. Trong thời
hạn đề nghị hợp đồng có hiệu lực, nếu bên được đề nghị thông báo chấp
nhận vô điều kiện đề nghị hợp đồng thì hợp đồng hình thành và ràng buộc


các bên. Nếu các bên không thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng thì phải

chấp nhận đó của bên được đề nghị.
Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trường hợp qua điện
thoại hoặc qua các phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay
có chấp nhận hoặc không chấp nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận về thời
hạn trả lời. Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp
nhận giao kết hợp đồng. Nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời
điểm bên đề nghị nhận được trả chấp nhận giao kết hợp đồng.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán
Về nguyên tắc, hợp đồng được giao kết vào thời điểm các bên đạt được
sự thỏa thuận. Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định khác nhau phụ
thuộc vào cách thức giao kết và hình thức của hợp đồng. Theo quy định của
BLDS 2005 – Điều 404, có thể xác định thời điểm giao kết hợp đồng trong
kinh doanh theo các trường hợp như sau:
- Trường hợp hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng văn bản: thời điểm
giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng kí tên vào văn bản.
- Trường hợp hợp đồng được giao kết gián tiếp bằng văn bản (thông
quan các tài liệu giao dịch): thời điểm đạt được sự thỏa thuận được xác định
theo lý thuyết (tiếp nhận), theo đó hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị
nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
- Trường hợp hợp đồng được giao kết hợp đồng bằng lời nói: thời điểm
giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp
đồng. Các bên có thể sử dụng những biện pháp, chứng cứ hợp pháp để
chứng minh việc các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng bằng lời
nói.
Sự im lặng của các bên được đề nghị đến khi hết thời hạn trả lời cũng


có thể là căn cứ xác định hợp đồng đã được giao kết, nếu có thỏa thuận im
lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng (khoản 2, điều 404 BLDS).
III. HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÔ HIỆU

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật có nội dung không
cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là
những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội,
được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Biểu hiện cụ thể của vi phạm điều
cấm trong hợp đồng là các bên thỏa thuận với nhau để thực hiện những công
việc mà pháp luật không cho phép thực hiện như: sản xuất, tiêu thụ hàng giả;
mua bán, vận chuyển hàng cấm; cung ứng dịch vụ bị cấm thực hiện; dịch
chuyển tài sản trái phép hay những thỏa thuận gây thiệt hại cho lợi ích của
người thứ ba…Theo cách hiểu thông thường, nội dung hợp đồng gồm toàn
bộ cam kết của các bên được thể hiện dưới dạng điều khoản. Nhưng khi xem
xét về nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không,
cần lưu ý điều khoản đối tượng của hợp đồng. Khi nội dung của điều khoản
này vi phạm điều cấm của pháp luật làm hợp đồng vô hiệu toàn bộ thì các
điều khoản hợp pháp khác của hợp đồng cũng sẽ bị vô hiệu theo. Để xác
định nội dung của hợp đồng có vi phạm điều cấm của pháp luật hay không,
cần lưu ý các quy phạm cấm đoán trong các văn bản pháp luật.
- Vô hiệu do giả tạo: khi các bên giao kết hợp đồng một cách giả tạo
nhằm che giấu một hợp đồng khác thì hợp đồng giả tạo vô hiệu, còn hợp
đồng bị che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp hợp đồng bị che dấu cũng
vô hiệu theo quy định của pháp luật.
- Vô hiệu do nhầm lẫn: Một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn
về nội dung của hợp đồng mà giao kết, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu
bên kia thay đổi nội dung của hợp đồng đó, nếu bên kia không chấp nhận thì


bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
- Vô hiệu do lừa dối: Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của
người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của
đối tượng hoặc nội dung của hợp đồng nên đã giao kết hợp đồng đó. Khi
một bên giao kết hợp đồng do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên

nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh. Tuy nhiên, đăng kí kinh doanh chỉ đòi
hỏi bắt buộc với chủ thể là thương nhân. Vì vậy nếu pháp luật quy định chủ
thể trong một hợp đồng mua bán hàng hóa phải có đăng kí kinh doanh mà
bên đó không có đăng kí kinh doanh thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu toàn
bộ. Để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa có bị vô hiệu do một bên
không có đăng kí kinh doanh để thực hiện nội dung đã thỏa thuận hay
không, cần nghiên cứu kĩ nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa để xem
các bên có những nghĩa vụ cụ thể gì? Việc thực hiện các nghĩa vụ đó có phù
hợp với đăng kí kinh doanh của từng bên hay không? Những hàng hóa các
bên được quyền kinh doanh?
Pháp luật dân sự cũng không quy định trường hợp hợp đồng vô mua
bán hàng hóa vô hiệu do được kí kết bởi người đại điện không đúng thẩm
quyền. Song trường hợp này có thể áp dụng quy định về đại diện và phạm vi
đại diện để xác định hiệu lực của hợp đồng. Khi người không có quyền đại
diện giao kết, thực hiện hợp đồng, sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ
đối với bên được đại diện, trừ trường hợp được người đại diện hợp pháp của
bên được đại diện chấp thuận. Giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện
vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người
được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại
diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản
đối. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện ( hoặc vượt quá


phạm vi đại diện) có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ
giao dịch ( hoặc đối với phần vượt quá phạm vi được đại diệ) đã xác lập và
yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp người đó biết hoặc phải biết về
việc không có quyền đại diện và việc vượt quá phạm vi đại diện mà vẫn giao
dịch.
Phạm vi đại diện cần phải được xác định đối với cả đại diên theo pháp
luật và đại diện theo ủy quyền. Nếu như văn bản ủy quyền là cơ sở cho phép

lại ít được tòa án giải quyết như vậy? Có thể lý giải như sau, các quy định
của pháp luật hiện nay đã hạn chế tối đa các trường hợp hợp đồng thương
mại vô hiệu. Đặc biệt là từ khi Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối ca ra
Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP ngày 27/5/2003 hướng dẫn một số quy
định của pháp luật trong việc giải quyết một số vụ án kinh tế, đã giới hạn các
trường hợp hợp đồng kinh tế bị tuyên bố vô hiệu do yếu tố chủ thể không có
đăng kí kinh doanh, do đồng tiền thanh toán, do chủ thể kí không đúng thẩm
quyền. Các hướng dẫn trong nghị quyết và BLDS 2005 đã góp phần hạn chế
tối đa các trường hợp các bên tham gia hợp đồng lợi dụng những “lỗ hổng”
của pháp luật để yêu cầu tuyên bố vô hiệu.
Hiện nay các quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu được các chủ
thể chủ thể tham gia giao kết hợp đồng vận dụng hêt sức linh hoạt vào thực
tiễn giao kết các hợp đồng nên hạn chế tối đa các trường hợp hợp đồng
thương mại vô hiệu do thiếu hiểu biết pháp luật của các bên chủ thể.
Các trường hợp vô hiệu mà thương nhân thường gặp là do không đáp
ứng điều kiện kinh doanh và đồng tiền thanh toán không phù hợp với đồng
tiền thanh toán không phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý ngoại
hối. Tuy nhiên pháp luật nước ta tôn trọng sự thỏa thuận của các bên và tạo
điều kiện cho công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh nên các khiếm


khuyết trên được các chủ thể trong quá trình kinh doanh khắc phục bằng
việc được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh bổ sung và thỏa thuận lại
thanh toán bằng đồng Việt Nam hoặc thỏa thuận sử dụng ngoại tệ làm đồng
tiền định giá nhưng việc thanh toán vẫn là đồng Việt Nam. Do đó, các vụ
việc liên quan đến hợp đồng vô hiệu là không nhiều.
Thực tiễn giải quyết các vụ án hợp đồng thương mại vô hiệu, để đưa ra
một phán quyết bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên chủ thể thẩm phán gặp
rất nhiều khó khăn trong việc vận dụng các quy định của pháp luật. Trong
giai đoạn hiện nay khi BLDS 2005 ra đời thay thế hàng loạt các văn bản

nghiệp tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên của mình được tiếp cận với
các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định về hợp đồng mua bán
hàng hoá.
2.2. Đối với vấn đề căn cứ giao kết hợp đồng
Khi Luật Thương mại năm 2005 bắt đầu có hiệu từ ngày 01-01-2006,
thì trong giai đoạn hiên nay, nếu Công ty thực hiện giao kết hợp đồng mua
bán hàng hoá với khách hàng thì cần phải căn cứ vào Luật Thương mại 2005
và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thương mại 2005. Tránh trường
hợp Công ty vẫn quen theo việc căn cứ vào Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
1989, nếu làm vậy thì hợp đồng giao kết sẽ không có hiệu lực.
2.3. Vấn đề chủ thể giao kết hợp đồng
Trước khi thực hiện việc giao kết hợp đồng Công ty cần tìm hiểu tính
chất chủ thể của khách hàng. Nếu thấy khách hàng không đủ tư cách chủ thể
để giao kết hợp đồng thì Công ty phải dừng ngay việc giao kết để tiếp tục
xác minh. Khi bên khách hàng có đủ giấy tờ xác minh tư cách chủ thể mới
tiến hành giao kết.


2.4. Đối với hình thức và nội dung của hợp đồng
Theo Luật Thương mại 2005 hình thức của hợp đồng khá đa dạng có
thể bằng lời nói, bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể. Tuy nhiên ở Công
ty, hình thức kí kết chủ yếu là bằng văn bản, Công ty có thời gian để chuẩn
bị các thủ tục. Hợp đồng mua bán hàng hoá ở Công ty có giá trị tương đối
lớn do đó hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản là rất đúng, Công ty
không nên thực hiện giao kết hợp đồng bằng lời nói.
Các nội dung trong hợp đồng của Công ty cần quy định chi tiết và chặt
chẽ về vấn đề thanh toán, chuyển rủi ro, chuyển quyền sở hữu và vấn đề giải
quyết tranh chấp. Hiện tại Công ty không có vụ tranh chấp nào xảy ra về vấn
đề thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá, tuy nhiên việc quy định chi tiết và
chặt chẽ các vấn đề trên là hoàn toàn không thừa. Nó sẽ giúp Công ty yên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status