TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƢ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Đề tài
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TTHS VIỆT NAM VỀ
QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƢỜI BỊ TÌNH NGHI
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
ThS. Mạc Giáng Châu
Lê Thị Hồng Nhung
Bộ môn: Luật Tƣ pháp
MSSV: 5095353
Lớp: Tƣ pháp 1 - K35
Cần Thơ, Tháng 5/2013
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
Tiến hành tố tụng
Tố tụng hình sự
Viện kiểm sát
Viện kiểm sát nhân dân
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA
NGƢỜI BỊ TÌNH NGHI TRONG TTHS ............................................................... 4
1.1. Khái quát chung về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong tố tụng
hình sự ....................................................................................................................... 4
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................... 4
1.1.1.1. Khái niệm chung về quyền con người .................................................... 4
1.1.1.2. Khái niệm quyền im lặng ....................................................................... 6
1.1.1.3. Khái niệm người bị tình nghi ................................................................. 8
1.1.2. Bản chất của quyền im lặng ........................................................................ 13
1.2.3. Vai trò của quyền im lặng ................................................................................. 15
1.2. So sánh cơ sở lý luận về quyền im lặng trong hoạt động tƣ pháp tố tụng
hình sự ..................................................................................................................... 18
1.2.1. Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức, Mỹ ........................................ 18
1.2.1.1. Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức ......................................... 18
1.2.1.2. Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Mỹ ........................................... 20
1.2.2.Quyền im lặng trong BLTTHS Việt Nam ................................................... 21
CHƢƠNG 2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ
QUYỀN IM LẶNG ................................................................................................. 24
2.1. Các quy định mang tính nguyên tắc liên quan tới quyền im lặng .............. 24
2.1.1. Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án ....................................................... 24
2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa ......................................................... 26
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực tố tụng hình sự là vấn đề đang được các
quốc gia quan tâm. Tuy nhiên, một trong những khó khăn mà các nước gặp phải
trong quá trình hoàn thiện pháp luật là bảo đảm sự cân bằng giữa các mục tiêu của
tố tụng hình sự, đó là việc cân bằng giữa nhiệm vụ xử lý tội phạm và duy trì tính
nghiêm minh của pháp luật với việc bảo đảm và không vi phạm các quyền của
người bị tình nghi. Qua nghiên cứu cho thấy, ở không ít các quốc gia điển hình là
nước Mỹ, Đức, thì pháp luật luôn bảo vệ quyền được im lặng của người bị tình nghi
một cách trọn vẹn.
Tại Việt Nam, thực tế giải quyết vụ án hình sự cho thấy vẫn còn tồn tại tình
trạng oan sai, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tình nghi,
Một trong số quyền đó, cụ thể là “quyền im lặng” trong các giai đoạn tố tụng hình
sự (giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự). Thực tế này xuất
phát từ nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do những quy định của pháp luật còn
bất cập, hạn chế (không quy định trực tiếp và rõ ràng)… Mặc dù, Bộ luật TTHS
Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên cũng mới chỉ khắc phục
được phần nào những bất cập còn tồn tại. Chính vì vậy, quyền và lợi ích pháp lý của
người bị tình nghi vẫn chưa được đảm bảo một cách trọn vẹn. Trước tình hình đó,
Nhà nước đã có những động thái thể hiện rõ quyết tâm sớm hoàn thiện hệ thống
pháp luật nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Tương tự nhiều nước trên thế
giới, Việt Nam đã và đang tiến hành cuộc cải cách tư pháp toàn diện về tư pháp
hình sự. Nghị Quyết số 08/NQ/TW ngày 2/1/2002 và Nghị Quyết số 49/NQ/TW
ngày 2/6/2005 của Bộ Chính Trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
khẳng định: “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng
cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người”; Bộ Chính Trị đã chủ trương một trong những
nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách đó là “mở rộng hoạt động tranh tụng tại
phiên tòa xét xử hình sự, trong đó, nhấn mạnh việc mở rộng hơn nữa quyền của
tư pháp tố tụng hình sự. Thông qua đó người viết đề cập đến những tồn tại về mặt
pháp lý của Bộ luật TTHS Việt Nam, cũng như chỉ ra những bất cập, hạn chế trong
quy định về “quyền” của người bị tình nghi trên thực tế, từ đó đưa ra các giải pháp
cụ thể. Người viết chỉ tập trung xoáy sâu vào các quy định của Bộ luật TTHS hiện
hành và Bộ luật hình sự hiện hành về quy định quyền im lặng của người bị tình nghi
trong các giai đoạn TTHS và các quy định mang tính nguyên tắc liên quan tới quyền
im lặng.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở là làm rõ những vấn đề lý luận chung về quyền im lặng của người
bị tình nghi trong hoạt động tư pháp tố tụng hình sự, đồng thời nghiên cứu thực tiễn
quy định quyền im lặng ở nước Mỹ, Đức, từ đó liên hệ đến những quy định của
pháp luật Việt Nam. Thông qua đó, chỉ ra được những bất cập, hạn chế của pháp
luật Việt Nam về quy định quyền im lặng của người bị tình nghi, để đưa ra những
giải pháp mang tính cụ thể nhằm “Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền
im lặng của người bị tình nghi trong vụ án hình sự”, góp phần đảm bảo cho quyền
con người trong xã hội nói chung, quyền im lặng của người bị tình nghi trong TTHS
nói riêng được bảo đảm tích cực hơn.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
2
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được tìm hiểu, nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp các tài liệu liên quan
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA
NGƢỜI BỊ TÌNH NGHI TRONG TTHS
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƢỜI BỊ TÌNH
NGHI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Để có cái nhìn tổng thể về quyền im lặng của người bị tình nghi trong TTHS,
trước tiên vấn đề cần làm rõ là khái niệm về quyền con người, quyền im lặng và
người bị tình nghi, tiếp đó là làm rõ bản chất của quyền im lặng, và sau đó liên hệ
cụ thể đến cơ sở lý luận về quyền im lặng trong hoạt động tư pháp tố tụng hình sự,
đồng thời làm rõ vai trò của quyền im lặng.
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Khái niệm chung về quyền con người
Quan niệm về quyền con người, trong lịch sử chính trị - tư tưởng của nhân
loại, thuật ngữ quyền con người (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến
nay chưa có quan niệm thống nhất. Ngay từ thời cổ đại đã có sự bàn luận về các
quyền. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các nhà
tư tưởng bàn đến như một học thuyết.
- Quan niệm thứ nhất, cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên.
Trong ý nghĩa ban đầu, thuyết pháp luật tự nhiên ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tự do
của con người; khẳng định quyền con người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ
nhận quan niệm quyền con người tự do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng
cho quyền tự nhiên.
- Quan niệm thứ hai, xem con người cũng như quyền con người trong tổng
cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Vì vậy, quyền con người vừa
mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng.
Hai là, quyền con người là những giá trị phải được xã hội hóa bằng cách thể
chế hóa thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập cần thiết cho mọi người,
không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính…
Ba là, quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là
những giá trị sản sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể.
Ghi nhận quyền con người, pháp luật phản ánh các nhu cầu và khả năng khách quan
phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử… Chỉ có thông qua
pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở
thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn.
Với ba yếu tố trên đây, quan niệm về quyền con người vừa khẳng định cơ
sở tự nhiên và giá trị nhân loại của quyền, đồng thời cũng thừa nhận thuộc tính xã
hội – chính trị và lịch sử cụ thể của quyền con người thuộc một quốc gia, một dân
tộc1.
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm quyền con người như sau:
“Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con người mới được
hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định. Quyền
con người vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội; vừa mang thuộc tính cá
nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng; có tính phổ cập, không
phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tính ngưỡng, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính”.
1
Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội – 2004, tr 12-25.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
5
Đức và Mỹ, quyền im lặng của người bị tình nghi cũng được ghi nhận dựa trên lập
luận cho rằng: người bị tình nghi không có nghĩa vụ tuyên bố những chứng cứ
chống lại chính anh ta và việc im lặng không có nghĩa là loại trừ nghĩa vụ khai báo3.
Trong việc giải quyết vụ án hình sự, quyền im lặng là quyền không trình
bày lời khai về bất kỳ tình tiết sự kiện nào của vụ án khi thấy lời khai của mình có
thể được sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bản thân mình.
2
Xem: Báo Pháp luật - xã hội, cho phép bị can, bị cáo được quyền im lặng – tại sao không, Phương Thảo,
Http://phapluatxahoi.vn/cho-phep-bi-can-bi-cao-duoc-quyen-im-lang-tai-sao-khong.htm, [ truy cập ngày
09/04/2013].
3
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật Tp. Hồ Chí Minh – 2011, tr.229.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
6
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
Khi tiến hành các hoạt động TTHS, người bị tình nghi có quyền trình bày
lời khai4 về những vấn đề liên quan đến vụ án mà họ bị cơ quan Nhà nước nghi
ngờ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự coi là tội phạm.
khai chống lại mình hoặc không buộc phải nhận mình phạm tội. Nhà nước có nghĩa
4
Xem: Điểm c – khoản 2, Điều 48 và điểm c- khoản 2, Điều 49 của BLTTHS năm 2003.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
7
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
vụ phải tìm kiếm chứng cứ để chứng minh những cáo buộc của mình về người bị
tình nghi”5.
1.1.1.3. Khái niệm người bị tình nghi
“Người bị tình nghi trong vụ án là người bị cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền tình nghi là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật hình sự
quy định là tội phạm, bao gồm người có hành động phạm pháp bị cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền triệu tập làm việ bao gồm: người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị
cáo”.
Tuy nhiên, trong tố tụng hình sự Việt Nam có nhiều chủ thể tham gia vào
hoạt động tố tụng, bao gồm người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, sự
tham gia của các chủ thể này nhằm làm rõ tính chất liên quan đến vụ án. Trong đó,
người bị tình nghi là một trong những chủ thể tham gia tố tụng xuyên suốt trong
từng giai đoạn với tư cách pháp lý khác nhau. Người bị tình nghi gồm những chủ
thể đó là: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngoài ra người bị bắt cũng được xem là
người bị tình nghi, nhưng chủ thể này tham gia các hoạt động tố tụng không nhiều,
vụ án hình sự
được xem là người bị tình nghi, và mức độ tình nghi thấp hơn so với bị can, bị cáo.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 48 của Bộ luật TTHS năm 2003 thì: “Người bị tạm
giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo
quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết
định tạm giữ”. Theo quy định này thì người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi
tố (người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội
tự thú), cũng có thể là bị can, bị cáo (người bị bắt theo quyết định truy nã).
Tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc hành vi
cản trở việc điều tra khám phá tội phạm của người bị nghi ngờ là thực hiện hành vi
phạm tội, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền có thời gian để xác định tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội. Từ đó có thể ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình
sự. Chính vì lẽ đó, người bị tạm giữ vẫn chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố (người bắt trong
trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú trước khi hành
vi phạm tội bị phát hiện và bị khởi tố), đã có quyết định tạm giữ. Mặc dù, họ chưa
bị khởi tố vụ án hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ
quan đã tạm giữ. Người bị tạm giữ sẽ bị hạn chế quyền tự do, nhưng trình bày lời
khai là quyền chứ không phải là nghĩa vụ (theo điểm c- khoản 2 Điều 48, BLTTHS
năm 2003).
Người bị tạm giữ cũng có thể là người bị khởi tố về hình sự là bị can,
bị cáo (người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ra đầu thú), và đối với họ đã có
quyết định tạm giữ. Đó là trong trường hợp, một người đã thực hiện hành vi phạm
tội và cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định khởi tố bị can, nhưng xét thấy họ
không đủ điều kiện để tạm giữ , cho nên không áp dụng biện pháp tạm giữ đối với
họ, mà cho họ được tại ngoại và áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác (như cấm đi
khỏi nơi cư trú, đặt tiền và tài sản có giá trị để bảo đảm…), họ cam kết là sẽ thực
hiện đúng và sẽ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên,
quyền con người của họ trong TTHS .
Như vậy, theo quy định của pháp luật TTHS năm 2003 thì: bị can là người
bị khởi tố vụ án hình sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can, nên
quyền và nghĩa vụ của bị can gắn liền với giai đoạn điều tra, truy tố và một phần
giai đoạn xét xử sơ thẩm . Vì thế, tư cách tố tụng của bị can chấm dứt khi Cơ quan
điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, Tòa án đình
chỉ vụ án (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử). Với những phân tích trên, có thể đưa ra
kết luận rằng bị can vẫn được xem là người bị tình nghi chứ không phải là tội phạm,
cho dù đã có quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Vì, không ai bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
(theo Điều 9, BLTTHS năm 2003).
c) Khái niệm về bị cáo
Bị cáo là đối tượng bị tình nghi cao nhất trong quá trình giải quyết vụ
án hình sự, mức độ tình nghi cao hơn nhiều so với bị can. Vì, một điểm khác biệt
quan trọng giữa bị can và bị cáo là bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế tố tụng
hoàn chỉnh, đầy đủ những người tham gia tố tụng, các cơ quan, người THTT với
chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử; thực hiện các quyền tố tụng của mình trong
phiên tòa công khai, dân chủ và bình đẳng. Rõ ràng, so với bị can tham gia tố tụng
(nhất là hỏi cung) trong môi trường chỉ có người buộc tội, (trường hợp cá biệt mới
có người bào chữa, người chứng kiến), bị cáo tham gia tố tụng trong phiên tòa công
6
Xem: Khoản 1 – Điều 126, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
10
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
pháp luật, thì mặc nhiên có thể hiểu rằng đây là đối tượng bị tình nghi cao nhất so
với người bị tạm giữ, bị can.
Tóm lại, dù ở các mức độ khác nhau nhưng người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo đều chỉ là những người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được BLHS quy định là tội phạm. Họ là người tham gia tố tụng chiếm vị trí trung
tâm trong TTHS; không có họ thì không thể tiến trình tố tụng hoàn chỉnh. Đối với
họ có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS; các hoạt động TTHS động chạm
đến quyền con người của họ nhiều nhất. Tuy nhiên, vì chưa có bản án kết tội của
7
Xem: Điều 127, Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001.
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
11
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với họ, cho nên người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
chưa phải là người phạm tội. Vì vậy, từ gốc độ bảo đảm quyền con người, các biện
pháp cưỡng chế tố tụng, các hạn chế tố tụng đối với họ chỉ ở mức cần và đủ để đạt
được mục đích tố tụng là phát hiện nhanh chống, xử lý công minh tội phạm và
người phạm tội.
d) Người bị bắt
Người bị bắt cũng là đối tượng bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tình
nghi về việc thực hiện tội phạm, để ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc ngăn ngừa tội
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
1.1.2. Bản chất của quyền im lặng
Để có cái nhìn sáng tỏ hơn về quyền im lặng của người bị tình nghi thì
việc đầu tiên là phải làm rõ mối quan hệ giữa quyền im lặng và các quyền cơ bản
của người bị tình nghi, tiếp đó làm sáng tỏ nội dung của quyền im lặng.
Quyền cơ bản của người bị tình nghi là quyền con người, là những giá trị
gắn với một nhà nước nhất định và được nhà nước bảo hộ bằng pháp luật của mình
đối với người mang quốc tịch của nước mình. Thể hiện mối quan hệ pháp lý cơ
bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể cho dù cá nhân đang phải
chịu sự điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng hình sự. Có thể coi quyền cơ bản của
người bị tình nghi là một bộ phận bị thu hẹp nằm trong các quyền công dân.
Quyền im lặng và quyền cơ bản của người bị tình nghi là hai khái niệm
mang tính độc lập vừa có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau. Quyền im lặng
là một trong những quyền của con người, quyền im lặng có khái niệm hẹp hơn các
quyền cơ bản của người bị tình nghi nên điều tất yếu là quyền cơ bản của người bị
tình nghi sẽ rộng hơn và bao gồm cả quyền im lặng.
Việc bảo vệ quyền im lặng của người bị tình nghi thường phản ánh nền văn
minh của một quốc gia. Khi cố gắng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con
người, thì cần khẳng định rằng: im lặng là quyền của con người, ghi nhận người bị
tình nghi được quyền im lặng là Nhà nước đã tôn trọng quyền con người của họ.
Phải nhận thức rõ ràng là quyền im lặng dành cho ai, cho thiểu số, cho đa số, hay
cho toàn thể nhân dân. Nói cách khác, không thể thảo luận vấn đề bảo vệ quyền con
người (quyền im lặng) của người bị tình nghi chỉ trên quan điểm của chính họ mà
cần xem xét vấn đề dựa trên quan điểm của cộng đồng, đặc biệt là trên quan điểm
của người bị tình nghi.
Phải thừa nhận rằng, việc ghi nhận quyền im lặng của người bị tình nghi
chính là nhằm tôn trọng quyền con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị tình nghi trước pháp luật. Tuy nhiên, việc người bị tình nghi im lặng trước
Miranda). Lời cảnh báo Miranda còn được cảnh sát Mỹ (nhiều nước khác cũng có
câu nói tương tự) đọc lên với nghi phạm trước khi họ trả lời về việc phạm tội. Nếu
cảnh báo Miranda không được đọc cho nghi phạm thì những lời nói/ khai của nghi
phạm sẽ không được sử dụng như là các chứng cứ buộc tội trước Tòa án. Tuy nhiên,
cảnh sát có thể hỏi các thông tin về cá nhân như: tên, tuổi, địa chỉ mà không cần
phải đọc cảnh báo Miranda.
“Quyền im lặng” nghe có vẻ lạ ở Việt Nam, nhưng đây là một quy định tiến
bộ, nhằm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Nếu quy định cho đương sự
có quyền im lặng từ khi bắt đầu bị điều tra cho đến khi có luật sư thì đã bảo đảm
được khách quan, bởi đến khi có luật sư thì những gì mà người bị tạm giữ, tạm giam
phát biểu với CQĐT đều được sự tư vấn và chứng kiến của luật sư. Và đây chính là
“gốc của vấn đề” để luật sư được tham gia vào quá trình tố tụng ngay từ những thủ
tục đầu tiên. Như vậy, nếu người bị tình nghi có quyền im lặng thì sẽ bảo vệ tốt hơn
cho họ.
Mặt khác, “quyền im lặng” của chúng ta chưa thể hiện thành một chủ
trương hay một quy định rõ ràng - còn nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp
luật được thực thi nghiêm túc ngay từ khi quá trình TTHS được khởi động. Do đó,
khi một người phạm tội trên thực tế, nhưng nếu anh ta không được điều ta, truy tố
và xét xử theo đúng quy trình tố tụng, thì về mặt pháp lý anh ta có thể không bị
8
Xem: Báo Pháp luật, tìm hiểu quyền con người, quyền im lặng trong TTHS, Nguyễn Văn Đài,
trong Tố tụng
hình sự, [ truy cập ngày 16/1/2013].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
14
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Qua đó, thể hiện cách ứng xử của Nhà nước đối với người bị tình nghi
phạm tội, quyết định toàn bộ quy trình tố tụng hướng tới sự tạo điều kiện thuận lợi
cho cơ quan tố tụng hay là sự bảo vệ quyền lợi của công dân.
* Tôn trọng quyền con người
Im lặng là quyền của con người, tôn trọng quyền im lặng là tôn trọng
quyền con người. Vì vậy, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chứng
9
Xem: Tạp chí ngiên cứu lập pháp số 134, tháng 11/2008, hai mô hình TTHS đặc trưng trên thế giới,
Nguyễn Hà Thanh, [
truy cập ngày 10/02/2013].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
15
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
minh là mình vô tội (thành khẩn khai báo và bác bỏ những chứng cứ buộc tội), cũng
có quyền im lặng không khai báo bất cứ tình tiết, sự kiện nào liên quan đến vụ án vì
đó không phải là nghĩa vụ bắt buộc.
* Nâng cao trách nhiệm của cơ quan THTT
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan THTT (CQĐT, VKS,
Tòa án, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra)
phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật. Tất cả các hoạt động
TTHS phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật về căn cứ, thẩm quyền,
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung
Hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về quyền im lặng của ngƣời bị tình nghi trong
vụ án hình sự
tác, ngoan cố, chống đối và đề nghị xử lý nghiêm theo luật định. Nói là vậy, nhưng
tình tiết im lặng, không khai báo chưa được nhà làm luật ghi nhận là tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS hiện hành.
Bên cạnh đó, suy đoán vô tội được hiểu là chưa bị coi là có tội, khi bản án
kết tội của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật. Một người dù rõ ràng đã thực hiện
hành vi tội phạm nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự, bị bắt và áp dụng
biện pháp tạm giữ, bị khởi tố bị can, bị truy tố, bị đưa ra xét xử, họ vẫn chưa thể bị
coi là có tội.
Người bị bắt và tạm giữ, thường được gọi là người bị tình nghi phạm tội;
bị can là người bị cơ quan THTT xác định đã thực hiện hành vi phạm tội và đối với
họ đã có quyết định khởi tố bị can; bị cáo là người bị cáo buộc phạm tội và có quyết
định của Tòa án đưa ra xét xử; ngay sau khi xử sơ thẩm, án chưa có hiệu lực pháp
luật, người bị kết án vẫn tham gia TTHS với tư cách là bị cáo và có quyền kháng
cáo theo trình tự phúc thẩm.
Cả quá trình này, con người đã và đang tham gia tố tụng qua các giai đoạn
chưa bị coi là có tội, nhưng đã bị coi là phạm tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội được
quy định tại Điều 72 của Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và
tại Điều 9 của BLTTHS năm 2003 thì: “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình
phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo quy
định này, chúng ta có thể hiểu là: người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo được coi là
không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật; nghĩa
vụ chứng minh một người là có tội hay không có tội thuộc về bên buộc tội; người bị
bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô
ĐỘNG TƢ PHÁP TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.2.1. Quyền im lặng của nghi phạm ở nƣớc Đức, Mỹ
1.2.1.1. Quyền im lặng của nghi phạm ở nước Đức
Khi nghiên cứu TTHS Đức về bảo đảm quyền của người bị buộc tội, nhận
thấy, bản chất của việc quy định các cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội bị
chi phối sâu sắc bởi đặc thù về mô hình tố tụng thẩm vấn truyền thống – nơi bắt
nguồn của việc nhìn nhận vai trò tích cực của thẩm phán trong hoạt động chứng
minh tội phạm.
Tuy nhiên, giống với nhiều nước Châu Âu ngày nay, Đức được mô tả là
quốc gia có mô hình tố tụng hỗn hợp, trong đó chứa đựng nhiều yếu tố vay mượn
truyền thống tố tụng khác nhau. Hiện tại đã có nhiều dấu hiệu của tố tụng đối tụng
đã được vận dụng trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án ở Đức10. Ví dụ như Tòa
án đã bớt năng động trong việc chứng minh tội phạm; việc trình bày chứng cứ được
xem xét công bằng giữa công tố viên và người bào chữa; phiên tòa xét xử dựa trên
cách thức của một phiên tòa tranh tụng và bắt buộc sự có mặt của người bào chữa…
Mặc dù vậy, nhìn chung TTHS Đức vẫn duy trì các đặc điểm của mô hình thẩm vấn
truyền thống11.
Vì vậy, có thể nói TTHS Đức và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong
cách thức giải quyết một vụ án hình sự. Việc xét xử tại phiên tòa là sự tiếp tục điều
tra những chứng cứ được thu thập bởi cơ quan cảnh sát và công tố trong giai đoạn
tiền xét xử. Điều này thể hiện vai trò tương đối mờ nhạt của người bào chữa tại
phiên tòa. Mặc dù ngày nay, các thủ tục tại phiên tòa trong cả hai hệ thống pháp luật
Đức và Việt Nam đã có những bước cải tiến rõ nét về vai trò của người bào chữa,
10
Xem: Bộ tư pháp Cộng hòa liên bang Đức, , [ truy cập ngày 14/1/2013].
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2011, tr.119.
11
giai đoạn tố tụng, việc thẩm vấn bị cáo phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền im
lặng của người bị buộc tội14. Người bị tình nghi hoàn toàn có quyền im lặng, và anh
ta phải được thông báo đầy đủ về các quyền của mình, cũng như những thông tin
liên quan đến việc buộc tội trong từng thời điểm bắt đầu một cuộc thẩm tra15. Chính
vì vậy, trong lần thẩm vấn đầu tiên trước thẩm phán, công tố viên hay nhân viên
cảnh sát, người bị buộc tội phải được thông báo về “quyền giữ im lặng”, không
buộc phải nói bất kỳ một vấn đề gì liên quan đến vụ việc. Nếu bị cáo không được
thông báo về những nội dung trên, chứng cứ buộc tội anh ta có thể bị loại bỏ, trừ
khi bị cáo biết rõ quyền của mình hoặc chấp thuận các chứng cứ đó trước tòa.
12
Xem: Điều 155,244 Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), [truy cập ngày18/01/2013].
13
Xem: Lương Thị Mỹ Quỳnh, Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS, Đại
học luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011, tr.130.
14
Xem: Điều 136, Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), [truy cập ngày 18/01/2013].
15
Xem: Điều 136 (1) và Điều 163 a (3), Bộ luật tố tụng hình sự Đức (StPO), [truy cập ngày 18/01/2013].
GVHD: ThS. Mạc Giáng Châu
19
SVTH: Lê Thị Hồng Nhung