MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa “thống nhất trong đa dạng”. Nền
văn hóa đó là sự hội tụ các giá trị văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống trên
lãnh thổ Việt Nam. Trong lịch sử hình thành và phát triển, mỗi dân tộc đều sáng
tạo ra các giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng cho tộc người đó. Mỗi tộc
người có những giá trị văn hóa riêng, qua lịch sử, các giá trị văn hóa ấy trở
thành bản sắc văn hóa của từng tộc người, góp phần hình thành nền văn hóa
Việt Nam đa sắc thái.
Đặc trưng văn hóa là một trong 3 tiêu chí để xác định thành phần các dân
tộc ở Việt Nam. Như vậy, sự tồn tại của mỗi tộc người gắn liền với bản sắc văn
hóa. Khi các giá trị văn hóa của một dân tộc mất đi sẽ dần kéo theo sự biến mất
của dân tộc đó. Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, vấn đề văn hóa các
dân tộc ngày càng được quan tâm. Một yêu cầu bức thiết đặt ra là hội nhập
không đồng nghĩa với hòa tan. Chúng ta hội nhập cùng xu thế chung của quốc tế
nhưng vẫn phải giữ được những giá trị dân tộc truyền thống. Giá trị dân tộc ấy
là bản sắc văn hóa. Và bản sắc văn hóa Việt Nam chính là các giá trị văn hóa
riêng của mỗi tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là của dân
tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số còn lại. Việc tìm hiểu, nghiên cứu bản sắc văn
hóa Việt Nam không thể không gắn liền với vấn đề tìm hiểu bản sắc văn hóa
của từng tộc người riêng trong cộng đồng 54 dân tộc ở Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta cũng rất coi trọng đến vấn đề bảo tồn và phát huy
những giá trị văn hóa của các dân tộc. Năm 1991, với “Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội”, Đảng đã xác định: tôn
trọng lợi ích truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân
tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di
sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc.
được những biến đổi sâu sắc trong phong tục cưới xin và tang ma của người Sán
Dìu nơi đây, góp phần tìm hiểu các giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam nói riêng, làm nền tảng cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam nói
chung.
Với đề tài này, chúng tôi mong rằng sau khi hoàn thành, kết quả của công
trình sẽ đóng góp vào việc tìm hiểu văn hóa tộc người Sán Dìu cũng như văn
hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Từ đó có những chính sách bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa thể hiện qua phong tục cưới xin và tang ma trong
nghi lễ chu kỳ đời người người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên nói riêng và tộc người Sán Dìu nói chung.
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, xu hướng tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa tộc
người đã, đang và rất được quan tâm. Mặc dù chỉ chiếm khoảng 13% tổng số
dân cả nước nhưng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mỗi dân tộc lại có một nền
văn hóa riêng, độc đáo, tạo nên một nền văn hóa chung, thống nhất trong đa
dạng - một nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Tộc người Sán Dìu ở Việt Nam cũng là vấn đề được nhiều nhà nghiên
cứu dân tộc học và nhiều tác giả dày công nghiên cứu. Đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về người Sán Dìu, cả về sách báo cũng như các tạp chí:
Cuốn Người Sán Dìu ở Việt Nam của tác giả Ma Khánh Bằng, xuất bản
năm 1983 là một bức tranh toàn cảnh về người Sán Dìu ở Việt Nam. Tác giả đã
nghiên cứu và trình bày một cách khái quát tổng thể về dân tộc Sán Dìu: từ tên
gọi, lịch sử hình thành và phát triển đến cách tổ chức đời sống, văn hóa vật chất,
văn hóa tinh thần cùng các phong tục tập quán làm nên các giá trị văn hóa riêng
của tộc người Sán Dìu ở Việt Nam. Tác giả đã khẳng định tộc người Sán Dìu là
“Một tộc người với dân số ít, tiếp thu văn hóa của nhiều dân tộc khác, song vẫn
tộc người này ở tỉnh Tuyên Quang.
Những công trình nghiên cứu trên đây cũng là một điều kiện về cơ sở lý
luận, tạo thuận lợi cho tác giả có một cái nhìn khách quan, có sự đối sánh trong
nghiên cứu những biến đổi văn hóa của người Sán Dìu ở Phú Bình – Thái
Nguyên qua phong tục cưới xin và tang ma.
Tác giả Nguyễn Thị Quế Loan cũng đã dày công nghiên cứu một khía
cạnh văn hóa của người Sán Dìu Thái Nguyên trong luận án tiến sĩ Tập quán ăn
uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên. Luận án đã trình bày về nguồn gốc
lương thực và thực phẩm truyền thống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên, cách
chế biến các món ăn, đồ uống, đồ hút truyền thống, sự tiếp thu các món ăn, đồ
uống, đồ hút của các dân tộc khác, các yếu tố xã hội trong ăn uống, những biến
đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Cùng một vấn đề trên, tác giả Nguyễn Thị Quế Loan còn có bài viết Biến
đổi trong tập quán ăn uống của người Sán Dìu tỉnh Thái Nguyên trên Tạp chí
Dân tộc học, số 2, trang 13, năm 2008.
Lê Minh Chính cũng có công trình nghiên cứu về người Sán Dìu huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên dưới góc độ y học: Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ
Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và hiệu
quả của biện pháp can thiệp.
Trên tạp chí Dân tộc và thời đại, số 89, năm 2006, hai tác giả Đàm Thị
Uyên và Nguyễn Thị Hải có bài viết Tín ngưỡng trong cư trú của người Sán
Dìu ở Thái Nguyên. Bài báo đề cập đến vấn đề tổ chức xã hội và những quan
niệm tâm linh của đồng bào Sán Dìu trong tập quán cư trú.
Tạp chí Dân tộc và thời đại số 87, năm 2006 đăng tải bài viết của tác giả
Nguyễn Thị Mai với nội dung nghiên cứu là Lễ hội cầu mùa của người Sán Dìu.
Tác giả Chu Thái Sơn, nhà nghiên cứu dân tộc học, có cuốn Dân tộc Sán
Dìu theo chương trình “Sách Nhà nước tài trợ cho thiếu nhi các trường trung
học cơ sở miền núi - vùng sâu - vùng xa”, nhà xuất bản Kim Đồng, 2011. Tác
nghi lễ vòng đời hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng
đời sống văn hóa ở cơ sở. Dựa vào đó, có những đề xuất nhằm phát huy giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp và giảm thiểu những hủ tục lạc hậu còn tồn tại
trong đời sống tinh thần đồng bào Sán Dìu.
3.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: là những biến đổi cơ bản và những
nguyên nhân gây nên sự biến đổi trong phong tục cưới xin và tang ma của
người Sán Dìu huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên hiện nay, dựa trên cơ sở so
sánh với phong tục truyền thống trước đây. Qua đó, các giá trị văn hóa trong các
nghi lễ của dân tộc, các mối quan hệ giữa con người, giữa các thành viên trong
gia đình và cộng đồng được bộc lộ rõ.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tập trung
nghiên cứu tại 2 xã có số lượng người Sán Dìu sinh sống đông nhất là Bàn Đạt
và Tân Khánh.
Về thời gian: đề tài nghiên cứu đặc trưng văn hóa trong phong tục cưới
xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên từ truyền thống đến hiện tại dưới cái nhìn đối sánh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận
Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện
chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và về văn hóa dân tộc. Theo đó, đề tài
luôn xem xét và đánh giá các sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động liên
tục trong không gian và thời gian.
Đề tài cũng kế thừa thành tựu nghiên cứu, lý luận và phương pháp luận
của các nhà dân tộc học tại thực địa.
- Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về tự nhiên và con người huyện Phú Bình –
tỉnh Thái Nguyên.
Chương 2: Truyền thống và biến đổi trong phong tục cưới xin và tang ma
của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh Thái Nguyên.
Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị trong phong
tục cưới xin và tang ma của người Sán Dìu trên địa bàn huyện Phú Bình – tỉnh
Thái Nguyên.
NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỰ NHIÊN VÀ CON NGƯỜI HUYỆN
PHÚ BÌNH – TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Thời Lý, vùng đất huyện Phú Bình ngày nay có tên gọi là huyện Tư
Nông, thuộc châu Thái Nguyên. Thời Minh, thuộc phủ Thái Nguyên. Thời Lê,
thuộc Thái Nguyên thừa tuyên, Ninh Sóc thừa tuyên.
Đầu thế kỷ XX, Toàn quyền Đông Dương đổi tên huyện Tư Nông thành
phủ Phú Bình.
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, phủ Phú Bình là một trong bảy phủ,
huyện, châu của tỉnh Thái Nguyên gồm 9 tổng, 46 xã, 7 thôn và 1 phường.
Ngày 25 tháng 3 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
ra Sắc lệnh 148/SL quy định bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận; cấp trên xã và
dưới cấp tỉnh thống nhất gọi là cấp huyện. Từ đó phủ Phú Bình gọi là huyện
Phú Bình1 [22, tr. 6].
Đến nay, huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính, bao gồm 20 xã và 1
thị trấn (Tân Khánh, Hà Châu, Tân Hoà, Đồng Liên, Lương Phú, Dương Thành,
Tân Thành, Bảo Lý, Nhã Lộng, Tân Kim, Đào Xá, Tân Đức, Xuân Phương,
yếu là đồi bát úp thoải và thấp có độ cao dưới 100m. Diện tích có độ dốc nhỏ
hơn 8o chiếm đa số (chiếm 67,56% tổng diện tích tự nhiên). Đây là điều kiện tự
nhiên thuận lợi phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lương
thực.
- Khí hậu, thuỷ văn: Do nằm ở Bắc chí tuyến, trong vành đai Bắc bán cầu
nên khí hậu của huyện mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa (Thuộc
vùng khí hậu nóng của tỉnh). Khí hậu mang đặc điểm của khí hậu trung du miền
núi Bắc Bộ lại thuộc vùng Đông Bắc nên gió mùa dễ dàng xâm nhập.
+ Nhiệt độ trung bình năm: 23,1o - 24,4oC. Nhiệt độ chênh lệch giữa
tháng nóng nhất với tháng lạnh nhất là 13,7oC.
+ Lượng mưa trung bình năm 2000 - 5000 mm, lượng mưa cao nhất vào
tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
+ Tổng số giờ nắng trong năm dao động 1.206 - 1.570 giờ
+ Độ ẩm trung bình năm: 81 - 82%
+ Gió: Mùa hè có gió Đông Nam thịnh hành. Mùa đông có gió Đông Bắc
nên thời tiết lạnh, khô. Vì thế sản xuất gặp không ít khó khăn.
Phú Bình là một huyện thuộc vùng khí hậu ấm của tỉnh thuận lợi cho sản
xuất nông, lâm nghiệp và đời sống cư dân, thuận lợi cho việc phát triển một hệ
sinh thái đa dạng bền vững nói chung và ngành nông lâm nghiệp nói riêng.
- Sông ngòi: Huyện Phú Bình có 2 con sông và 3 dòng suối chảy qua nên
nguồn nước ở đây khá phong phú.
Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình, bắt nguồn từ huyện Chợ
Đồn của tỉnh Bắc Kạn chảy qua Bạch Thông, Phú Lương, Võ Nhai rồi vòng
theo hướng Tây Bắc - Đông Nam về thành phố Thái Nguyên, trôi về Phú Bình,
Phổ Yên và chạy vào địa phận tỉnh Bắc Giang. Đoạn sông Cầu chảy qua huyện
Phú Bình có chiều dài 29 km, chảy từ đập Thác Huống (xã Đồng Liên) qua 9
xã, rồi đổ về Chã (Huyện Phổ Yên). Lòng sông rộng trung bình khoảng 120 m.
thuận tiện trong cung cấp lương thực, thực phẩm cho thị trường Thái Nguyên,
Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội nên buôn bán ở Phú Bình có vị trí đáng kể.
Huyện Phú Bình còn có một số chợ lớn nằm sát đường giao thông, đó chính là
những cầu giao lưu hàng hóa với các vùng xung quanh, như Chợ Đồn, Chợ Cầu,
chợ Tân Đức, Chợ Hanh. Thị trấn Hương Sơn ngày càng được mở rộng, dân cư
hội tụ về đây làm ăn buôn bán ngày một sầm uất.
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Phú Bình thực hiện công cuộc đổi mới
do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo (1986) qua các kỳ Đại hội
Đảng bộ huyện (Từ Đại hội XIX năm 1986 đến Đại hội lần thứ XXIV giai đoạn
2005- 2010) đã thu được nhiều kết quả trên mọi lĩnh vực và từng bước phát huy
được tiềm năng của địa phương. Năm 2011, chính quyền và nhân dân huyện
Phú Bình phải đối mặt với những thách thức trong bối cảnh khó khăn chung của
cả nước, nhưng việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện đã
đạt được những thành tựu đáng kể sau:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trên địa bàn ước đạt 11,5%.
Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 13 triệu đồng/người/năm.
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2011 tăng 3,9%, trong đó
giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng 5,2% (Do được mùa cả 2 vụ lúa, là năm có
năng suất lúa cao nhất từ trước tới nay, các cây trồng khác tương đối ổn định và
thuận lợi). Tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm đạt. Sản lượng lương thực
có hạt 75.877 tấn, tăng 3,7% so với năm 2010.
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 48,5 tỷ đồng.
Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (theo giá cố định năm
1994) ước đạt 75 tỷ đồng.
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 17.000 tấn, tăng 6,25% so với năm
2010.
Diện tích trồng rừng toàn huyện đạt 351 ha, tăng 56,5% so với năm 2010.
Giá trị sản phẩm/1ha đất nông nghiệp trồng trọt (theo giá thực tế) ước đạt
thông trên địa bàn cơ bàn đã được xây dựng kiên cố.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân: Bệnh viện huyện đang tiếp
tục được đầu tư cơ sở vật chất; 100% các trạm y tế cấp xã có bác sỹ, cơ sở vật
chất, y dụng cụ được tăng cường; đội ngũ cộng tác viên Dân số - kế hoạch hoá
gia đình và cán bộ y tế thôn bản được bố trí ở hầu hết các xóm, tổ dân phố. Do
đó, cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân.
Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 21,4%.
Tỷ lệ số hộ dân cư ở nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt
75%.
Đảm bảo an ninh trật tự xã hội và công tác quân sự địa phương, hoàn
thành 100% các chỉ tiêu đề ra.
Cơ sở hạ tầng: Hệ thống giao thông được quan tâm đầu tư, dự án cải tạo
nâng cấp Quốc lộ 37 đã hoàn thành, các tuyến đường liên xã được đầu tư mở
rộng và nhựa hoá: Tuyến đường Cầu Mây - Tân Kim - Tân Khánh, Cầu Mây Đồng Liên, tuyến đường Úc Sơn - Tân Thành - Hợp Tiến và có nhiều tuyến
đường đang được thi công và chuẩn bị đầu tư xây dựng. Cơ sở vật chất trường,
lớp học, bệnh viện, trạm xá tiếp tục được quan tâm đầu tư. 100% số xóm có
điện lưới quốc gia để sử dụng phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Đây
là điều kiện thuận lợi để khơi dậy tiềm năng, thế mạnh, thúc đẩy kinh tế của các
xã miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và phát triển.
Hệ thống giao thông trên địa bàn Phú Bình tương đối dày đặc. Quốc lộ 37
từ thành phố Thái Nguyên chạy qua suốt chiều dài của huyện đến thị xã Bắc
Giang. Quốc lộ 38 từ Điềm Thụy qua Hà Châu, Kha Sơn đi Nhã Nam (Bắc
Giang). Ngoài 2 tuyến quốc lộ trên, Phú Bình còn có 120 km đường liên xã, 198
km đường liên thôn, đảm bảo cho xe ô tô đi lại thuận tiện đến các thôn, xã trong
huyện.
Tình hình an ninh - trật tự: Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội trên địa bàn huyện luôn ổn định, nhân dân các dân tộc thiểu số trong huyện
tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền. Các xã Tân
kí ức của họ nỗi bi thảm và hãi hùng. Nhưng quá trình vào chung sống với các
dân tộc ở Việt Nam thì đồng bào còn nhớ rõ.
Trong tác phẩm "Người Sán Dìu ở Việt Nam" của Ma Khánh Bằng có viết
"Vào Việt Nam, người Sán Dìu đã vượt dãy Hoàng Chúc Cao Sơn tới Hà Cối,
Tiên Yên rồi toả đi các nơi. Một bộ phận đã dọc theo bờ biển đến Đầm Hà, Móng
Cái, Hoành Bồ, Mạo Khê, Đông Triều và một số nhỏ đi sang Chí Linh (Hải
Dương). Còn phần lớn đã theo dãy Yên Tử để vào Lục Nam, Lục Ngạn, Lạng
Giang, Yên Thế (Bắc Giang) rồi lại từ đó chuyển lên Vĩnh Yên, Phúc Yên (Vĩnh
Phúc), Tuyên Quang (Hà Tuyên), Thái Nguyên (Bắc Thái). Như vậy người Sán
Dìu đã cư trú trên suốt một dải bán sơn địa rộng lớn từ tả ngạn sông Hồng trở về
phía Đông. Ngoài những cư dân sống tập trung trong một số xã thuộc các huyện
Bắc Giang cũ, đại bộ phận còn lại sống bao quanh phía Đông - Nam và Đông Bắc dãy Tam Đảo, thuộc phần đất các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Tuyên và Bắc Thái
ngày nay" [2, tr 17].
Phú Bình là huyện tập trung nhiều dân tộc khác nhau cùng sinh sống:
người Hoa, Tày, Nùng, Sán Chay, Dao, Hmông... Dân số của huyện Phú Bình,
tỉnh Thái Nguyên theo tổng điều tra dân số 01/04/2009 là 134.150 người, trong
đó người Sán Dìu là 3.115 người, chiếm 2.3% dân số toàn huyện2.
Bảng 1.1: Dân số huyện Phú Bình chia theo dân tộc, giới tính và khu
vực thành thị, nông thôn
Dân tộc
Tổng số
Tổng
%
Thành thị
0
259
892
394
617
777
Tổng số
Nam
126 756 62
Nữ
64 114
642
Chia ra
1.Kinh
12418
2.Tày
1804
1.34
962
842
61
33
28
1 743
929
3.Nùng
4594
3.42
2 361
2 233 108
3
16
2
0
2
17
3
14
6.Dao
103
0.08
29
74
3
1
8.Hoa
207
0.15
123
84
0
0
0
207
123
84
102
0.08
37
65
nhân dẫn đến những biến đổi trong việc thực hành hai phong tục ấy hiện nay
của đồng bào.
Bảng 1.2: Dân số người Sán Dìu ở huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên
STT
Tên xã
Tổng số hộ
(hộ)
Tổng số
khẩu
Dân số Sán
Dìu
(người)
(người)
Tỉ lệ người Sán D
(%)
1
Đồng Liên
1104
Tân Kim
1774
7646
21
5
Tân Thành
1293
5472
5
6
Tân Hoà
1962
8289
8
7
Kha Sơn
2049
7747
4
11
Lương Phú
1078
4001
9
12
Bảo Lý
1575
6540
33
13
Thanh Ninh
1235
4410
6
17
Hà Châu
1358
2538
2
18
Thượng Đình
2104
8509
6
19
Tổng cộng
35.233
139.102
2.745
Nguồn: Kết quả tổng hợp phiếu điều tra dân tộc thiểu số huyện Phú Bình
của UBND huyện Phú Bình, Phòng dân tộc, năm 2011.
1.3.2. Tổ chức xã hội
Quan hệ làng bản:
Ở huyện Phú Bình, làng bản người Sán Dìu được lập ở những bãi đất
bằng phẳng, những thung lũng nhỏ hoặc chân những quả đồi thấp và chú ý đến
các tiêu chí nhất định sau:
Thứ nhất là phải tựa lưng vào đồi núi hoặc các dải đất cao, phía trước
thoáng đãng, bằng phẳng. Với người Sán Dìu, ngoài sự lựa chọn mang tính tự
nhiên, còn có ảnh hưởng của thuật phong thủy Trung Hoa. Sinh sống ở vùng
Trung châu - bán sơn địa, dựa lưng vào đồi núi và nhìn ra thung lũng họ vừa có
thể khai khẩn ruộng nước vừa có thể làm nương rẫy và tận dụng được các
nguồn lợi tự nhiên do rừng mang lại. Còn theo thuật phong thủy, người ta tin
rằng mỗi thôn làng, cũng như mỗi ngôi nhà, ít nhất cũng đều cần có điểm tựa để
gối (chẩm). Trong trường hợp hai bên có “tay ngai”, phía trước có “án” (cũng
đều là những trái núi), thì được coi là “đắc địa”, thôn làng có thể “ăn nên làm
ra”.
Thứ hai là phải gần các nguồn nước tự nhiên (Sông suối, ngòi lạch, ao
đầm, thuận tiện cho việc sản xuất và sinh hoạt. Xưa kia, người Sán Dìu không
đào giếng, vì vậy sông suối, ngòi lạch, ao đầm cũng chính là nguồn cung cấp
người trong họ cũng mời tộc trưởng đến chủ trì các nghi lễ trong ma chay, cưới
xin và hãn hữu lắm cũng có người mời tộc trưởng đến để chứng kiến việc chia
tài sản cho con cái [17, tr.23].
Trong quan hệ hôn nhân của người Sán Dìu, đồng bào đặc biệt coi trọng
nguyên tắc ngoại tộc hôn, người trong họ không được phép lấy nhau. Do đó,
vấn đề dòng họ luôn được người Sán Dìu chú trọng và dạy bảo con cháu mình.
Quan hệ gia đình:
Từ trước Cách Mạng tháng Tám, người Sán Dìu đã chuyển sang chế độ
gia đình nhỏ phụ hệ, song tinh thần gia tộc vẫn tồn tại mạnh mẽ. Người tộc
trưởng của người Sán Dìu không có uy quyền trong dòng họ. Tuy nhiên người
trong họ vẫn mời tộc trưởng đến chủ trì trong các nghi lễ tang ma. Trong gia
đình, người cha hoặc người chồng có quyền định đoạt mọi việc. Người con trai
trưởng được tôn trọng gần ngang với người bố. Chỉ có những người con trai
mới có quyền thừa hưởng tài sản của cha mẹ. Giữa bố chồng và con dâu, anh
chồng và em dâu có sự cấm kỵ rất nghiêm ngặt. Con dâu muốn đưa con cho bố
chồng hoặc anh chồng bế hộ cũng không được đưa trực tiếp mà phải đặt bé
xuống giường rồi bố hoặc anh chồng mới bế. Bố chồng và anh chồng cũng
không bao giờ được vào buồng con dâu, kể cả khi con dâu không có mặt trong
buồng. Địa vị người con gái trong gia đình thấp kém, không có quyền thừa kế
tài sản cha mẹ, trừ trường hợp gia đình không có con trai, con gái lấy chồng và
ở rể thì mới được hưởng của cha mẹ. Hôn nhân người Sán Dìu là chế độ một vợ
một chồng. Nhưng vì trọng nam khinh nữ nên nếu không có con trai hoặc không
có con người chồng thường lấy thêm vợ lẽ.
1.3.3. Văn hóa mưu sinh
Có thể nói, cũng như các dân tộc khác cư trú trên địa bàn huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên, cộng đồng người Sán Dìu đã biết dựa vào thiên nhiên,
khai thác tự nhiên để duy trì cuộc sống và phát triển cộng đồng của mình. Địa
hình, khí hậu, đất đai, chế độ mưa nắng, thuỷ văn… của vùng miền núi trung
suất gấp nhiều lần vun bằng cuốc. Để cắt, gặt lúa họ có vằng (vố lém) và hái
nhắt, gần đây có thêm liềm. Ngoài ra còn có trục làm đất (môc lôc), xẻng, dao
quắm, xe quệt, gầu tát nước…
Về chăn nuôi: Chăn nuôi của người Sán Dìu khá phát triển. Trong truyền
thống, họ chăn nuôi chủ yếu để nhằm đáp ứng nhu cầu về sức kéo, thực phẩm
cho các cuộc ma chay, cưới hỏi, tế lễ… thì ngày nay, chăn nuôi đã phần nào
chuyển dần sang mục đích hàng hoá. Tỷ trọng thu nhập từ chăn nuôi ở các gia
đình Sán Dìu ngày càng tăng dần. Để thực hiện mục đích đó, phương thức chăn
nuôi theo kiểu bỏ dài, thả rông xưa kia đã dần được thay thế bằng việc chăn
nuôi có quy hoạch, chuồng trại, cho ăn đầy đủ, và áp dụng các biện pháp phòng
chống bệnh dịch cần thiết.
Về thủ công gia đình: Sán Dìu là tộc người có truyền thống làm sợi, dệt
vải, làm cao chàm, rèn, làm giấy, đan lát, làm đồ mộc…Các sản phẩm thủ công
chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất trong gia đình, đôi khi được đem đi để
trao đổi hàng lấy hàng hoặc mua bán trong vùng.
1.3.3. Văn hóa vật chất
Ẩm thực: Ẩm thực của người Sán Dìu về cơ bản vẫn dựa trên cơ sở của
nền văn minh thực vật. Hàng ngày, người Sán Dìu chủ yếu ăn cơm tẻ, rau luộc,
rau xào, canh. Thông thường các dân tộc ăn cơm là chính, nhưng với người Sán