TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
------------------------
TRẦN CHÚC LY
MSSV: 6095868
SO SÁNH NGUYÊN TÁC VÀ BẢN DỊCH THƠ
MỘT SỐ BÀI THƠ TRONG
TẬP NHẬT KÝ TRONG TÙ CỦA HỒ CHÍ
MINH
Luận văn tốt nghiệp Đại học
Ngành Ngữ Văn
Cán bộ hướng dẫn: ThS.GVC. LÊ THỊ NGỌC BÍCH
Cần thơ, 2013
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1.2.1.Các mối quan hệ trực tiếp
2.1.1.2.2. Các hiện tượng tương đồng
2.1.1.2.3.Các hiện tượng khác biệt độc lập
2.1.2. Chức năng của văn học so sánh
2.1.3. Vị trí của văn học so sánh trong bối cảnh khoa học và văn hóa
ngày nay
2.2. Đôi nét tình hình dịch thơ chữ Hán ở Việt Nam
2.3. Những thuận lợi và khó khăn trong việc dịch thơ chữ Hán
2.4. Nguyên nhân bản dịch thơ mất chữ, mất ngữ và thoát nghĩa
so với nguyên tác
Chương 3: SO SÁNH NGUYÊN TÁC VÀ BẢN DỊCH THƠ
MỘT SỐ BÀI THƠ TRONG TẬP NHẬT KÝ TRONG TÙ CỦA
HỒ CHÍ MINH
3.1. Ưu điểm chung của các bản dịch
3.2. Một số nhược điểm của các bản dịch
3.2.1 Bài thơ Quyển đầu
3.2.2. Bài thơ Nạn hữu xuy dịch (Người bạn tù thổi sáo)
3.2.3. Bài thơ Vọng nguyệt (Ngắm trăng)
3.2.4. Bài thơ Phân thủy (Chia nước)
3.2.5. Bài thơ Tẩu lộ (Đi đường)
3.2.6. Bài thơ Mộ (Chiều tối)
3.2.7. Bài thơ Tảo giải (Giải đi sớm)
3.2.8. Bài thơ Lộ thượng (Trên đường)
3.2.9. Bài thơ Lai Tân (Lai Tân)
3.2.10. Bài thơ Vãn cảnh (Cảnh chiều hôm)
3.2.11. Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm (Cảm tưởng đọc “Thiên
gia thi”)
chính quyền Tưởng Giới Thạch giam giữ, Người đã cho ra đời tập thơ Nhật ký trong
tù. Đây là một tập thơ nhưng lại không hẳn là thơ, nói một cách chính xác thì đây là
một tập nhật ký bằng thơ. Bởi vì tính chất đặc biệt đó mà trong quá trình dịch thơ từ
Hán văn sang Việt văn nhiều dịch giả đã gặp không ít khó khăn do nhiều điều kiện.
Chính vì lẽ đó, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: So sánh nguyên tác và bản dịch
1
thơ một số bài thơ trong tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh. Về nội dung thì đây là
một đề tài không mới nhưng chúng tôi đang cố gắng để thực hiện nó trên cơ sở kế thừa
nghiên cứu của các công trình đi trước, nhưng có hoàn thiện và đi sâu làm rõ những
vấn đề còn tồn đọng từ lâu, nhằm đi đến một cách hiểu hoàn chỉnh nhất có thể về tập
thơ của Hồ Chí Minh.
2. Lịch sử vấn đề
Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã được dịch (bản dịch đầu tiên vào 5 - 1960), giới thiệu và xuất bản nhiều lần, bằng
nhiều thứ tiếng, dưới nhiều hình thức khác nhau. Bên cạnh đó, có nhiều công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập về toàn bộ tác phẩm, bao
gồm cả những công trình có chỉnh lí, sửa chữa nhiều lần. Nhật ký trong tù là một tác
phẩm văn học độc đáo đã trở thành nguồn cảm hứng đối với nhiều nhà thư pháp trong
nước và nước ngoài, các nhà lịch sử và đặc biệt là các nhà nghiên cứu văn học, đã có
nhiều hội thảo khoa học về Nhật ký trong tù, các công trình nghiên cứu nhiều tâm
huyết của các tác giả về vấn đề dịch tác phẩm.
Những công trình đó đều nói đến giá trị đặc biệt về nội dung, tư tưởng và nghệ
thuật diễn tả và kể cả những điều về vấn đề dịch tác phẩm. Trong đề tài này, chúng tôi
xin được nêu một số công trình cũng như những bài viết xoay quanh vấn đề dịch tác
phẩm. Đó là những bài viết: Bản dịch nhật ký trong tù dưới ánh sáng tiếp nhận của hai
tác giả Nguyễn Vũ Cư và Nguyễn Huệ Chi được in trong cuốn Suy nghĩ mới về Nhật
ký trong tù, Thử đi vào chỗ tinh vi của nguyên tác và bản dịch Nhật ký trong tù của Lê
Ngoài ra, bài viết còn nêu lên những khó khăn trong quá trình thực hiện bản
dịch của các dịch giả. Đầu tiên là việc trước đó chưa có một thể nghiệm chuyển từ
hình thức chữ Hán cổ pha Bạch thoại sang hình thức thơ Việt kiểu mới trên thi đàn thơ
dịch, nhất là thơ dịch Hán - Việt để làm tiền lệ. Và thực tế đó đòi hỏi các dịch giả phải
chọn một phương thức phù hợp ? Các dịch giả đã lựa chọn phương thức: mã Đường
luật xen Bạch thoại trong nguyên tác được chuyển thành hai mã thơ chủ yếu trong bản
dịch là lục bát và luật đường. Với lựa chọn này, những trợ từ của cú pháp bạch thoại
trong nguyên tác đều bị lượt bỏ; do yêu cầu hiển nhiên của hai mã thơ lục bát và luật
đường là cô đúc từ ngữ đến mức khắt khe, lại phải có cấu trúc, thanh âm cân đối, nhịp
nhàng [3; tr243]. Có thể cách lựa chọn phương thức dịch như vậy sẽ có lúc ít nhiều
làm cho bản dịch thơ mất đi phần chắc khỏe của nguyên văn, hay có lúc làm cho
những câu thơ không bóng bẩy trở nên thanh thoát hơn. Nhưng điều quan trọng là phải
giữ và tôn lên được chất thơ vốn có trong nguyên tác. Bài viết cũng cho chúng ta thấy
rằng, bản dịch Nhật lý trong tù còn phải lột tả được phong cách ngôn ngữ của tập thơ
trong yêu cầu thống nhất với phong cách ngôn ngữ con người Hồ Chí Minh. Có làm
được việc ấy thì mới có thể có được một bản dịch sát với tinh thần nguyên tác. Nguyên
3
nhân của sự khó khăn ấy là do, thế hệ bạn đọc lúc bấy giờ đã khá thân thuộc với Bác,
việc dịch sát từng chữ từng câu trong nguyên tác chưa hẳn đã nắm được ngôn từ của
Người. Và cách giải quyết mà các dịch giả lựa chọn là hợp lí: dịch làm sao để đảm bảo
rằng trang nhã mà dung dị, giản dị mà uyên súc.
Các tác giả cũng đề cập trong bài viết rằng những công thức giáo điều về lý
luận đang trói buộc tầm nhìn của chúng ta, làm hạn chế tư tưởng của người dịch.
Ngoài ra, sự so le nhiều mặt về chủ thể tác giả và người tiếp nhận trong đó có người
dịch cũng là một vấn đề ảnh hưởng đến cách dịch. Tất nhiên trong khuôn khổ tầm nhìn
của thế hệ năm 60 không thể đòi hỏi một sự toàn diện hơn, yêu cầu bổ sung, chỉnh lý
cho phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của những người sau năm 60 là một yêu cầu cần
thiết.
thơ được ông so sánh về mặt câu chữ giữa nguyên tác và bản dịch. Đặc biệt trong số
ấy có bài Ngưới bạn tù thổi sáo, tuy dịch chưa sát nhưng cái cảm giác ngóng trông,
thương nhớ dằng dặc, mênh mông trong bản dịch thì cũng không thua gì so với nguyên
tác [9; tr.127]. Tuy vậy, cái chưa tốt vẫn phải được nói đến, đặc biệt là hai chữ vi vu
được thêm vào, rõ ràng hai chữ ấy làm hỏng đi không khí trong veo của bài thơ, âm
thanh này thật không phù hợp. Và trước hết theo Lê Trí Viễn: “Ở đây là người trong
ngục nghe người trong ngục: người thổi sáo nhớ nhà, người nghe thổi sáo cũng nhớ
nước, hai người có chung một tâm sự tư hương” [9; tr.127]. Rõ ràng chẳng có một
nhân vật thứ 3 hiển hiện nào ở tại ngục với 2 người tù, có chăng chỉ là hình ảnh người
khuê phụ do Bác tưởng tượng ra mà thôi, vậy thì làm sao có thể dịch là vi vu. Vi vu là
một từ miêu tả, nó thật không phải là ý tưởng mà nguyên tác hướng tới - chỉ nặng về
gợi chứ không tả.
Đó là một số ví dụ về bài viết của Lê Trí Viễn. Các nhận xét của tác giả trong
bài viết này có độ sâu và bao quát trong phân tích, đánh giá, là những tư liệu quý báu
cho những ai tìm hiểu tập thơ.
- Bài viết Nguyên tác và bản dịch Nhật ký trong tù - những câu chuyện nhỏ của
tác giả Hoàng Quảng Uyên cũng đã đề cập đến vấn đề bản dịch ở một số bài thơ.
Trong bài viết tác giả có nêu lên một số điểm chú ý về cách giảng dạy một số bài thơ
trong tập thơ của chương trình phổ thông. Tác giả đã nêu lên những sự sai lệch về cách
hiểu một số từ ngữ trong bài thơ, mà có lẽ nguyên nhân không phải ở trình độ hiểu biết
của các dịch giả mà nằm ở thái độ kiêng dè, né tránh vì những lí do về chính trị mà
bản thân họ cho là tế nhị, khó nói. Chính điều này đã làm cho bản dịch thơ trở nên sai
lệch về ý nghĩa, tạo ra sự mập mờ không đáng có, so với một nguyên tác rất rõ ràng
mà tinh tế của Hồ Chí Minh. Đơn cử là bài thơ Lai Tân, bản dịch năm 1960 của Nam
Trân. Bài thơ này, theo tác giả để giảng cho đúng, tuy khó mà dễ.
5
Trong bản dịch nhà thơ Nam Trân đã dịch chữ thiêu đăng (đốt đèn) thành
khả năng, phần đóng góp của đề tài là rất nhỏ so với các tác giả ấy. Tuy nhiên, chúng
tôi cũng mong đem một chút sức lực nhỏ bé của mình để tìm tòi, đi sâu và sát hơn với
6
bản dịch của một số bài thơ trong tập Nhật ký trong tù và nguyên tác, nhằm phát hiện
ra những vấn đề còn tồn đọng nhiều năm nay để đi đến hiểu đúng tinh thần cũng như ý
niệm của Bác gửi gấm trong những bài thơ ấy.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn đề tài của mình tôn vinh, trân trọng những
đóng góp to lớn của các tác giả, dịch giả trong việc đưa tập Nhật ký trong tù đến gần
với độc giả. Bởi những đóng góp của họ đã mang lại nhiều hiểu biết sâu rộng, đầy đủ
về tập thơ. Tuy vậy, do nhiều yếu tố, cả khách quan và chủ quan, bất cứ một tác phẩm
dịch nào cũng có những phần, những điểm chưa sát, chưa đúng với nguyên tác cho nên
việc đưa ra so sánh trong đề tài cũng chỉ nhằm đưa đến những cách hiểu hợp lí nhất
trong một điều kiện nhất định. Và mục đích cuối cùng vẫn là nhằm hướng công chúng
yêu thơ, yêu con người Bác có những cảm nhận thật đúng, thật sát với tư tưởng của
Bác trong những bài thơ ấy.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nhật ký trong tù là một tác phẩm lớn, có đến 134 bài thơ (bao gồm cả bài thơ
không có tựa, được xem là bài thơ đề từ cho tập thơ). Việc tìm hiểu tất cả những bài
thơ hay tất cả những điểm đáng chú ý ở rất nhiều bài thơ là một điều có thể nói là quá
sức. Cho nên, ở đây, trong phạm vi của đề tài chúng tôi sẽ tìm hiểu những điểm nổi
bật, những điều được nhiều người bàn luận, và những vấn đề cần được làm rõ trong
một số bài thơ, cụ thể là 11 bài thơ.
Bên cạnh đó, trong quá trình tìm hiểu chúng tôi sẽ có sự liên hệ trong hệ thống
toàn tập thơ, kèm theo một số tác phẩm có liên quan của Hồ Chí Minh và một số tác
phẩm của các tác giả khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cốt (Giáp Cốt Tự - 甲骨字), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân - 殷 vào khoảng thời
1600-1020 trước Công Nguyên. Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh
xương thú vật và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được. Chữ Giáp Cốt
tiếp tục được phát triển qua các thời: Nhà Chu - 周朝 (1021-256 TCN) có chữ Kim
(Kim Văn - 金文), là chữ viết trên các chuông bằng đồng và kim loại. Chiến Quốc 戰國 (403-221 TCN) và thời nhà Tần - 泰朝 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện
và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư - 隸書). Nhà Hán - 漢朝 (Tiền Hán 206 TCN-8
CN, Hậu Hán 25-220) có chữ Khải (Khải Thư - 楷書).
Chữ Khải còn có thể được chia thành chữ Hành (Hành Thư - 行書) và chữ
Thảo (Thảo Thư - 草書). Chữ Khải là loại chữ được dùng bút lông chấm mực tàu viết
trên giấy và rất gần với hình dáng chữ Hán ngày nay vẫn còn được dùng ở Nhật, Đài
Loan hay Hồng Kông. Chữ Thảo là loại chữ được viết bằng bút lông có lược bớt hoặc
ghép một số nét lại. Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ có thể được minh họa
bằng một số chữ sau:
Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện (Tiểu Triện) → Chữ Lệ → Chữ Khải →
Chữ Thư (chữ Thảo → chữ Hành).
Ngày nay chữ Hán ở Trung Quốc đã có xu thế được giản lược đơn giản hơn và
ở Trung Quốc còn sử dụng hai loại chữ: chữ Chính thể (正體字) và chữ Giản thể
(簡體字).
Khi đề cập đến vấn đề nguồn gốc chữ Hán (thời điểm ra đời của chữ Hán) có
rất nhiều nguồn cứ liệu để tham khảo và mỗi người sẽ có một cách nhìn từ nhiều góc
độ khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi xin được đơn cử ra hai cách nhìn nhận về
9
nguồn gốc chữ Hán: nguồn gốc chữ Hán nhìn từ góc độ thư pháp và nguồn gốc chữ
Hán nhìn từ góc độ tổng hợp về văn tự học. Hai quan điểm này dựa theo giáo trình
Hán Nôm của Huỳnh Văn Minh và bài giảng Hán Nôm 1 của Tạ Đức Tú được dẫn
theo luận văn Khảo sát văn bản Tây qua truyện trong Lĩnh nam chích quái của Trần
Thế Pháp của Lê Văn Khánh [8, tr.5].
nét viết của chữ ấy ứng với khí cụ tạo ra nó và đặt nó vào một giai đoạn lịch sử. Do
vậy mà tính giải thích văn tự của nó cao hơn hẳn tính khoa học cần thiết.
* Theo Hứa Thận
Theo Hứa Thận (許慎) trong Thuyết văn giải tự (說文解字) cho rằng chữ Hán
ra đời bởi Sử quan Thương Hiệt (倉頡) đời Hoàng Đế (黃帝): “Nhìn dấu chân chim
mà đặt ra Thư Khế”. Đến đời Chu Tuyên Vương (周宣王), Thái Sử Trụ (太使紂) viết
15 thiên Đại triện (大篆), đem so với Thư Khế (書契) thì đã khác nhiều. Đến thời
Chiến Quốc (國), chư hầu dùng sức trị nhau, bảy nước tranh hùng vương bá (Thất
hùng: 七雄). Từ đó ngôn ngữ khác thanh, văn tự khác hình. Chẳng hạn, ngôn ngữ Sở
phương Nam trong Li Tao (離騷) của Khuất Nguyên (屈原) khác xa ngôn ngữ Tề
(齊), Yên (燕), Triệu (趙),… phương Bắc còn lưu lại trong tản văn. Sau khi Tần Thuỷ
Hoàng Đế (秦始皇帝) thống nhất Trung Nguyên, Thừa tướng Lý Tư (李斯) tâu xin
thống nhất văn tự để quản lí nhà nước một cách thống nhất. Quan Thái sử Hồ Mẫn
Sinh viết Bác học thiên lấy chữ từ Đại Triện, có thay đổi chút ít gọi là Tiểu Triện. Khi
Tần Thuỷ Hoàng thực hiện chính sách “Phần thư khanh nho” (焚書坑儒) (đốt sách và
chôn sống học trò) cùng với công việc xây Vạn Lí Trường Thành (萬里長城), công
việc bề bộn nên người ta tạo ra chữ Lệ cho giản tiện. Chữ Triện mất hẳn, nhà Hán lên
và ra đời chữ Thảo (Thảo Thư: 草書).
Cũng theo Hứa Thận, trong thời gian “Chữ viết dị hình” là do nét bút thay đổi
của các vùng phù hợp tính cách bản xứ. Vì vậy, sự khác hình của văn tự Hán giữa các
thờin kì thực ra là sự thay đổi nét bút cho giản tiện. Nên các chữ Triện, Lệ, Chân,
Hành, Thảo (篆, 隸, 真, 行, 草) chỉ là một.
* Theo khảo cổ học
Theo khảo cổ học, tức theo những gì còn lại của chữ Hán trong khảo cổ mà suy
đoán thì chữ Hán bao gồm: Giáp cốt văn (甲骨文 - Giai đoạn vẽ hình sơ đẳng), Kim
văn (金文) hay còn gọi là chữ Chung Đỉnh (Chung đỉnh văn - 鐘鼎文), giai đoạn vạch
đường thẳng), Tiểu Triện, Lệ Thư, Khải Thư, Thảo Thư, Hành Thư và Giản Thể tự (简体字: chữ giản thể, Gọi chung là giai đoạn viết chữ thành nét).
11
thể chữ ở các nước chư hầu.
12
Tiểu triện: Đến đời Tần (Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Nguyên năm 221207 TCN), do tạo cách viết thống nhất từ lối viết Đại triện trước đó, có thay đổi
chút ít nên gọi là Tiểu triện hay Tần triện. Chữ Tiểu triện là chuẩn mực chữ viết
trên toàn quốc từ đời Tần. Và công cuộc thống nhất văn tự này đã có tác dụng
lớn cho việc quy phạm hoá hoàn toàn văn tự Trung Quốc vào đời Hán - 漢朝
(206 TCN - 220).
Lệ thư: dạng chữ bắt đầu vào cuối đời Tần, thông dụng vào đời Hán nên còn có
tên là Hán Lệ - 漢隸. Giai đoạn đầu chữ Lệ khá gần với Tiểu triện, sau các nét
mác, lượn sóng tăng dần và trở thành đặc trưng của chữ Lệ; chữ Lệ đã vuông và
có những nét cố định. Chữ Lệ thông dụng từ đời Hán đến thời Tam Quốc 三國 (220-265), chữ Lệ là cơ sở của chữ Khải giai đoạn sau.
Khải thư: dạng chữ bắt đầu xuất hiện vào gần cuối đời Hán và lưu hành mãi
cho đến ngày nay. Vì chữ Khải được viết trong ô vuông quy ước ngay ngắn,
cân đối, nét viết thẳng đẹp - ngang bằng sổ thẳng - đáng coi là chuẩn mực nên
còn có tên là Chính thư hay chân phương, rõ ràng cũng gọi là Chân thư. Chữ
Chân sau trở thành tên gọi của chữ Khải, và người ta cũng dựa vào chữ Chân để
đếm nét của chữ. Do chữ Chân này xuất hiện vào đời Hán (thời đại thống nhất
Trung Nguyên với cục diện quốc gia hoàn chỉnh và lâu dài) khi mà dân tộc
sống trên đất nước Trung Hoa xưng là Hán tộc và chữ viết dùng được gọi chung
là chữ Hán (漢字: Hán tự). Khi chữ Hán truyền sang Việt Nam (bắt đầu từ nhà
Hán) vẫn được gọi là chữ Hán.
Thảo thư: Thảo thư thực chất cũng là chữ Khải, và sớm hơn cả chữ Khải, nó là
biến thể chữ Lệ theo lối viết nhanh nên còn gọi là Thảo lệ. Khi chữ Khải hoàn
thiện, nó thoát li hẳn chữ Lệ và viết chữ Khải theo lối viết nhanh (Giản lược
một số nét liền nhau, rườm rà, bộ thủ vay mượn lẫn nhau, cốt cho ngắn gọn để
viết nhanh). Vào đời Đường - 唐朝 còn xuất hiện một lối viết chữ rất khó đọc,
xuất phát từ chữ Thảo - 草書, gọi là Cuồng thảo - 狂草, (chữ thảo viết điên
cuồng) của Hoài Tố - 懷素 (khoảng 730-780).
và Hình thanh. Thuyết văn giải tự được biên soạn trong 22 năm (99-221) gồm 15 tập,
chia thành thượng - hạ và giải thích được 9.353 chữ. Từ đó đã có khá nhiều nhà nghiên
cứu về Lục thư - nghiên cứu chữ Hán. Khảo qua lịch sử nghiên cứu đó, chúng tôi thấy
có khá nhiều cách sắp xếp và tên gọi của chúng không thống nhất. Và nhận thấy rằng
nếu xét Lục thư như là lịch sử hình thành chữ Hán thì cách sắp xếp của Ban Cố (Tác
giả sách Hán thư) là hợp lí nhất, bao gồm: Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Hình thanh,
Chuyển chú, Giả tá (tên gọi các loại chữ trùng với Hứa Thận).
Lục thư theo Thuyết văn giải tự cắt nghĩa là sáu phép cấu tạo chữ Hán. Lục thư
thực chất là cách phân loại chữ Hán để dạy chữ Hán. Vì vậy Lục thư vừa có tác dụng
14
giải thích kết cấu chữ Hán, vừa có tầm khái quát thực tế trong việc tạo ra và sử dụng
chữ Hán. Lục thư là cách cấu tạo ra chữ Hán (tính chất), đồng thời cũng thể hiện quá
trình tiến hoá của chữ Hán (lịch sử). Trong đó, Tượng hình, Chỉ sự, Hội ý, Hình thanh
là phép tạo chữ, còn Chuyển chú và Giả tá là phép dùng chữ.
Tượng hình - 象形: Là những chữ mô tả lại hình tướng cụ thể của sự vật. Cách
tạo chữ này hình thành sớm nhất và là “chất liệu” để tạo nên các loại chữ khác
theo các phép khác nhau. Và theo Hứa Thận thì: “Tượng hình giả, họa thành kỳ
vật, tùy thể cật khuất, nhật nguyệt thị dã” nghĩa là, “Chữ tượng hình là chữ vẽ
thành các vật căn cứ theo hình thể của nó, như chữ nhật, chữ nguyệt”.
Ví dụ: Muốn chỉ mặt trời, Trung Hoa vẽ
trăng, Trung Hoa vẽ
sau thành chữ 日; Muốn chỉ mặt
(người Ai Cập vẽ khác một tí
), sau thành chữ 月.
Mộc. Còn chữ Minh - 鳴 (kêu, hót) được hình thành bằng cách ghép chữ Điểu 鳥 (con chim) bên cạnh chữ Khẩu - 口 (miệng); chữ Thủ - 取 (cầm, nắm) được
hình thành bằng cách chữ Nhĩ - 耳 (tai) của động vật với tay (chữ Thủ - 手, chữ
Hựu - 又). Những chữ được tạo thành theo phương pháp ghép như trên gọi là
chữ Hội Ý. Hội Ý có nghĩa là ghép các ý nghĩa với nhau tạo thành ý nghĩa
chung. Cũng theo Hứa Thận, “Hội ý giả, tỉ loại hợp nghi, dĩ kiến chỉ vi, võ tín
thị dã”có nghĩa là Hội ý là chữ “hợp ý của các phần để tạo được nghĩa, thấy
như chữ võ (武), chữ tín (信)”. Chữ Hội ý gồm: Những chữ giống nhau được
ghép lại để biểu thị sự gia tăng chất và lượng: ví dụ 炎 - viêm: nóng, phương
cách này gọi là Chính lệ.
Chữ Hội ý: Ghép những chữ khác nhau nhằm biểu thị một nghĩa mới, hoặc hàm
ý giải thích tự như: 劣 - liệt: yếu kém (少 - thiểu: ít và 力 - lực: sức; gộp chung
nghĩa là sức rất yếu - liệt); hoặc biểu thị quan hệ hỗn hợp (女 - nữ: nữ giới hợp
với 子 - tử: con - thành 好 - hảo: tốt).
Chữ Hội ý: Kết hợp tự bằng cách bớt nét của một trong những thành tố gọi là
Biến lệ, ví dụ: 孝 - hiếu: lòng hiếu (老 - lão: già và 子 - tử: con). Chữ tử thay
vào phần dưới của chữ lão.
Hình thanh - 形聲: Là biện pháp phổ biến nhất để tạo chữ. Tượng hình là chữ
kết hợp được chức năng biểu ý và biểu âm. Nó gồm hai bộ phận: Bộ phận chỉ ý
là Hình, Bộ phận âm đọc là Thanh.
16
Chữ Hình thanh (形聲文字): Cùng với những chữ Tượng hình, Chỉ sự và Hội
ý, có nhiều phương pháp tạo nên chữ Hán, nhưng có thể nói là đa số các chữ
Hán được hình thành bằng phương pháp hình thanh, gọi là chữ Hình thanh
(形聲文字). Chữ Hình thanh chiếm tới 80% toàn bộ chữ Hán. Chữ Hình thanh
là những chữ bao gồm hai phần: phần hình (形) là phần biễu diễn ý nghĩa chính
mà đã được dùng từ lâu đời, và phần thanh (声) là phần biểu diễn cách phát âm
chính xác của từ đó. Ví dụ, chữ Khẩu -口 có hình biểu diễn việc ăn hoặc nói, và
mượn mà có như vậy gọi là Giả tá.
Giả Tá (cũng gọi là văn tự giả tá: 假借文字): Những chữ được hình thành theo
phương pháp bằng cách mượn chữ có cùng cách phát âm được gọi là chữ Giả tá
(假借文字). Cách cấu tạo này, giả tá có thể được dùng ghi lại danh từ, động từ,
tính từ, phó từ, đại từ, liên từ, số từ,… trong phân từ loại nội hàm ngữ pháp.
Giả tá được phân ra thành hai loại: Thuần giả tá, ví dụ: 萬 - vạn nghĩa gốc là
con bò cạp là (danh từ, chữ Tượng hình) nhưng biểu thị sang số từ (số lượng):
mười nghìn, hàng vạn. Loại chữ Giả tá với kí hiệu phân biệt (phân biệt tự): ví
dụ: 何 - hà bộ phận chỉ âm: để hỏi: sao, chăng ?, mượn thêm 艹 - thảo: bộ phận
chỉ nghĩa chung đặc tính hoa cỏ, để thành 荷 - hà (hoa sen). Bộ phận chỉ nghĩa
đóng vai trò chính. Loại chữ phân biệt này là tiền thân của của chữ Hình thanh.
Hứa Thận cũng có nói về giả tá “vốn không có chữ đó, mượn thanh và gửi sự,
như chữ lệnh - 令, chữ trường - 長”.
Chuyển chú - 轉注: Đây Là một hình thức sinh sôi nảy nở của chữ viết, có
nghĩa là từ một chữ nào đó do thay đổi về ý nghĩa dẫn đến thay đổi về hình thể,
từ đó sinh ra chữ mới. Nói cách khác, khi thấy hai chữ khác nhau về hình thể và
âm đọc nhưng không khác nhau về ý nghĩa thì nói hai chữ ấy chuyển chú cho
nhau. Có thể phân chuyển chú ra hai loại: Chữ cùng bộ, cùng loại: uyển: cái
chén, chuyển chú cho 盂 - vu: cái chén. Hai chữ này đều thuộc bộ mãnh: chỉ
chén bát (chung) [4; tr.13-17].
1.1.2.3. Những đặc điểm cơ bản của chữ Hán
Văn tự Hán là một hệ thống chữ Viết có lịch sử khá lâu đời, thoát thai từ hình
vẽ. Về cơ bản nó có những đặc điểm sau:
Về mặt hình thể: Sau khi vượt qua giai đoạn hình vẽ, chữ Hán được cấu tạo bởi
8 nét cơ bản (có nhiều biến thể) được sắp xếp theo những qui tắc nhất định. Mỗi
chữ nằm gọn trong một ô vuông. Vì vậy chữ Hán còn được gọi là chữ ô vuông.
18
1.1.3.1. Chữ Hán ở Trung Quốc và các nước
* Chữ Hán ở Trung Quốc
Nói đến chữ Hán tức là nói đến mặt ngôn ngữ và văn tự, đồng thời cũng đề cập
đến mặt nội dung - ngữ nghĩa - văn hóa chứa đựng trong hệ thống ngôn ngữ văn tự
Hán.
19
Xét về hình thức văn tự: chữ Hán là hệ thống văn tự thiên về biểu ý, cố định
tiếng Hán. Nếu nhìn vào lịch sử, ta thấy lịch sử tiếng Hán khá dài lâu kể từ khi có văn
tự cho đến những biến đổi về hình thể, cách thức thể hiện của văn tự, cho nên ngôn
ngữ viết tiếng Hán cũng là một vấn đề vô cùng phức tạp. Ngôn ngữ viết dựa trên cơ sở
ngôn ngữ nói của tiếng Hán cổ gọi là văn ngôn. Văn ngôn là ngôn ngữ viết tồn tại ở
Trung Quốc cho đến tận đầu thế kỉ XX. Vị trí của văn ngôn khá cao, nó được xem là
có vị trí thượng đẳng. Viết bằng văn ngôn được xem là cao quý, viết có nhiều yếu tố
của ngôn ngữ nói hay bằng ngôn ngữ nói thì bị xem là thông tục, thấp hèn. Ngôn ngữ
viết chữ Hán trung cổ được gọi là Bạch thoại trung đại (Bạch thoại sớm, Bạch thoại
cổ). Đặc điểm của hình thái ngôn ngữ viết này là: trực tiếp dựa trên cơ sở ngôn ngữ
nói đương thời. Các văn bản dịch kinh Phật, ngữ lục, tiểu thuyết, kịch…đều được viết
theo ngôn ngữ này. Do bám theo ngôn ngữ nói đương thời nên Bạch thoại trung đại có
cú pháp giản đơn, câu viết theo tuyến của tư duy, có hệ thống hư từ diễn đạt ý nghĩa
ngữ pháp của tiếng Hán trung đại. Đây là ngôn ngữ viết bị giới văn nhân xem khinh,
triều đình coi nhẹ nhưng lại được đa số bình dân ưa thích. Các tác phẩm lớn của văn
học Trung Quốc trung đại đều được viết bằng ngôn ngữ này như: Kịch của Quan Hán
Khanh, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử truyện của Thi Nại Am…
Bạch thoại hiện đại là ngôn ngữ văn học của tiếng Hán hiện đại.
* Bán đảo Triều Tiên
Thế kỷ thứ IV trước công nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của người
Triều Tiên. Các bản viết tay này được sử dụng chữ Hán. Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ
Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn mượn chữ Hán để
sáng tạo ra một số chữ (khoảng vài trăm chữ) và mỗi chữ này chỉ có cách đọc theo âm
tiếng Nhật; các chữ này được gọi là Kokuji, tiếng Nhật gọi là Quốc Tự Quốc Huấn
(國字國訓), nghĩa là “chữ quốc ngữ âm quốc ngữ”. Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo dục
Nhật đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ bản trong trường học, và được Quốc
hội Nhật thông qua năm 1947.
Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng
1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến
năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng
lên trên 400 chữ. Các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường
dùng (Jyoyo Kanji Hyo, 常用漢字表 Thường Dụng Hán Tự Biểu) và Bảng chữ Hán
dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo, 人名用漢字表 Nhân Danh Dụng Hán Tự
Biểu).
21