Thực trạng và đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân - Pdf 31

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục lục
Trang
Lời mở đầu......................................................................................................2
A. Cơ sở lý luận..............................................................................................3
I, Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kinh tế tư nhân........................................3
1.Quan niệm về kinh tế tư nhân......................................................................3
2. Bản chất, đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân.........................................3
2.1.Bản chất của kinh tế tư nhân.....................................................................4
2.2. Đặc điểm của kinh tế tư nhân...................................................................5
2.3. Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện
nay...................................................................................................................5
3.Các hình thức biểu hiện của kinh tế tư nhân ở nước ta................................6
3.1. Hình thức kinh doanh cá thể, tiểu chủ......................................................6
3.2. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN.................................6
B. Thực trạng và đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân................................6
1. Thực trạng kinh tế tư nhân ở Việt Nam......................................................6
2. Vai trò của kinh tế tư nhân..........................................................................9
3. Một số hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân.............................................11
4. Nguyên nhân của thực trạng......................................................................12
C. Một số giải pháp cụ thể.............................................................................14
Kết luận.........................................................................................................17
Phụ lục ..........................................................................................................18
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Chúng ta đang chứng kiến một thời đại các rào cản đầu tư, thương mại
hàng hóa và dịch vụ dần bị dỡ bỏ, nền kinh tế thị trường mở đang tạo điều kiện dễ
dàng cho kinh tế tư nhân lớn mạnh không ngừng. Trong quá trình phát triển, kinh
tế tư nhân đã tồn tại dưới nhiều dạng như kinh tế cá thể, Công ty và ngày nay là
những Công ty đa quốc gia. Sự lớn mạnh của các Công ty đa quốc gia trong những

Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên
một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập, mà có liên hệ chặt chẽ
với nhau, tác động lẫn nhau tạo thành cơ cấu kinh tế thống nhất bao gồm
nhiều thành phần kinh tế.
Căn cứ vào nguyên lý chung và điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay,
Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: nền kinh tế trong thời kỳ quá độ chủ
nghĩa xã hội Việt Nam có 6 thành phần:
- Kinh tế nhà nước
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể, tiểu thủ
- Kinh tế tư bản tư nhân
- Kinh tế tư bản nhà nước
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Ở đây chúng ta sẽ nghiên cứu khu vực kinh tế tư nhân.
I. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của kinh tế tư nhân :
1. Quan niệm về kinh tế tư nhân :
Kinh tế tư nhân (KTTN) là khu vực kinh tế được hình thành và phát
triển dựa trên nền tảng chủ yếu là sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lợi
ích cá nhân.
Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, do đặc điểm của lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất, kinh tế cá thể vẫn tiếp tục tồn tại và tồn tại bên
cạnh hình thức doanh nghiệp. Kinh tế cá thể và doanh nghiệp thuộc khu vực
KTTN là hai hình thức biểu hiện chủ yếu của KTTN.
Ở nước ta hiện nay, KTTN không phải là một thành phần kinh tế,
mà là một khu vực kinh tế gồm hai thành phần kinh tế: thành phần kinh tế cá
thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Hai thành phần kinh tế cá
thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân đều thuộc cùng một chế độ sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất, vì vậy cũng thuộc khu vực KTTN.
2. Bản chất, đặc điểm của khu vực kinh tế tư nhân :

Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Trong
đó cơ cấu của kinh tế thị trường chủ yếu dựa trên cơ sở của mô hình tổ chức
DN có mục tiêu cao nhất và cuối cùng là tạo ra giá trị thặng dư. Lịch sử phát
triển kinh tế cho thấy, mô hình tổ chức DN đã đang và còn tiếp tục là một mô
hình tổ chức kinh tế có hiệu quả, phù hợp với cơ chế thị trường hiện đại.
Ba là, KTTN là bộ phận quan trọng của kinh tế thị trường.
Mọi người đều thừa nhận rằng cơ chế thị trường là cách thức tốt nhất và
duy nhất (cho đến nay) để một nền kinh tế vận hành có hiệu quả cao. Kinh tế
thị trường là phương tiện để đạt đến một nền sản xuất lớn, hiện đại. Nền kinh
tế thị trường khó có thể tồn tại và phát triển nếu không có sở hữu tư nhân và
KTTN. Nói cách khác cơ chế thị trường hiện đại chính là dạng thức sinh tồn
của KTTN mà điển hình là mô hình tổ chức DN. Hình thức tổ chức sản xuất
này là sản phẩm tự nhiên của cơ chế thị trường và tự nó lớn lên trong cơ chế
thị trường. Ở Việt Nam muốn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa thì phải phát triển KTTN nói chung và mô hình tổ chức DN nói
riêng.
Chúng ta cũng có thể xem xét một số đặc điểm của KTTN ở nước ta hiện
nay:
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Một là, KTTN mới được phục hồi và phát triển nhờ công cuộc đổi mới
do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.
Hai là, KTTN hình thành và phát triển trong điều kiện có Nhà nước Xã
hội Chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng Sản.
Ba là, KTTN ở nước ta ra đời và phát triển trong điều kiện quan hệ sản
xuất thống trị trong xã hội không phải là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Sự tồn tại và phát triển của KTTN ở nước ta hiện nay được coi như một công
cụ là những hình thức tổ chức sản xuất – kinh doanh theo mục tiêu của chủ
nghĩa xã hội, là bộ phận cấu thành của quan hệ sản xuất định hướng xã hội
chủ nghĩa.

5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sức lao động của con người, tài nguyên, thông tin và các nguồn lực khác.
Những nguồn lực này chủ yếu là trong nước, nhưng cũng có một số không ít
cá nhân sử dụng vốn của gia đình ở ngoài nước gửi về. KTTN có một vai trò
quan trọng trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay :
- Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP).
- Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội, nộp ngân sách cho Nhà
nước.
- Khu vực KTTN tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo.
- Khu vực KTTN góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý
kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
3. Các hình thức bi ểu hiện của kinh tế tư nhân ở nước ta :
3.1. Hộ kinh doanh cá thể, tiểu chủ
Theo tinh thần Nghị định số 66- HĐBT ngày 02-03-1992 của Hội đồng
Bộ trưởng và Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03-02-2000 của Chính phủ
về đăng ký kinh doanh,thì hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia
đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê
lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh.
3.2. Các loại hình DN thuộc khu vực KTTN:
Quan niệm về DN: theo Luật Doanh nghiệp, DN là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký hoạt động kinh
doanh.
Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN ở nước ta hiện nay là :
- DN tư nhân: là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (hai thành viên trở nên).Công ty trách nhiệm
hữu hạn là loại công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn.
- Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn, chịu trách nhiệm hữu hạn,

tháng đầu năm 2004, nước ta đã có 27 013 DN mới đăng ký mới, với số vốn
tương ứng khoảng trên 53000 tỷ đồng, tăng 36% về số lượng DN và 29 % về
vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2003, chưa kể đến năm 2004 nước ta có trên
4000 DN tăng vốn với 144 000 tỷ đồng. Ước cả năm 2004 có trên 33 000 DN
đăng ký kinh doanh với mức vốn khoảng 65 000 tỷ đồng. Số DN đăng ký
mới trung bình hàng năm thời kỳ 2000 – 2004 bằng 3,75 lần so với trung
bình hàng năm của thời kỳ 1991- 1999. Số DN mới đăng ký trong 5 năm
(2000 – 2004) ước cao gấp gần 2 lần so với 9 năm trước đây (1991- 1999)
tăng bình quân 25,6% năm.
• Mức vốn đăng ký trung bình một DN tăng nhanh, từ 570 triệu đồng/DN thời
kỳ 1991- 1999 lên 2015 tỷ đồng năm 2004. DN có mức vốn đăng ký thấp
nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là khoảng 200 tỷ đồng.
Quy mô vốn bình quân mỗi DN cũng rất khác nhau ở từng địa phương.
Một số tỉnh, thành phố có mức vốn bình quân khá cao như Hưng Yên (3 tỷ
đồng/DN), Quảng Ninh, Bình Dương (2,5 tỷ đồng/DN), Hà Nội, thành phố
Hồ Chí Minh (1,25tỷ đồng/DN). Năm 2004, 10 tỉnh, thành phố có số lượng
đăng ký nhiều nhất là: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà
Nẵng, Nghệ An, Cà Mau, Bình Dương, Đồng Nai, Kiên Giang và Khánh
Hoà. Một số DN không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm nhưng có số
lượng DN đăng ký tương đối nhiều như Nghệ An, Cà Mau, Kiên Giang.
Không chỉ số lượng các DN tăng nhanh mà quy mô và phạm vi hoạt động
của các DN cũng được mở rộng. Từ năm 2000, tốc độ tăng sản lượng của
khu vực KTTN trong nước đã vượt cả khu vực DNNN và các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status