CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KCN Khu công nghiệp
TP Thành phố
DN Doanh nghiệp
KD Kinh doanh
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
BQL Ban quản lý
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Đồ thị 1: Diện tích nhà ở trung bình cho một công nhân…….…..……………….21
Biểu đồ 1: Phân bố các KCN theo vùng năm 2006……………………………....16
Biểu đồ 2: Tỷ lệ công nhân ở nhà do doanh nghiệp xây dựng năm 2006………...18
Biểu đồ 3: Tỷ lệ công nhân ở nhà do dân xây dựng năm 2006…………………...19
Biểu đồ 4: Tỷ lệ công nhân ở nhà do công ty KD nhà và các tổ chức xây …….…20
Biểu đồ 5: Tỷ lệ công nhân sử dụng các nguồn nước khác nhau năm 2006……....22
Biểu đồ 6: Tỷ lệ công nhân sử dụng điện tại các tỉnh, thành phố năm 2006……...22
Biểu đồ 7: Diện tích nhà ở cho một công nhân tại các tỉnh, thành phố……….…..24
Biểu đồ 8: Điều kiện điện, nước và xử lý nước thải của nhà ở cho công nhân…...24
Biểu đồ 9: Giá tiền thuê nhà trung bình tại một số tỉnh, thành phố…………….…27
Biểu đồ 10: Tỷ lệ phân bố nhà ở cho công nhân trong và ngoài KCN……………28
Biểu đồ 11: Tỷ lệ công nhân có tham gia các hoạt động văn hoá………………...32
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
Nhà ở cho công nhân trong các KCN là một nhân tố quan trọng thúc đẩy
phát triển sản xuất của các doanh nghiệp, đem lại lợi ích trước mắt cho địa
phương và lợi ích lâu dài cho đất nước.
1. TÍNH CẤP THIẾT.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước có sự chuyển dịch
một cách đúng mức, đầy đủ và từ đó đề ra các chính sách đồng bộ cùng với sự
tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức để giải quyết.
2. ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đối tượng nghiên cứu
Nhà ở cho công nhân khu công nghiệp là một trong những bộ phận quan
trọng của vấn đề nhà ở cho những người thu nhập thấp. Nhà ở là một bộ phận to
lớn trong những tài sản của quốc gia, hơn nữa nó còn là một nhu cầu thiết yếu
của mỗi cá nhân. Nhà ở có một vai trò rất lớn, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống
của cá nhân, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập
trung vào nhà ở cho một bộ phận của giai cấp công nhân, công nhân khu công
nghiệp. Trong đó chủ yếu tập trung chủ yếu vào các vấn đề cơ bản của nhà ở cho
công nhân khu công nghiệp, thực trạng vẫn đề này ở nước ta hiện nay và giải
pháp khắc phục những tồn tại, phương hướng trong thời gian tới.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về nhà ở cho công nhân các KCN tập trung vào giải quyết các
mục tiêu cơ bản sau đây:
- Hệ thống và khái quát hoá những vấn đề lý luận, cơ sở khoa học về nhà ở
cho công nhân KCN.
- Phân tích thực trạng để làm sáng tỏ những vấn đề bất cập, nguyên nhân
gây ra những bất cập của nhà ở cho công nhân KCN.
- Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết những bất cập góp phần vào sự phát
triển bền vững của các KCN và cải thiện đời sống cho công nhân KCN.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đặc biệt là phương pháp khảo
cứu tài liệu để kế thừa, khai thác các thông tin tư liệu sẵn có, tổng hợp rút ra
những kết luận nghiên cứu mới. Bên cạnh đó, sử dụng duy vật biện chứng làm
nền tảng nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ phương pháp phân tích, tổng hợp và xem
xét cụ thể thực trạng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp ở nước ta. Ngoài ra,
Chương II: Thực trạng nhà ở cho công nhân khu công nghiệp ở Việt Nam.
Chương III: Giải pháp giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân khu công
nghiệp ở Việt Nam.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP
1. Vai trò của nhà ở đối với công nhân các KCN.
1.1. Vai trò của nhà ở nói chung.
Nhà ở là tài sản có giá trị đặc biệt đối với đời sống con người. Ph.Angghen
đã nhấn mạnh: “Con người trước hết cần phải ăn, uống, chỗ ở và mặc đã rồi mới
có thể làm chính trị, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo…”
1
Nhà ở có một tầm quan trọng đặc biệt đối với mỗi cá nhân, gia đình.
Do đặc điểm địa hình của nước ta là đồng bằng dẫn đến dân cư sinh sống
bằng nghề nông, chủ yếu là trồng trọt. Nghề trồng trọt bắt buộc người dân phải
sống định cư, chăm bón cho cây lớn lên, ra hoa kết trái rồi thu hoạch. Do lối sống
trồng trọt như vậy nên họ phải làm nhà, phải ổn định cuộc sống đảm bảo cho sản
xuất. Dần dần, dẫn đến sự hình thành và phát triển của cộng đồng với quy mô nhỏ
và tổ chức đơn giản là làng, xã, thôn, xóm. Tất cả các hình thức cộng đồng trên
đều gắn liền với sự phát triển của nhà ở. Ngoài ra, nhà ở không chỉ là nơi để con
người định cư để trồng trọt, sản xuất, ngôi nhà – là cái tổ ấm để giúp con người
đối phó với nóng lạnh, nắng mưa … – là một trong những yếu tố quan trọng nhất
để đảm bảo có một cuộc sống định cư ổn định cả về mặt vật chất và tinh thần.
Nhà ở là một trong những tiêu chuẩn làm thước đo phản ánh trình độ
phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, mức sống của dân cư mỗi dân tộc.
Thực tế, khi nhìn vào các ngôi nhà có thể nhận biết được phần nào những
phong tục, tập quán, lối sống, văn hoá của người đang sống trong ngôi nhà đó và
động rất lớn. Lực lượng lao động tại các địa phương có các KCN thường chỉ đáp
ứng được trên 1/3 nhu cầu, còn lại là lao động từ những vùng, địa phương khác
đến. Một số lượng lao động lớn từ ngoại tỉnh đến các vùng này làm việc tập trung
tại các KCN trong điều kiện là tách biệt với gia đình của họ.
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nhà ở đối với người công nhân lao động ở các tất cả các ngành nghề, lĩnh
vực khác nhau có vai trò rất quan trọng như để thúc đẩy sức lao động, nâng cao
hiệu quả sản xuất. Nhưng, do phần lớn những công nhân trong các KCN, họ sống
xa gia đình nên ngoài những vai trò trên, nhà ở đặc biệt quan trọng hơn trong việc
đảm bảo một cuộc sống cân bằng, ổn định khi sống trong gia đình quen thuộc.
Hướng phát triển các KCN ở nước ta là phát triển KCN áp dụng công nghệ
sử dụng nhiều lao động, sản xuất các mặt hàng cho xuất khẩu mà Việt Nam có ưu
thế (lắp ráp điện tử, may mặc, giày da…). Kết hợp hướng phát triển các KCN đó
với những đặc điểm riêng của nó dẫn đến các KCN thu hút công nhân lao động với
quy mô rất lớn và ngày càng tăng nhanh. Việc đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho một
lượng lớn lao động là một vấn đề khó khăn.
Tạo động lực để thúc đẩy sức lao động của người công nhân KCN.
Động lực về vật chất. Trước hết, nhà ở là nơi giúp công nhân tái sản xuất
một phần sức lao động của mình. Phải có nhà thì công nhân mới có thể nghỉ ngơi
với môi trường thoải mái trong lành hơn sau khi làm việc trong công xưởng với
các thiết bị, máy móc, các chất độc hại. Vì do đặc thù nghề nghiệp nên phần lớn
công nhân phải làm việc theo ca kíp, để đảm bảo hiệu suất tối đa của máy móc,
thiết bị, cũng như yêu cầu đòi hỏi của các chủ hợp đồng.
Động lực về tinh thần. Ngoài việc đem lại những đảm bảo đời sống vật chất
cho công nhân thì nhà ở còn giúp đem lại những lợi ích lớn về mặt tinh thần. Đó là
giúp cho công nhân giảm nỗi lo về an ninh trật tự khi sống trong những khu nhà ở
dành cho công nhân được quản lý chặt chẽ. Ngoài ra, tại nơi ở có các điều kiện
tiếp xúc với phương tiện nghe, nhìn, sách, báo và các khu giải trí vui chơi công
cộng làm phong phú đời sống tinh thần của công nhân.
bình quân trên một đầu người. Thu nhập tăng lên, ảnh hưởng đến tiêu dùng do có
sự gia tăng nhu cầu về nâng cao mức sống vật chất. Khi nhu cầu về tiêu dùng cho
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
những vật phẩm thiết yếu đã được đảm bảo thì một phần thu nhập sẽ được dùng để
giải quyết nhu cầu nhà ở. Do vậy, khi thu nhập tăng lên, nhu cầu về nhà ở của cả
mọi người dân cũng như của tầng lớp công nhân lao động các KCN đều tăng.
Thứ hai là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Về cơ cấu ngành kinh tế, tỷ trọng
của công nghiệp ngày càng tăng lên và chiếm vai trò quan trọng trong cơ cấu
GDP. Công nghiệp tăng trưởng kéo theo sự xuất hiện hàng loạt các KCN dẫn đến
sự gia tăng về lực lượng công nhân và tất yếu nhu cầu về nhà ở cho lực lượng lao
động này cũng gia tăng. Về cơ cấu vùng kinh tế, sự phát triển kinh tế được thể hiện
ở cơ cấu vùng theo góc độ thành thị và nông thôn. Một xu hướng ở các nước đang
phát triển là luôn có một dòng dân di cư từ nông thôn ra thành thị. Sự gia tăng dân
số do dòng dân di cư này đồng nghĩa với sự gia tăng về nơi ăn chốn ở cho họ.
2.2. Những chính sách của chính phủ.
Các chính sách của Chính phủ là một nhân tố rất nhạy cảm, ảnh hưởng đến
nhu cầu về nhà ở của công nhân các KCN. Các chính sách khuyến khích phát triển
theo ngành, lãnh thổ kéo theo sự xuất hiện thêm nhiều KCN mới và sự tăng quy
mô các KCN trước. Tăng quy mô sản xuất đồng nghĩa với việc gia tăng nhu cầu
lao động. Ngược lại, những vùng, khu vực chưa được sự quan tâm nhiều của nhà
nước trong việc khuyến khích đầu tư thì sản xuất kém phát triển, dân số có thể di
chuyển sang các vùng khác với nhu cầu lao động cao như các KCN. Bên cạnh đó,
những chính sách về nhà ở xã hội, nhà ở cho những người có thu nhập thấp…
cũng làm ảnh hưởng đến nhu cầu về nhà ở cho đối tượng công nhân các KCN.
2.3. Quy hoạch phát triển và quá trình đô thị hoá.
Chính sách về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Các chính sách về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, thực chất là việc xác
định mục đích sử dụng đất của từng vùng cụ thể. Một ví dụ điển hình về việc thay
đổi mục đích sử dụng đất như việc chuyển mục đích sử dụng đất của một khu vực
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tăng dân số cơ học này một phần là do khu vực mà các KCN hoạt động và sản
xuất không đáp ứng đủ lượng lao động cần thiết. Một lực lượng lao động từ những
vùng khác đến đồng nghĩa với sự gia tăng nhu cầu về nơi ăn chốn ở cho họ.
3. Những yêu cầu về nhà ở cho công nhân KCN.
Sự quan tâm về nhà ở cho công nhân không chỉ tập trung vào việc đáp ứng
đủ số lượng mà còn phải đảm bảo về mặt chất lượng, yêu cầu là rất cần thiết. Yêu
cầu về nhà ở cho công nhân dựa trên một số yếu tố sau:
3.1. Đặc điểm và nguyện vọng của người công nhân các KCN.
- Cơ cấu lao động
Để xây dựng được các loại nhà ở phù hợp với nhu cầu của công nhân lao
động, ta cần phải căn cứ vào số lượng, độ tuổi, giới tính lao động tại các KCN.
Hiện nay, công nhân tại KCN trên cả nước, tập trung vào 3 vùng: Vùng kinh tế
trọng điểm miền Bắc, miền Trung, miền Nam. Đến tháng 4/2006, cả nước đã có
135 KCN và thu hút khoảng 1.5 triệu lao động.
Theo số liệu thống kê, lao động có độ tuổi 18-35 chiếm 90%, còn lại từ 36-
50 tuổi. Số công nhân các KCN đang trong độ tuổi lao động đạt 100%, tương ứng
với nhu cầu nhà ở là rất cao. Một đặc điểm của lao động là nữ (chiếm 73%), đặc
biệt là chưa xây dựng gia đình, nên họ rất muốn nếu có điều kiện thì sẽ tạo lập và
xây dựng một tổ ấm trong tương lại.
Vì vậy, những đặc điểm về nhà ở cho công nhân KCN phải phù hợp với
những đặc điểm và tỷ lệ trên để có được không gian nhà ở hiện tại và hướng cho
sự phát triển trong tương lại.
- Đặc thù nghề nghiệp.
Công việc của công nhân các KCN có những đặc thù riêng, khác với lao
động trong các ngành nghề khác. Vì vậy, xây dựng nhà ở cho công nhân chúng ta
phải thấy rõ được những nét riêng biệt đó để đảm bảo những khu nhà ở được xây
dựng lên sẽ thỏa mãn được nhu cầu nghỉ ngơi, sinh hoạt của họ.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Mức thu nhập và khả năng thanh toán của công nhân có ảnh hưởng lớn đến
việc tính toán thiết kế xây dựng nhà ở cho họ. Nhóm công nhân có thu nhập trung
bình từ 1-1.5 triệu đồng chiếm 20-25% tổng số lao động ở các KCN, mức thu nhập
này thường là công nhân có tay nghề. Nhóm công nhân có thu nhập thấp từ 400-
600 nghìn đồng chiếm tới 75-80%, rơi vào nhóm lao động phổ thông thuần tuý.
Với mức thu nhập thấp như nêu trên, trước mắt, sử dụng diện tích tối thiểu
cho các phòng cần thiết cho nhu cầu thiết yếu, sau đó có biện pháp để mở rộng
diện tích khi nhu cầu gia đình cao hơn. Đối với các đối tượng lao động độc thân,
nên thiết kế các khu nhà ở tập thể để giảm bớt tiền thuê nhà.
- Lối sống
Đại đa số lao động tại các KCN tập trung đều đến từ các vùng nông thôn
trên cả nước. Do vậy, họ đều có chung đặc trưng của các làng quê Việt Nam đó là
tính cộng đồng làng Việt. Họ sống coi trọng lễ nghĩa, luôn đề cao đạo dức và nhân
cách của con người Việt Nam. Ngoài ra, còn có tâm lý thích sinh hoạt cùng bạn
bè, đồng hương. Nhưng do đến từ các vùng nông thôn khác nhau, xuất thân từ
nhiều vùng quê khác nhau nên họ có những phong tục, tập quán riêng biệt.
Qua những nhận xét trên, ta có thể tìm kiếm thiết kế những không gian ở
phù hợp với công nhân ở KCN, sao cho công năng và không gian ở thể hiện được
lối sống mang những sắc thái văn hoá truyền thống.
- Nguyện vọng.
Theo một số điều tra xã hội học, khi được hỏi nguyện vọng về nhà ở thì
100% công nhân ngoại tỉnh đều rất muốn được thuê nhà với giá rẻ gần KCN để
tiết kiệm thời gian đi lại và ổn định đời sống. Về hình thức xây dựng nhà ở, phần
lớn đều muốn được thuê nhà ở do Nhà nước hoặc các doanh nghiệp đầu tư kinh
doanh với giá phù hợp với khả năng thanh toán của họ. Về kiểu nhà ở, 80% công
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhân mong muốn được ở trong chung cư nhiều tầng với giá thuê hợp lý, được sống
an toàn trong môi trường tập thể. Về thiết kế, yêu cầu được đưa ra là phải có khả
năng chịu lực, phòng cháy chữa cháy, và có chỗ nấu ăn tập thể để không phải ăn
công trình xây dựng theo quy hoạch và pháp luật. Thông qua công tác quy hoạch,
nhà nước thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá xã hội… ngăn chặn những
tiêu cực trong việc sử dụng đất đai và xây dựng hình thành các công trình, nhà ở
xã hội, đặc biệt là nhà ở cho công nhân KCN.
- Nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật nhà ở, tạo môi trường
pháp lý cho sự phát triển và khắc phục các hạn chế của quá trình phát triển nhà ở
cho công nhân KCN. Qua hệ thống pháp luật, quy định các yêu cầu phát triển, tiêu
chuẩn thiết kế, yêu cầu đối với chủ đầu tư dự án phát triển, xây dựng và quản lý
vận hành quỹ nhà ở…
- Nhà nước khuyến khích các tổ chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử
dụng đầy đủ, hợp lý đất đai nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của đất đai, xây dựng
và phát triển nhà ở hợp lý. Dựa trên những chính sách chung về nhà ở, nhà nước
còn ban hành những chính sách liên quan đến nhà ở cho công nhân các KCN, đó là
các chính sách về phát triển KCN.
- Nhà nước phải thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát, quản lý việc sử dụng
nhà ở công nhân KCN. Nhà nước phải giám sát việc sử dụng nhà dành cho công
nhân có thực sự được đưa vào sử dụng đúng mục đích hay không…
- Nhà nước phải đóng vai trò trực tiếp trong việc xây dựng và phát triển nhà
ở cho công nhân các KCN. Để đáp ứng được nơi ăn chốn ở cho người lao động,
trên thực tế số doanh nghiệp có đủ tiềm lực, năng lực để đầu tư nhà ở cho công
nhân mới đến được trên đầu ngón tay. Vì vậy, sự tham gia của nhà nước kết hợp
với các doanh nghiệp là hết sức quan trọng trong việc phát triển nhà ở xã hội, đặc
biệt là nhà ở cho công nhân KCN.
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
5. Kinh nghiệm trên thế giới về giải quyết vấn đề nhà ở cho công nhân.
5.1. Kinh nghiệm của Hà Lan.
- Ở Hà Lan, Luật Xây dựng nhà ở năm 1901 quy định nhà ở cho người
nghèo, người có thu nhập thấp, công nhân là trách nhiệm của Chính phủ, thông
qua việc xây dựng nhà ở xã hội. Luật khẳng định quyền can thiệp của Chính phủ
chủ động việc đánh thuế. Từ năm 1993, luật lệ trung ương yêu cầu các công ty
phát triển bất động sản phải có ít nhất 20% tỷ lệ “nhà rẻ tiền” trong kế hoạch phát
triển hàng năm dành cho người thu nhập thấp, dưới hình thức thuê hoặc bán.
* Chính sách quản lý nhà ở khác.
Nhà nước thiết lập các quy định quản lý nhà cho thuê với giá thấp, thí điểm
rút kinh nghiệm, sau đó áp dụng cho toàn quốc. Đảm bảo thực hiện công khai và
tính minh bạch trong phân phối nhà ở cho các đối tượng là lao động ngoại tỉnh có
thu nhập thấp với sự kiểm soát của nhà nước cùng với sự thực hiện chiến lược bao
cấp tiền thuê nhà một cách linh hoạt và ít tốn kém hơn so với chiến lược xây dựng
trực tiếp các nhà cho thuê với giá thấp. Tổ chức hợp tác giữa các công ty nhà đất
theo hướng Nhà nước và tư nhân cùng làm.
Bên cạnh đó, Nhà nước đồng thời đi vào thực hiện thí điểm một số mô hình
nhà ở hợp tác xã để bán và cho thuê với mức giá phù hợp với thu nhập của người
lao động có thu nhập thấp. Các mô hình được xây dựng lên nhằm đáp ưng nhu cầu
về ở lâu dài của công nhân, người lao động, được nhân rộng tại các địa phương có
những nguồn lực và điều kiện tương đồng.
5.3. Một số bài học rút ra đối với Việt Nam.
Sau khi nghiên cứu về vấn đề giải quyết nhà ở cho công nhân lao động của
một số nước, trong đó giới thiệu về việc giải quyết nhà ở tầng lớp lao động với thu
nhập thấp của Hà Lan và Trung Quốc, chúng tôi có một vài kết luân như sau:
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Về nhận thức, do nhà ở cho công nhân các KCN cũng là một bộ phận để
hình thành và phát triển nhà ở xã hội nên cần có sự quan tâm, phối hợp của các
doanh nghiệp tư nhân và cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó
vẫn cần thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát quá trình xây dựng và sử dụng
nhà ở của các doanh nghiệp.
Về cơ chế chính sách, phát triển nhà ở cho công nhân KCN phải xem xét,
cân nhắc mọi điều kiện cho từng thời kỳ nhất định, có chính sách cụ thể mang tính
ưu tiên cho mỗi giai đoạn, tránh dàn trải. Trong đó đặc biệt quan tâm đến chính
Trung du, miền núi Bắc Bộ,
Tây Nguyên và ĐB sông Cửu Long
20 14.82
Nguồn: www.khucongnghiep.com.vn
Qua bảng số liệu trên ta thấy các KCN phân bố không đồng đều theo lãnh
thổ chủ yếu tập trung tại 2 vùng đó là Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng.
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong đó, Đông Nam Bộ có số lượng tập trung các KCN với số lượng gần bằng
một nửa của cả nước và gấp 3 lần so với Trung du, miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên.
Một trong những đặc điểm của KCN là đòi hỏi nhiều lao động, và nếu chỉ
sử dụng nguồn lao động tại chỗ thì sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu lao động. Vì vậy,
hầu hết các KCN đều có nhu cầu thu hút lao động từ các địa phương khác đến.
Do sự phân bố không đồng đều và đặc điểm sử dụng lao động của các KCN
đã tạo ra một làn sóng di cư từ các vùng nông thôn có điều kiện kinh tế xã hội khó
khăn, các vùng tập trung ít KCN ra các vùng tập trung đông KCN. Điều này đã
ảnh hưởng đến đặc điểm của lực lượng lao động làm việc trong các KCN, chủ yếu
là lao động ngoại tỉnh hoặc lao động từ các vùng nông thôn. Do đó, nhu cầu nhà ở
của công nhân làm việc trong các KCN là rất lớn. Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các
KCN đều chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu đó của công nhân khiến cho vấn đề
nhà ở công nhân tại các KCN đang trở thành vấn đề bức xúc trong xã hội hiện nay.
2. Thực trạng của nhà ở công nhân các KCN ở nước ta.
2.1. Thực trạng của nhà ở công nhân các KCN trong những năm qua.
Các KCN ở nước ta sau 16 năm xây dựng và phát triển đã có những đóng
góp to lớn cho nền kinh tế nước ta. Đồng hành với sự phát triển đó cũng còn nhiều
vấn đề về xã hội đang đặt ra, điển hình đó là nhà ở cho công nhân lao động. Chúng
ta cần nghiên cứu thực trạng vấn đề này để rút ra những bất cập cần giải quyết.
2.1.1. Về số lượng của các loại nhà.
Số lượng nhà ở phụ thuộc vào số lượng công nhân làm việc trong các KCN.
Nhưng hiện nay, khi tốc độ thu hút lao động của các KCN không ngừng tăng lên
các nhà thống kê đưa ra, tỷ lệ trung bình trên cả nước mới đạt được 2% - giải
quyết phần rất nhỏ những bức xức về chỗ ở của công nhân các KCN. Thực tế là do
số doanh nghiệp có đủ “tiềm lực” và năng lực để đầu tư nhà ở công nhân mới đếm
được “trên đầu ngón tay”.
Tại Hà Nội, xét về thời gian thì các KCN phát triển sau các KCN Bình
Dương nên vấn đề chăm lo, giải quyết chỗ ở cho người lao động cũng ít được chú
trọng hơn. Mặt khác, giá đất ở Hà Nội khá đắt đỏ ảnh hưởng không nhỏ đến kinh
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phí giải phóng mặt bằng. Bên cạnh đó, lại thiếu các cơ chế về nguồn vốn để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp được vay vốn với lãi suất ưu đãi. Điều này đã làm
giảm tính khả thi của các dự án xây dựng nhà ở, từ đó cũng hạn chế các doanh
nghiệp tham gia vào xây dựng nhà ở cho công nhân.
Nhà ở do tư nhân xây dựng và cho thuê.
Tỷ lệ công nhân được ở trong các ngôi nhà dạng ký túc xá, khu lưu trú do
doanh nghiệp xây dựng nói chung còn thấp. Vậy một câu hỏi được đặt ra “số lao
động còn lại họ sẽ ở đâu?”. Trong điều kiện những chính sách về nhà ở cho công
nhân chưa được thực hiện một cách thật tốt, thì giải pháp trước mắt cho những
công nhân ngoại tỉnh là tự tìm chỗ ở cho chính bản thân họ. Nhận thức được nhu
cầu đó, một số hộ dân đã xây dựng nhà ở cho công nhân thuê, và hình thức nhà
này đang phát triển nhanh chóng với một số lượng lớn trên pham vi cả nước, đặc
biệt là ở các tỉnh thành phố sau: TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, tỉnh Cần Thơ.
Biểu đồ 3: Tỷ lệ công nhân ở nhà do dân xây
tại các tỉnh, thành phố năm 2006
Tỉnh, thành phố Số công nhân Tỷ lệ (%)
TP Hà Nội 203.700 97
TP Đà Nẵng 42.750 95
TP Cần Thơ 17.625 94
Tỉnh Đồng Nai 86.329 82
TP Hồ Chí Minh 93.016 60.4
1.350 3
Nguồn: www.khucongnghiep.com.vn
TP Hồ Chí Minh và tỉnh Bình Dương đi đầu đối với tỷ lệ loại nhà do các đơn
vị, tổ chức khác cùng xây dựng đáp ứng nhu cầu nhà ở cho công nhân. Tỷ lệ này
trung bình trên cả nước được phản ánh trong tỷ lệ của Cần Thơ, Hà Nội, Đà Nẵng
chỉ khoảng 3-4%.
Tóm lại, trong thời gian qua số các doanh nghiệp tham gia kinh doanh nhà ở
cho công nhân còn ít, mà nguyên nhân chủ yếu là do đặc điểm của việc đầu tư nhà
ở cho công nhân: vốn đầu tư nhiều, tỷ suất lợi nhuận thu được thấp, thời gian hoàn
vốn chậm. Ngoài ra, với các doanh nghiệp có những tiềm lực trong việc xây dựng
nhà ở cho công nhân, nhưng do thiếu sự quan tâm, hỗ trợ của phía địa phương để
giá nhà cho thuê giảm xuống.
Nhà ở do công nhân tự xây dựng.
25