Hoàn thiện pháp luật về đầu tư nước ngoài tại CHDCND lào - Pdf 31

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng
dẫn của Tiến sỹ Võ Đình Toàn - Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý - Bộ
Tư pháp.Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong đề tài là nghiêm túc và
trung thực, chưa từng được công bố trước đây.Các thông tin về số liệu, dẫn
chứng phân tích và một số ý kiến đánh giá đều được trích dẫn từ những nguồn
tư liệu đáng tin cậy thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu có bất kỳ sự gian lận, thiếu trung thực nào trong quá trình nghiên
cứu, tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như chịu trách nhiệm về
kết quả luận văn của mình.

Hà nội, ngày 20 tháng 5 năm 2013
Tác giả

Syvanh Leemaiteeng


LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo – Tiến
sĩ VÕ ĐÌNH TOÀN, Phó Viện trưởng Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư
pháp đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tác giả có thể hoàn thành luận văn nàỵ
Tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo
Khoa Sau Đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giảng dạy trong
thời gian tác giả học trong trường, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tác giả
hoàn thành khóa học và hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự đóng góp ý kiến, sự giúp đỡ tận tình của
các bạn học viên lớp Cao học khóa 19, Trường đại học Luật Hà Nội, các bạn
sinh viên Lào tại Việt Nam.
Tác giả

Syvanh Leemaiteeng

cũng tạo mọi điều kiện để thu hút, khuyến khích đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh đó, giống như Việt nam, Lào cũng đang tích cực tham
gia vào nền kinh tế thế giới với những nỗ lực trong tất cả các mặt. Trong đó
thu hút, khuyến khích đầu tư nước ngoài là giải pháp quan trọng giúp Lào có
những bước “chuyển mình” nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Tình hình
thực tiễn tại Lào cho thấy, Lào rất cần công nghệ tiên tiến và nguồn vốn đầu tư
từ các nước công nghiệp phát triển để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -xã
hội, hoàn thành thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.Thu hút đầu tư nước ngoài sẽ giúp Lào giải quyết các khó khăn về vốn,
tạo việc làm cho người lao động, chuyển giao công nghệ và cải tiến cơ cấu kinh
tế, đưa nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế, Chính phủ Lào chú trọng phát
triển và giữ vững mối quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Việt Nam quốc gia có mối quan hệ lịch sử gắn bó lâu đời, nước láng giềng có sự tương
đồng về nhiều mặt như chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá...Hoàn thiện pháp luật
nói chung và hoàn thiện các qui định Pháp luật về Đầu tư tại Lào phải đặt
trong sự so sánh và kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam .Vì vậy tôi quyết định
chọn đề tài “Các qui định pháp luật về Đầu tư nước ngoài của Việt Nam và
Lào: Nhìn từ góc độ so sánh” làm đề tài luận văn Thạc sỹ luật học.


2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp,
sách và tạp chí…đề cập về pháp luật đầu tư nói chung và luật đầu tư nước
ngoài nói riêng như :
“Thực trạng và giải pháp thúc đẩu tư nước ngoài vào Việt Nam trong
bối cảnh toàn cầu hóa”, Khóa luận tốt nghiệp, Nguyễn Đình Cẩn, năm 2003,
Đại học Ngoại thương;
“ Phương hướng hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài tiến tới mặt
bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt

vấn đề so sánh các qui định về pháp luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam và
Lào, từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện các qui định về
pháp luật đầu tư của Lào.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung vào phân tích quá trình ra đời, nội dung chủ yếu của
các qui định của pháp luật về đầu tư nước ngoài trong các văn bản pháp luật
của Việt Nam và Lào được ban hành trong thời gần đây.Chủ yếu tập trung
nghiên cứu và so sánh các qui định của pháp luật đầu tư nước ngoài tại Lào
( Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004 và các văn bản hướng dẫn )
và Việt Nam( Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn năm 2005).
Mới đây nhất, Lào đã ban hành Luật Khuyến khích đầu tư năm 2010
(có hiệu lực thi hành từ năm 2011) điều chỉnh cả hoạt động đầu tư trong
nước và nước ngoài .Tuy nhiên, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm
2004 của Lào vẫn có giá trị thực hiện, nhà nước chỉ khuyến khích các áp
dụng Luật khuyến khích đầu tư 2010 đối với hoạt động đầu tư nước ngoài từ
năm 2011 đến nay và văn bản hướng dẫn thực hiện vì Luật Khuyến khích
đầu tư chung hiện nay vẫn chưa đầy đủ.Vậy nên, trong khuôn khổ Luận văn
này chỉ đề cập, so sánh các qui định pháp luật đầu tư nước ngoài của Lào
theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài năm 2004.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy phạm pháp luật của
Việt Nam và Lào điều chỉnh các quan hệ đầu tư mà nhà đầu tư là bên nước


4
ngoài; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, Lào về đầu tư
nước ngoài vào mỗi nước; các quan điểm, tư liệu về thực tế đầu tư vào Việt
nam và Lào.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện theo phép duy vật biện chứng Chủ nghĩa Mác

kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam.


5
8. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những căn cứ lý luận để so sánh các qui định về pháp luật
đầu tư nước ngoài của Việt Nam và Lào.
Chương 2: So sánh các qui định pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt
Nam và Lào.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư
nước ngoài ở Lào hiện nay


6
Chương 1.
NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN ĐỂ SO SÁNH CÁC QUI ĐỊNH VỀ PHÁP
LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM VÀ LÀO
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật đầu tư nước ngoài
Ngày nay, thuật ngữ “đầu tư” được sử dụng rộng rãi và có nhiều cách
hiểu khác nhau.
Theo Đại từ điển Tiếng Việt Việt Nam thì “ đầu tư là bỏ vốn vào sản
xuất kinh doanh để được hưởng phần lời lãi”.[27.Trang 9]
Dưới góc độ khoa học, đầu tư (Theo tiếng Anh là Invesment) là việc sử
dụng vốn vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra năng lực sản xuất lớn
hơn.Nói cách khác, đầu tư là việc đưa vốn vào một hoạt động kinh doanh nào
đó nhằm mục đích thu lợi nhuận.Vốn đầu tư bao gồm tiền và các tải sản có
giá trị khác.[27.Trang 9]

chứng khoán của các công ty ở nước ngoài.”[27.Trang 8]
Trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, khái niệm đầu
tư nước ngoài được hiểu là “ mọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một
bên do các công dân hoặc công ty của bên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực
tiếp hay gián tiếp, bao gồm các hình thức : một công ty hoặc m ột doanh
nghiệp; cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác, trái phi ếu, gi ấy
ghi nợ và các quyền lợi đối với các khoản nợ dưới các hình thức khác
trong công ty; các quyền theo hợp đồng như hợp đồng chìa khóa trao tay,
hợp đồng xây dựng hoặc hợp đồng quản lý, các hợp đồng sản xuất hoặc
hợp đồng phân chia doanh thu, tô nhượng hoặc các hợp đồng tương t ự
khác..”[27.trang 10]


8
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987,
khái niệm đầu tư nước ngoài được hiểu như sau: “ Đầu tư nước ngoài là
việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Vi ệt Nam v ốn
bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam
chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành l ập xí
nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100 % vốn nước ngoài theo qui định của
luật này.” (Khoản 3, điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987)
Theo khoản 12, điều 3 Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam giải thích
như sau: “ Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt
Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động
đầu tư.”
Tại Lào, thuật ngữ “ đầu tư nước ngoài” được hiểu là các nhà đầu tư
nước ngoài đưa vốn, bao gồm các tài sản, công nghệ và sự lành nghề vào
nước Lào để thực hiện hoạt động kinh doanh.(Điều 2 Luật khuyến khích đầu
tư nước ngoài năm 2004)
Từ những khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm đầu tư nước ngoài

nước.Nhà nước quản lý mọi hoạt động của đời sống kinh tế - chính trị - xã
hội, trong đó có hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bằng các qui định pháp
luật về đầu tư nước ngoài.
Pháp luật về đầu tư nước ngoài được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả
ba bộ phận là luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hưởng dẫn trực tiếp thi
hành; các chế định liên quan đến đầu tư nước ngoài được qui định trong các
văn bản pháp luật khác; các qui phạm pháp luật có liên quan đến đầu tư
nước ngoài được qui định trong các điều ước quốc tế mà nước đó ký kết hoặc
tham gia.
Pháp luật về đầu tư nước ngoài hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các
luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản hướng dẫn trực tiếp thi hành.


10
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung nhất về pháp luật về
đầu tư nước ngoài là hệ thống những qui phạm pháp luật do Nhà nước ban
hành điều chính các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước
ngoài tại nước đó.
Pháp luật về đầu tư nước ngoài có những đặc điểm sau:
Một là các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật
đầu tư nước ngoài phải mang yếu tố nước ngoài.
Dấu hiệu đặc trưng có tính chất bắt buộc của các quan hệ xă hội thuộc
đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là yếu tố nước ngoài.
Các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các bộ pháp luật khác như
pháp luật Dân sự, pháp luật Kinh tế -Thương mại, ...áp dụng chung cho mọi
chủ thể kinh doanh không được xem là pháp luật về đầu tư nước ngoài.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật đầu tư nước ngoài là các quan hệ xã
hội phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài như:
- Quan hệ giữa nhà đầu tư nước ngoài với Nhà nước nhận đầu tư mà đại
diện là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

phận cấu thành là một số lượng lớn các điều ước quốc tế như Hiệp định khung
về khu vực đầu tư ASEAN, 41 Hiệp định song phương và khuyến khích và
bảo hộ đầu tư, 34 Hiệp định tránh đánh thuế lần 2, Hiệp định thương mại Việt
Nam và Hoa Kỳ.Việc ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế hai bên hay
nhiều bên được tiến hành theo các qui định của pháp luật Việt Nam về ký kết
và thực hiện các điều ước quốc tế.
1.1.2 Vai trò của pháp luật đầu tư nước ngoài
Pháp luật về đầu tư nước ngoài là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài nói chung cũng như tới tất cả các yếu tố
thuộc thượng tầng kiến trúc nói riêng.Do đó, pháp luật về đầu tư nước ngoài
có một số vai trò chủ yếu sau đây:


12
Thứ nhất, pháp luật về đầu tư nước ngoài thể hiện quan điểm,đường lối
chính sách của Đảng cầm quyền và Nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước
ngoài
Đối với mỗi quốc gia, pháp luật là phương tiện thể chế hóa đường lối,
chính sách của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền được thực
hiện có hiệu quả.Pháp luật còn là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt
đời sống xã hội cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Bản thân hoạt động đầu tư ngoài với những lợi ích to lớn mang lại cho
nền kinh tế, nó còn mang nhiều nguy cơ đối với nước tiếp nhận đầu tư như là
kéo dài xu hướng thay thế nhập khẩu và chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, dễ
làm tăng nguy cơ thâm hụt cán cân thanh toán thậm chí do sự độc quyền của
các nhà đầu tư nước ngoài sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước, làm lệch sự phân bổ các nguồn lực tài chính, tăng nguy cơ phá
sản của các cơ sở kinh tế và ngành nghề truyền thông và một số tác động phi
kinh tế..Bởi vậy đòi hỏi Nhà nước và Đảng cầm quyền phải có những chính
sách, hoạch định cũng như định hướng phát triển lâu dài đối với hoạt động

rộng và phức tạp bao gồm nhiều mối quan hệ, nhiều vấn đề mà nhà nước cần
xác lập, điều tiết và giải quyết như: hoạch định chính sách đầu tư, quy định về
chế độ tài chính, tiền tệ..Tất cả những điều đó đều đòi hỏi sự điều chỉnh phù
hợp với nhà nước để hoàn thiện bộ máy quản lý phù hợp theo xu thế chung,
phù hợp với những đặc thù của nền kinh tế thị trường.
Thứ tư, pháp luật về đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao hiệu quả đầu
tư,phát triển kinh tế - xã hội
Pháp luật về đầu tư nước ngoài ra đời để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh
các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực đầu tư nước ngoài.Pháp luật về đầu tư nước
ngoài cũng tác động trở lại làm cho các quan hệ đầu tư phát triển nhằm thu
hút vốn đầu tư.


14
Bởi nguồn vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn quan trọng
để bù đắp sự thiếu hụt về vốn và ngoại tệ, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
về vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.Đầu tư
nước ngoài thường mang tính khả thi cao, tạo điều kiện cho nước tiếp nhận
đầu tư tiếp nhận vốn, công nghệ, kỹ thuật hiện đại mà không để lại gánh nặng
nợ nần cho nền kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng khả năng
xuất khẩu.
Tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài còn giúp nền kinh tế trở nên năng
động , có hiệu quả, tạo đà cần thiết để giải quyết một phần nạn thất nghiệp,
kiềm chế lạm phát, tăng thu ngân sách, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật,
thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy kinh tế trong
nước phát triển. Đối với các nước đang phát triển tiếp nhận vốn đầu tư nước
ngoài sẽ tạo đà cần thiết để vượt qua đói nghèo vì vốn là cơ sở để tạo ra công
ăn việc làm trong nước, tiếp nhận những tiến bộ của công nghệ, trình độ khoa
học kỹ thuật hiện đại, học hỏi những kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức kinh
doanh và kỹ năng quản lý từ các nước tiên tiến..

khoảng 14% tổng số dân của cả nước. Dân tộc Việt (còn gọi là người Kinh)
chiếm gần 86%, tập trung ở những miền châu thổ và đồng bằng ven biển.
Những dân tộc thiểu số, trừ người Hoa, người Chăm và người Khmer phần
lớn đều tập trung ở các vùng miền núi và cao nguyên. Việt Nam là một nước
đông dân, tuy diện tích đứng hạng 65 nhưng lại xếp thứ 13 trên thế giới về
dân số. Việt Nam phát triển từ nền kinh tế nông nghiệp với 29,6% sống ở khu
vực thành thị và khoảng 60,4 triệu người cư trú ở khu vực nông thôn.
1.2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Lào
Lào là một nước vào loại kém phát triển ở Đông Nam Á.Tuy có nguồn
tài nguyên phong phú về lâm nghiệp, nông nghiệp, khoáng sản và thuỷ điện.
Nhìn chung kinh tế Lào tuy phát triển song chưa có cơ sở bảo đảm ổn


16
định.Theo bảng xếp hạng của Liên hiệp quốc về trình độ phát triển, Lào đứng
hàng thứ 138 trong tổng số 187 quốc gia. Sản phẩm nông nghiệp chiếm
khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội và sử dụng 80% lực lượng lao động.
Nền kinh tế vẫn tiếp tục nhận được sự trợ giúp của IMF và các nguồn quốc tế
khác cũng như từ đầu tư nước ngoài trong chế biến sản phẩm nông nghiệp
và khai khoáng.
Trong những năm gần đây nền kinh tế của Lào có nhiều tiến bộ. Các
mục tiêu kinh tế-xã hội do các kỳ đại hội của Đảng nhân dân cách mạng Lào
và các chương trình kế hoạch 5 năm được triển khai thực hiện có hiệu quả.
Lào đang nắm bắt thời cơ, đang tạo nên những bước đột phá và đang có
những tiền đề cho một thời kỳ tăng tốc.
Lào là một nước đa dạng về dân tộc, có 68 dân tộc có tiếng nói và
phong tục tập quán khác nhau; trong đó có 3 dân tộc lớn như: Lào Lùm (vùng
thấp) chiếm khoảng 50% dân số cả nước (chiếm đa số lớn nhất ), Lào Thông
(vùng trung du) với khoảng 30% dân số, Lào Xủng (vùng cao) chiếm 15% dân
số. Nông dân chiếm hơn 90% dân số và sản phẩm nông nghiệp chiếm 60%

Tại Đại hội đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ VIII tháng 3 năm
2006 đề ra mục tiêu đến năm 2020: xây dựng vững chắc hệ thống chính
trị dân chủ nhân dân, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo, giữ vững ổn
định chính trị, an ninh trật tự an toàn xã hội; đưa đất nước thoát khỏi tình
trạng kém phát triển; kinh tế phát triển dựa trên sự phát triển nông
nghiệp vững chắc và lấy phát triển công nghiệp làm cơ sở, tạo tiền đề
cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tạo chuyển biến cơ bản về
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; phát triển nhịp nhàng các
thành phần kinh tế, trong đó thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể
được củng cố và phát triển vững mạnh.


18
1.2.3 Hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.3.1 Hội nhập kinh tế quốc tế tại Việt Nam
Đối với Việt Nam, từ khi thực hiện sự nghiệp đổi mới, sự ổn định chính
trị luôn được đảm bảo, cùng với sự ổn định chính trị là chính sách ngoại giao
mềm dẻo, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, đa dạng hóa, đa
phương hóa trong quan hệ với khẩu hiệu "Việt Nam muốn là bạn với tất cả
các nước trên thế giới vì hòa bình, hợp tác và phát triển".
Sự ổn định chính trị - xã hội gắn với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, kiên trì con đường
đổi mới có nguyên tắc là nguyên nhân của mọi thành công, trong đó có việc
thu hút đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Việt Nam đang là thành viên quan trọng trong khối ASEAN,
tích cực thực hiện các cam kết khu vực mậu dịch tự do ASEAN . Đồng thời,
là thành viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế
khác, tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản... Việt Nam cũng đã ký kết Hiệp
định đối tác kinh tế với Nhật Bản, đang đàm phán Hiệp định đối tác xuyên

trợ cấp không phù hợp với các cam kết quốc tế.
Do đó, mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài phải
đảm bảo chính sách khuyến khích đầu tư phù hợp với nền kinh tế thị trường,
định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng đơn giản, minh bạch, nhất quán, xoá
bỏ sự phân biệt đối xử giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; xây dựng
trình tự, thủ tục đơn giản thuận lợi không chỉ cho các nhà đầu tư mà cho cả cơ
quan Nhà nước nhằm bảo đảm chính sách đến được các nhà đầu tư, tạo lòng
tin cho nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế hăng hái, tự tin sử dụng mọi
nguồn lực cho đầu tư, kinh doanh.


20
1.2.4.2 Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào
Mục tiêu điều chỉnh của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Lào nhằm
mở rộng các ngành kinh doanh thu hút vốn và ngoại tệ vào lưu thông trong
nước, khuyến khích xuất khẩu và tìm kiếm thị trường nước ngoài để từ đó
tiếp thu và học hỏi trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, phát
triển và nâng cao trình độ cho người lao động trong nước, tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người dân lao động, từ đó góp phần cải thiện và nâng cao
đời sống xã hội.
Vì mục tiêu nêu trên mà nội dung cơ bản pháp luật về đầu tư nước
ngoài của Lào quy định những nguyên tắc trong hoạt động đầu tư, các loại
hình và ngành nghề đầu tư, các biện pháp khuyến khích, bảo hộ và quản lý
việc đầu tư trong nước và nước ngoài. Và quan trọng nhất đó là việc quy
định quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
1.2.5 Những điểm tương đồng và khác biệt là cơ sở để hoàn thiện pháp
luật phù hợp với điều kiện của Việt Nam và Lào
1.2.5.1 Nhưng điểm tương đồng là cơ sở để hoàn thiện pháp luật phù hợp
với điều kiện của Việt Nam và Lào
Một là tương đồng về điều kiện kinh tế - xã hội:

Hiện nay, cả Lào và Việt Nam đều đã xây dựng qui hoạch phát triển
tổng thể về kinh tế - xã hội đến năm 2020, là cơ sở để hai nước có thể thu hút,
khuyến khích đầu tư nước ngoài.
Hai là tương đồng về chính trị:
Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VII tháng 6 năm 1991 và
Hội nghị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào lần thứ 7 (khóa IV)
tháng 12 năm 1989 vẫn khẳng định kiên trì lãnh đạo đất nước theo con đường
chủ nghĩa xã hội và tiến hành công cuộc đổi mới xây dựng đất nước.
Hiện nay, cả hai nước đều duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa với một
Đảng cầm quyền và lãnh đạo. Do vậy, nhiều quan điểm trong xây dựng và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status