Hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

SOUMALY SEMPHIMMACHACK

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở NƯỚC
CHDCND LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường
Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa
Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên
cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.

: Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

ĐTTT

: Đầu tư trực tiếp

ĐTGT

: Đầu tư gián tiếp

WTO

: Tổ chức Thương mại Thế giới


MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀ PHÁP
LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở LÀO VÀ VIỆT NAM ..................................... 6

1.1. Khái quát về đầu tư trực tiếp.............................................................. 6
1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ............................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp .......................................................... 9
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của đầu tư trực tiếp............................................... 12
1.2. Pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam ........................................... 14
1.2.1. Khái niệm pháp luật đầu tư trực tiếp .............................................. 14
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp tại
Việt Nam................................................................................................. 17
1.2.3. Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam ... 21


3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước
CHDCND Lào .......................................................................................... 59
3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước
CHDCND Lào theo kinh nghiệm của Việt Nam ..................................... 61
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước
nước CHDCND Lào theo kinh nghiệm của Việt Nam ........................... 65
3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện về hình thức pháp luật đầu tư ............. 65
3.3.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật đầu tư ...... 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ............................................................................... 72
KẾT LUẬN..................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 75


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư trực tiếp ngày nay đang là một xu thế chung của thời đại, nó
không những có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nước đang phát
triển mà còn đối với ngay cả nền kinh tế các nước phát triển. Động thái chi
phối của hoạt động đầu tư trực tiếp luôn được quyết định bởi cơ chế lợi ích
của các bên tham gia hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư trực tiếp sẽ tiếp tục
phát triển khi nó đem lại lợi ích cho cả nhà đầu tư lẫn nền kinh tế tiếp nhận
đầu tư, trong đó nó đem lại các điều kiện để giải quyết hai vấn đề cơ bản nhất
hiện nay đó là vốn và kỹ thuật – hai vấn đề quan trọng và cơ bản nhất đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa của các nước đang phát triển.
Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư trực tiếp tại Lào đã đạt được
những thành tự quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào sự tăng trưởng kinh
tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại

CHXHCN Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình
với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tiếp tục hoàn thiện các
quy định của pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp tại Lào.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu pháp
luật về đầu tư nói chung cũng như đầu tư trực tiếp nói riêng như:
Ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả Việt
Nam về vấn đề đầu tư trực tiếp như luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Khắc
Định với đề tài “Hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài trong xu
hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư ở nước ngoài”, luận văn thạc sĩ luật
học “Vấn đề khuyến khích vào bảo hộ đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt
Nam” của Bùi Giang Nam (năm 2000), luận văn thạc sĩ “Pháp luật quản lý
nhà nước về đầu tư – những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Duy
Nam (năm 2013), luận văn thạc sĩ “Pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp


3

nước ngoài tại Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của Đỗ
Phương Hiền (năm 2014),…
Về pháp luật đầu tư Lào, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu
như: luận văn thạc sỹ luật học của Souliya Pouamgpadith “Các biện pháp
khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào”; luận văn thạc sĩ của Nor Keo Kommadam với đề tài “Pháp luật về
bảo đảm đầu tư trực tiếp ở CHDCND Lào” (năm 2008); luận văn thạc sỹ luật
học của Phutsaydy Phanyasith “Pháp luật về khuyến khích đầu tư ở nước
CHDCND Lào – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (năm 2008);…
Các công trình kể trên chủ yếu đề cập tới các biện pháp đảm bảo hoặc khuyến
khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Lào nói chung từ đó đưa ra các giải pháp
trên cơ sở pháp luật và thực tiễn Lào mà chưa có công trình nào nghiên cứu

học hỏi.
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở
nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam. Theo đó,
luận văn trả lời cho các câu hỏi, từ kinh nghiệm của Việt Nam thì phương
hướng để hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào là gì
và các giải pháp cụ thể để thực hiện các phương hướng đó.
6. Phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp duy vật biện chứng,
phương pháp duy vật lịch sử… Trong đó phương pháp chủ yếu là so sánh,
phân tích tổng hợp.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và
hoàn thiện pháp luật Lào trên cơ sở học tập kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật
của Việt Nam. Với việc nghiên cứu những quy định pháp lý mới nhất của


5

Việt Nam, những đề xuất của luận văn sẽ là những đề xuất có tính mới và có
căn cứ khoa học cho việc
8. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo kết cấu
của luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề khái quát về đầu tư trực tiếp và pháp luật về
đầu tư trực tiếp ở Lào và Việt Nam.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ở Lào trong sự so
sánh với pháp luật đầu tư trực tiếp của Việt Nam.
Chương 3. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư
trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam.

Nguyễn Thị Lan Phương, Hoàn thiện pháp luật vè khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2005
2
Nguyễn Thị Lan Phương, Hoàn thiện pháp luật vè khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật
học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2005


7

như: cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm
thiết bị, xây mới…nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng.
Ở góc độ pháp lý thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các
hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm
mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác3.
+ Luật đầu tư 2014 quy định: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ
vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ
chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế;
đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.” Với việc thu
hẹp khái niệm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư, khái niệm đầu
tư kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư 2014 đã quy định cụ thể, chi tiết
và khái quát được hết các nội hàm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật
đầu tư 2014.
+ Ở nước CHDCND Lào, khái niệm đầu tư được hiểu rất rộng. Theo đó
tại khoản 1 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư năm 2009 có quy định: “Đầu tư
có nghĩa là nhà đầu tư sử dụng vốn hữu hình và vốn vô hình vào kinh doanh
sản xuất”.
Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư, xuất phát từ cách
tiếp cận hoạt động đầu tư khác nhau mà quan điểm khác nhau. Mặc dù cách
diễn giải và cách thức tiếp cận khác nhau song tựu chung lại các quan điểm
này đều thống nhất với nhau về bản chất của hoạt động đầu tư. Theo đó, “đầu

Như vậy, có thể thấy ĐTTT là hoạt động đầu tư do chủ ĐTTT quyết
định về các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quản lý vốn, quản lý quá trình sản
xuất,… Hoạt động ĐTTT thường gắn liền với hoạt động quản lý trực tiếp của
nhà đầu tư. Người đầu tư cũng đồng thời là người trực tiếp quản lý điều hành
hoạt động đầu tư, là người nắm giữ các cương vị then chốt, quyết định hướng
đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc đầu tư. Đầu tư trực tiếp là sự
đầu tư gắn chặt với hoạt động kiểm soát vốn, nhà đầu tư có thể thấy ngay
được hiệu quả của việc đầu tư.
4

Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp
chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
5
Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp
chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.


9

1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp
Từ khái niệm ĐTTT nêu trên, có thể phân loại hoạt động ĐTTT theo
các tiêu chí chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư: ĐTTT trong nước và ĐTTT
nước ngoài. Đầu tư trực tiếp trong nước là việc các nhà đầu tư trong nước bỏ
vốn vào hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước mình và trực tiếp quyết định về
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quản lý vốn, quản lý quá trình sản xuất đó.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự bỏ vốn dài hạn của cá nhân hay công ty
nước này vào nước khác bằng cách thực hiện hoạt động kinh doanh thương
mại nhằm mục tiêu lợi nhuận và cá nhân hay công ty nước ngoài thực hiện
hoạt động đầu tư được quyền quản lý hoạt động kinh doanh của mình tại nước
mà họ thực hiện hoạt động đầu tư. Như vậy hoạt động ĐTTT trong nước và

dài hạn bởi các chủ đầu tư khi trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh
thương mại, ngoài việc họ mang nguồn “vốn đầu tư” từ nước ngoài sang thì
họ phải tiến hành một chu trình kinh doanh thương mại hoàn chỉnh nhằm thực
hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài. Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải
có một quan hệ lâu dài giữa nhà ĐTTT và doanh nghiệp nhận ĐTTT, do đó
nguồn vốn đầu tư trong trường hợp này được xác định là vốn dài hạn6 [7, tr9].
Thứ ba, mục đích đầu tư trực tiếp là nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đầu tư
trực tiếp là một hình thức kinh doanh theo cơ chế thị trường, các nhà ĐTTT
được xác định là tư nhân, vốn đầu tư là vốn tư nhân, họ bỏ vốn thực hiện hoạt
động kinh doanh và họ cũng phải chịu hoàn toàn về lỗ và lãi của hoạt động
kinh doanh đó. Vì vậy, trong ĐTTT, tìm kiếm lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu
của các chủ đầu tư 7.
Thứ tư, vốn đầu tư:Vốn đầu tư là loại vốn tích lũy được trong hoạt động
sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tập thể và nhà nước nhằm thực hiện đầu
tư để mở rộng sản xuất và dịch vụ hay tạo ra năng lực sản xuất mới. Trên giác
độ quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia làm hai loại là nguồn vốn trong nước
và nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, hoạt động đầu tư cũng được phân chia
thành hai hình thức cơ bản là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Nguồn
6

Nor Keo Kommadam, Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ Luật
học trường Đại học luật Hà Nội, 2008
7
Nor Keo Kommadam, Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ Luật
học trường Đại học luật Hà Nội, 2008


11

vốn đầu tư bao gồm: những tài sản hữu hình như tiền vốn, đất đai, nhà cửa,

Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp
chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.


12

1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của đầu tư trực tiếp
Đối với tổng thể một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã hội
mà còn tạo ra những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế. Đối với các
nước đang phát triển, tác dụng chủ yếu của ĐTTT nước ngoài và các nhà đầu
tư trong nước là tăng tích lũy vốn và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ. Do thu
nhập của các nước đang phát triển thấp nên tích lũy thấp mà tỷ lệ nhu cầu đầu
tư cao, vốn đầu tư nước ngoài sẽ góp phần thu cho ngân sách Nhà nước thông
qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài. Thông qua hợp tác với nước
ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới.
Thông qua thu hút hoạt động ĐTTT, giúp những nước đang phát triển thoát
khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các nền
kinh tế phát triển.
Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế. Nhằm đạt được tốc
độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn thì việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh
tế là thực sự cần thiết. Việc tăng trưởng đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu
vực công nghiệp và dịch vụ sẽ thuận lợi hơn so với đầu tư phát triển ngành
nông nghiệp. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do một số hạn chế về
đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao là rất
khó khăn. Vì vậy, hoạt động đầu tư sẽ quyết định quá trình dịch chuyển cơ
cấu kinh tế ở các nước nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ
nền kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát
khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên,

hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới
của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã
hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã
lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư11.

10
11

Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình đầu tư nước ngoài, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
Vũ Chí Lộc (1997), Giáo trình đầu tư nước ngoài, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.


14

Tuy nhiên, không phải ĐTTT chỉ mang lại những tác động tích cực cho
các bên mà nó cũng mang lại những tác động tiêu cực đến nền kinh tế xã hội
của các quốc gia. Các tác động tiêu cực đó được thể hiện ở một số điểm như:
(i) Hoạt động ĐTTT thúc đẩy sự phát triển không đồng đều giữa thành thị với
nông thôn, đẩy nhanh quá trình phân hoá giầu nghèo trong xã hội; (ii) Thông
qua ĐTTT, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận phải những thiết bị lạc
hậu, gây ô nhiễm môi trường; (iii) Đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó các
doanh nghiệp nước ngoài cũng như các nhà đầu trong nước có thể dẫn đến sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau và bị phá sản. Có thể thấy hoạt
động đầu tư tác động đến nền kinh tế theo hai mặt, vì vậy, trong điều hành vĩ
mô nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách cần thấy hết tác động hai mặt
này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác
động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
1.2. Pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam
1.2.1. Khái niệm pháp luật đầu tư trực tiếp
Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, lúc đầu, khi ngôn ngữ viết chưa

có đối tượng điều chỉnh riêng, phương pháp điều chỉnh riêng và do đó, nằm
trong hệ thống ngành luật thống nhất.
- Có quan niệm cho rằng pháp luật ĐTTT là một bộ phận hay một chế
định của tư pháp quốc tế, bởi các quan hệ đầu tư mà nó điều chỉnh có yếu tố
nước ngoài, chủ thể đầu tư là cá nhân, tổ chức nước ngoài; địa điểm đầu tư là
thị trường nước ngoài,…
- Có quan niệm cho rằng pháp luật ĐTTT không thuộc một ngành luật
nào mà là ở vùng giao thoa của nhiều ngành luật, song gần gũi với ngành luật
kinh tế.
- Có quan niệm coi pháp luật ĐTTT chỉ là một bộ phận của pháp luật
thương mại, bởi quan niệm có tính phổ biến trên thế giới, trong đó có quan
niệm của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong các Hiệp định của Tổ
chức này, đầu tư chỉ được coi là một trong các hành vi thương mại.
Những quan niệm về pháp luật đầu tư trên chủ yếu xuất phát từ góc độ
học thuật của khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa, từ quan niệm phân chia


16

pháp luật thành các ngành luật, nhằm tạo ra cơ sở khoa học cho hoạt động xây
dựng pháp luật. Những quan niệm đó không tồn tại trong các hệ thống khoa
học pháp lý khác, trong các hệ thống pháp luật khác. Quan niệm pháp luật đầu
tư là một bộ phận của tư pháp quốc tế cũng có phần không chính xác, bởi cá
nhân, tổ chức đầu tư nước ngoài có quốc tịch nước ngoài, song cá nhân, tổ
chức đó với tư cách là chủ thể kinh doanh (đầu tư trực tiếp) lại là các pháp
nhân có quốc tịch Việt Nam; vốn đầu tư đưa vào kinh doanh của họ chịu sự
điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Từ những lý do trên, và từ mục tiêu thực tiễn của luận văn, tác giả tiếp
cận khái niệm pháp luật ĐTTT từ góc độ pháp luật thực định. Có thể định
nghĩa pháp luật đó như sau: Pháp luật đầu tư nước ngoài là tổng thể các quy

đặc biệt quan trọng. Chức năng tổ chức và quản lý nhà nước trong lĩnh vực
ĐTTT có phạm vi rộng, gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần được xác lập
như: xác định các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, hoạch định chính sách
thu hút ĐTTT, các chế độ thuế, tài chính, ngân hàng,… Toàn bộ quá trình quản
lý hoạt động ĐTTT đòi hỏi sự hoạt động tích cực của nhà nước nhằm tạo ra
một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy quá trình ĐTTT phát triển đúng hướng của nền
kinh tế, mang lại hiệu quả thiết thực cho đất nước. Do tính chất phức tạp và
phạm vi rộng của các quan hệ pháp luật ĐTTT, nhà nước không thể trực tiếp
tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô,
mang tính chất hành chính – kinh tế. Quá trình quản lý hoạt động ĐTTT không
thể thực hiện được nếu như không có pháp luật về ĐTTT.
1.2.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp
tại Việt Nam
Trước khi Luật đầu tư 2005 được ban hành, hệ thống pháp luật về đầu
tư được chia làm hai mảng là đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước. Theo
đó, các quy định về đầu tư cũng được tách thành các quy định về đầu tư dành
cho nhà đầu tư nước ngoài và các quy định đầu tư dành cho nhà đầu tư trong
nước và chúng cũng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.


18

Về đầu tư nước ngoài, cơ sở pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc thu
hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là nghị định 115/CP ban hành điều lệ
đầu tư nước ngoài do Chính phủ ban hành ngày 18/4/1977. Nghị định ra đời
nhằm cụ thể hóa chủ trương “Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa
nước ta với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng
và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩ xã hội” của Đảng. Điều 1 của
Nghị định quy định: “Chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

đầu tư nước ngoài đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, đánh dấu sự
thành công của chính sách “mở cửa” hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và
Nhà nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế có tính cạnh tranh cao thì so
với một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan… các biện pháp ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư
nước ngoài. Trước tình hình đó, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lại một
lần nữa được thay đổi và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992
được ra đời. Đạo luật này đã bổ sung biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà
đầu tư nước ngoài trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi. Các quy
định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cũng được hoàn thiện như: xây dựng các mức ưu
đãi về thuế, giá thuê đất, giá điện nước và công nhân, và một số chính sách hỗ
trợ đầu tư khác.
Mặc dù vậy, để đáp ứng được yêu cầu phát triển, thay đổi không ngừng
của nền kinh tế hội nhập quốc tế của Việt Nam thì Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1996 lại được ban hành thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam năm 1992 nhằm mục tiêu minh bạch và chuẩn xác hóa các biện
pháp thu hút đầu tư, song một số quy định pháp lý về thu hút đầu tư có liên
quan đến đất đai, chính sách tài chính… vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu
cầu của các nhà đầu tư, vì vậy Luật đầu nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 ra
đời. Ngoài việc tiến hành cải tiến chính sách đầu tư liên quan đến thuế, đất
đai, thủ tục cấp giấy phép đầu tư hoặc cho phép nhà đầu tư tham gia hợp đồng
hợp tác kinh doanh được trực tiếp mua ngoại tệ, luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam 2000 còn từng bước xóa bỏ bảo hộ đối với nhà đầu tư trong nước,
tạo môi trường pháp lý đầu tư bình đẳng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status