Đề bài:
Văn bản 1: Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 1 - 4:
“Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như đất cày , như lụa
Óng tre ngà và mềm mại như tơ
Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm , dấu ngã chênh vênh”
( Lưu Quang Vũ – Tiếng Việt )
1- Văn bản trên thuộc thể thơ nào?
2- Chỉ ra và phân tích biện pháp tu từ được sử dụng chủ yếu trong văn bản.
3- Văn bản thể hiện thái độ, tình cảm gì của tác giả đối với tiếng Việt.
4- Viết đoạn văn khoảng 6 – 8 câu, trình bày suy nghĩ của anh ( chị) về trách
nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở giới trẻ ngày nay.
Văn bản 2: Đọc văn bản sau đây và trả lời câu hỏi từ câu 5 - 8:
“Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu
của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi.
Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn , nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn , nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”
( Hồ Chí Minh)
5- Anh ( chị) hãy đặt tên cho đoạn trích.
6- Chỉ ra phép liên kết chủ yếu được sử dụng trong đoạn trên.
7- Đoạn trên viết theo phong cách ngôn ngữ nào? Đặc trưng?
8-Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào để thể hiện lòng yêu nước trong câu :
“ Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ to lớn , nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn , nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước.”
Gợi ý:
Bài Làm
Học là quá trình cả đời phân đấu mà bể học là vô tận nên Lê nin đã nói "Học, học
nữa, học mãi". Nhưng không phải cứ muốn học thì có thể thành tài ngay được mà
trước hết phải vật lộn với muôn vàn khó khăn ban đầu thì từ từ ta mới có thể học
lên cao nữa và gặt hái được nhiều thành quả hơn. Chẳng thế mà ngạn ngữ Hi Lạp
đã có câu: "Cái rễ của học hành thì cay đắng nhưng quả của nó thì ngọt ngào”
Học hành là quá trình ta tích lũy, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm của biết bao thế
hệ đi trước để lại, biến nó thành của mình rồi áp dụng vào thực tiễn hoặc mở rộng,
đào sâu hơn những kiến thức đó. "Cái rễ đắng cay" của học hành là những khó
khăn, trở ngại mà con người ta vấp phải khi bắt đầu tiếp cận với những nguồn tri
thức mới. Còn "cái quả ngọt ngào" của nó là những thành công ta gặt hái được sau
một quãng đường dài ráng công học tập. Để có hiểu rõ hơn câu ngạn ngữ trên,
chúng ta hãy tưởng tượng cây muốn đứng vững thì rễ cây phải bám sâu từng chiếc
rễ nhỏ xuống lòng đất, nhưng đê có được một chiếc rễ to và chắc khỏe như thế thì
không hề đơn giản. Từ đó ta có thể hiểu được ý nghĩa của câu ngạn ngữ này là: nếu
chúng ta có cố gắng, có quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập thì chúng ta
sẽ thu đưọc những kết quả mĩ mãn như mong đợi.
Thành qua luôn khiến người ta khao khát nhưng muốn với tới nó, ta phải trải qua
rất nhiều đắng cay. Quá trình học hành cũng thế con đường đi của học vấn không
bao giờ rải hoa hồng. Bởi khi đứng trước một bể kiến thức bao la vô tận, con người
ta dễ bị choáng ngợp, run sợ. Rối khi tiếp cận với từng phần kiến thức mới mẻ
hoàn toàn, con người dễ bị nản chí bởi không phả: cứ học, đọc là nhớ đuọc, áp
dụng lại càng khó. Lúc này phương pháp học là một cứu tinh, tự thân mỗi ngưòi
phải tìm cho mình một phương pháp học thích hợp với sở trường, hoàn cảnh, trí
nhớ và cả khả năng tư duy của minh. Đỏ là một quá trình dài, mòn mỏi tìm tòi,
sáng tạo, tham khảo nhiều nguồn để rút ra một phương pháp tối ưu cho mình. Có
nhiều người đến đây rồi phải lạc lối nhiều lần mới tìm được đường ra. Rổi sau đó,
nắm đưọc phương pháp, ta còn cả một quá trình rèn luyện, phấn đấu tìm và tiếp thu
kiến thức. Bên cạnh đó để được trọn vẹn kiên thức thì ta phải trải qua quá trình
kiểm chứng, sàng lọc những cái cần thiết, tổng hợp hoặc phân chia theo chuyên
BÀI LÀM
Không phải ai cứ muôn là có thể trở thành nghệ sĩ, dù niềm mong muốn đó có
mãnh liệt, thiết tha đến đâu. Để trở thành một nghệ sĩ, điều kiện cần thiết đầu tiên
là phải có tài, hay nói cách khác là một cái gì đó thuộc về năng khiếu bẩm sinh.
Nhưng tài chưa đủ, người đó cần phải có một cái tâm trong sáng, một nhân cách
cao đẹp. Thương đời, lo cho đời, cho con người, từ đó nhà văn mới có những mong
ước cao đẹp, ý thức trách nhiệm, ý thức thiên chức của một “kĩ sư tâm hồn” và tài
năng của mình được phát huy cao độ. Cái tài chính là khả năng tối ưu của nhà nghệ
sĩ thực hiện những dự định cao cả, để đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nghệ
thuật. “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác
phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác
phẩm của mình”.
Nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng là “lĩnh vực của cái độc đáo”. Đó chính
là một hoạt động của con người ở lĩnh vực văn hoá tinh thần. Người sáng tạo và
hoạt động sáng tạo, sản phẩm sáng tạo phải đáp ứng được những đòi hỏi đặc thù
của lĩnh vực nghệ thuật đó: sự “độc đáo”. Đối với lĩnh vực khoa học thực nghiệm
điều khác là rõ ràng, nhưng ngay trong từng bộ môn nghệ thuậi cũng phải có
những đặc trưng riêng. Trong văn chương cũng phải như thế.
Bán thân nghệ thuật (trong đó có văn chương) là lĩnh vực của cái mới lạ, cái đẹp
mà trong cái đẹp đã bao hàm sự độc đáo. Vì thế, nó đòi hỏi rất cao ở người nghệ sĩ
năng lực sáng tạo.
Quá trình sáng tạo tác phẩm văn học là một quá trình sản xuất riêng lẻ, cá biệt. Nó
không chấp nhận sự sản xuất hàng loạt rập khuôn, máy móc. Người nghệ sĩ phải là
người vừa thiết kế vừa thi công công trình của mình chứ không phải là ai khác. Nói
như Xuân Diệu “sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm”. Và khi thơ ra đời,
nó phải đem lại cho người đọc những điều người ta chưa biết, chưa rõ, những điều
mới lạ trong cuộc sống. Mà muốn thực hiện được điều đó thì không dễ dàng một
chút nào, “nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật”.
Con người thường có những mơ ước sáng tạo. Và người nghệ sĩ cũng vậy Nói như
khơi, và sáng lạo những cái gì chưa có”, tạo nên cái “gì đó rất riêng, mới lạ ” trong
tác phẩm của ông.
Cũng là một nhà văn hiện thực phê phán cùng thời với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng... nhưng Nam Cao lại có những nét rất khác
biệt với những tác giả ấy. Nếu họ thường tiếp cận đời sống ở những bình diện xã
hội rộng lớn thì Nam Cao lại khám phá ở góc độ đời thường, với những số phận
nhỏ bé. Đi vào tác phẩm của Nam Cao, ta toàn gặp những chuyện đời thường nhỏ
nhặt như Một bữa no, Một chuyện xúvơnia, Một đám cưới, Nửa đêm, Làm tổ,...;
với những số phận rất cụ thể hiện nay ở đầu đề như Lão Hạc, Chí Phèo, Dì Hảo...;
với nhữg trạng thái sinh động của con người như Cười, Nước mắt, Đời thừa,…
Ngay cả trong tiểu thuyết của ông như Chuyện người hàng xóm, sống mòn cũng
vậy. Phạm vi bao quát của các tác phẩm tiểu thuyết có thể có quy mô rộng lớn hơn,
nhưng trong văn của ông ta cũng chỉ gặp một xóm. Bài thơ, một ngôi trường ngoại
ô. Và trong đó, con người vẫn hiện lên trong cuộc sống đời thường, với những gì
thật nhất, quen thuộc nhất. Họ sống với nhau, họ yêu thương nhau, cãi lộn nhau và
còn hằm hè, khinh bỉ nhau nữa. Dường như đối với Nam Cao, quan tâm đến số
phận con người thì trước hết hãy quan tâm đến con người đời thường, xem họ sống
ra sao, trước khi có thể gợi họ là con người giai cấp, con người xã hội.
Nhưng vượt khỏi cái phạm vi đời thường nhỏ hẹp, quanh quẩn bên cuộc sống của
người nông dân và người trí thức nghèo, Nam Cao luôn gửi gắm qua tác phẩm một
ý nghĩa triết lí nhân sinh, triết lí xã hội sâu sắc và thâm trầm. Chính sự tìm tòi,
khám phá, phát hiện từng cảnh đời, mảnh đời nhỏ bé đó mà Nam Cao đã thấy sâu
sắc hơn hết chiều sâu tội ác của xã hội. “Ngươi nọ, người kia không đáng để ta
khinh ghét. Cái đáng nguyền rủa là cái xã hội kia. Nó đã tạo ra những con người
tham lam và ích kỉ” (Sống mòn). Chính xã hội xấu xa là nguyên nhân đẩy con
người tới chỗ cùng cực về vật chất, tha hoá vẻ tâm hồn. Tiếng kêu từ tác phẩm của
ông là tiếng kêu đòi phá tan cái xã hội vô nhân đạo để trả lại quyền sống cho con
người. Nhưng tiếng nói bức thiết hơn trong tác phẩm của ông lại chính là lời cảnh
mâm bát là đến ngay, để rồi bị người đời khinh rẻ. Chí Phèo trong truyện ngắn
cùng lên cũng bị người ta xa lánh bởi Chí đã nhận tiền của Bá Kiến rồi đi sây gổ.
Đau đớn lắm, thương xót lắm, nhưng ta cũng giận họ biết bao nhiêu. Và xót xa hơn
là những con người trí thức cũng bị cắn rút bởi miếng cơm manh áo. Điền khổ, Hộ
khổ, Thứ khổ vì không đủ tiền nuôi gia đình; khổ vì cứ muốn bay cao lên với
những ước mơ cao đẹp nhưng lại bị miếng cơm manh áo “ghì sát đất”. Hộ đâm ra
giận dữ với vợ con, mang tất cả cái khổ nghề nghiệp vì cuộc sống ra mà đổ lên đầu
những người thân yêu. Anh đối xử phũ phàng, thậm chí có lúc anh đã nguyền rủa
họ. Thứ trong tiểu thuyết sống mòn cũng khổ sở không kém. Cả một nhóm trí thức
đến bữa ăn cãi nhau toang toang như họp làng, chi li từng đồng liền bát gạo, nghĩ
xấu về nhau, chơi xỏ nhau, xỉ nhục nhau,... Nhìn nhừng con người như thế ta
không đớn đau sao được?
Lạnh lùng miêu là họ, nhưng Nam Cao không vùi dập họ, ông chỉ cảnh tỉnh con
người hãy giữ vững nhân cách của mình trước hiện thực xấu xa, đầy những độc tố.
Ông mô tả những con người tha hoá, lưu manh và ông cũng rất thiết tha ca ngợi
những con người đã biết vươn lên hoàn cảnh để giữ vững nhân cách tốt đẹp. Anh
Đĩ chuột (Nghèo) thà thắt cổ tự tử chứ không để vợ con nợ nần thêm những món
tiền để phục dịch mình. Lão Hạc dù nghèo dù khổ, dù không muốn động vào món
tiền của con lão cũng không làm những việc như xin bả đánh chó. Lão chết bằng
nắm bả xin của Binh Tư để giữ phẩm giá của mình. Cách giải quyết như thế là tiêu
cực, nhưng biết làm sao được khi lão sống trong một xã hội phi nhân tính. Lão chết
nhưng nhân cách trong sáng và cao đẹp của lão còn mãi. Hay những Thứ, những
Hộ,... cũng vậy, dù có bị cuộc đời quăng quật, có lúc đã không giữ được tư cách
một trí thức chân chính, nhưng rồi rốt cuộc, những con người đó đều biết hổ thẹn,
tự vấn lòng và thấy mình như “một thằng khốn nạn” rồi họ khóc vì hối hận, để rồi
ngày mai họ có thể sẽ sống đẹp hơn, tốt hơn.
Với Nam Cao, nhân phẩm của con người là nỗi niềm trăn trở day dứt nhất. Ông
luôn muốn con người ta phải sống đẹp hơn, thiện hơn trong mỗi giây phút của đời
minh và không hao giờ bị sai ngã vì những cái nhỏ mọn. Ông cảnh tỉnh những kẻ
đánh mất nhân cách, ông xót xa cho những người bị lăng nhục và ông ca ngợi
lòng nhân ái cao độ thì ông đã chẳng thấu hiểu được bi kịch trong những nhân vật
như Hộ, như Điền, như Thứ. Chính bút pháp khách quan, lạnh lùng này đã khiến
ngòi bút Nam Cao lách sâu được vào sự thật, có sự đào sâu, tìm tòi mới mẻ trong
cả đề tài người nông dân và đề tài người trí thức - những đề tài đã quá quen thuộc
trong văn học; nhưng chưa ai nói được một cách sâu sắc, thâm thía bi kịch tinh
thần trong cuộc sống của người trí thức hay thảm hoạ bị lưu manh hoá, bị xã hội
làm thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân như nhà văn Nam
Cao.
Những nhà văn hiện thực khác thường xây dựng nhân vật qua hành động, bằng cốl
truyện. Nam Cao khắc hoạ nhân vật của mình bằng cách đi sâu vào nội tâm nhân
vật. Ông có năng lực phân tích tâm lí sắc sảo để làm rõ bản chất nhân vật. Nam
Cao sử dụng những dòng độc thoại nội tâm để nhân vật tự thể hiện mình, vì vậy,
nhân vật cùa Nam Cao thường hiện lên qua tác phẩm trong những dòng suy tưởng.
Chẳng ai có thể tin Hộ là người thương vợ con, có ý thức trách nhiệm với nghề
nghiệp nếu chỉ toàn thấy những hành động cục cằn. thô lỗ của anh mà không đọc
những suy ngẫm của anh về gia đình, về nghề nghiệp qua những đoạn nhà văn để
cho Hộ tự độc thoại. Hộ không thể tàn nhẫn với Từ, và Hộ không cẩu thả trong văn
chương, bởi anh nghĩ rằng sự cẩu thả trong văn chương là đê tiện.
Nam Cao rất ít khi miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại hình nhưng nếu có thì cũng
chỉ để khắc hoạ tâm lí nhân vật. Chí Phèo đang trong trạng thái say, chân bước
loạng choạng, nên tàu lá chuối cũng được tả như “giẫy đành đạch" Thứ (Sống
mòn) đang buồn khổ vì cuộc đời, tâm lí đang có phần suy sụp nền Nam Cao viết:
“Mắt y đã nghiêm trang, trán y đã lo âu”... Và có lẽ chính việc để nhân vất, đặc
biệt là nhân vật trí thức, suy tưởng nhiều nên trong tác phẩm của Nam Cao luôn có
giọng điệu triết lí sâu sắc. Những triết lí về đời, về thái độ của con người như
“nước mắt là miếng kính biến hình của vũ trụ”, “con người ta chỉ xấu xa trước đôi
mắt ráo hoảnh cùa phường ích kỉ” (Nước mắt) hay “văn chương không cần đến
những người thợ khéo tay, làm theo một kiểu mẫu đưa cho...” (Đời thừa). Những
sốt trước khát vọng, trước sức vươn lên của chính mình.
Điều kì diệu mà con người đã làm nên, đó là cuộc - sống - hôm - nay và con người - hôm - nay. Từ những bước đầu chập chững trong rừng già nguyên thuỷ,
đến những gian truân, cực nhọc qua đêm trường trung cổ, đến kỉ nguyên rực rỡ của
chủ nghĩa xã hội - thời gian này là những bước mở màn... Điều gì đã giúp con
người đủ nghị lực và sức mạnh trải qua con đường sỏi đá ấy? Đó là tình yêu thiết
tha, sôi nổi đến cuồng nhiệt đối với cuộc sống.
Bằng tình yêu cấy, con người đã làm nên tất cả đề ngày càng hiểu biết hơn, khám
phá được nhiều hơn để sáng tạo thực tại xã hội. Những bước trưởng thành của con
người được lịch sử ghi nhận. Nó chứng tỏ sức mạnh bất diệt của con người.
Bên cạnh những môn khoa học khác, tồn tại một ngành nghệ thuật: đó là văn học.
Đối với con người, văn học hoàn toàn gần gũi. Văn học đã gắn với tuổi thơ của con
người từ những câu ca dao mượt mà: Con cò mà đi ăn đêm, Đêm qua tát nước đầu
đình, từ những câu chuyện cổ tích trữ tình về một cô Tấm xinh đẹp, hiền thảo, về
một chàng Thạch Sanh dũng cảm, một chú mèo đi hia vui nhộn... Con người
trưởng thành dần lên với những cầu chuyện, những bài thơ ca ngợi cái đẹp vĩnh
cửu của thiên nhiên và con người, nguyền rủa và xa lánh những điều xấu xa, độc
ác... Đối với con người, văn chương trở thành món ăn tinh thần, món ăn không thể
thiếu được. Văn chương đi suốt chiều dài lịch sử loài người. Văn chương bầu bạn,
theo con người mà lớn lên.
Sự tồn tại có lẽ là vĩnh cửu như vậy của văn chương chứng tỏ giá trị mà nó mang
theo. Nó chứng tỏ rằng các ngành khoa học khác không thể thay thế nổi nó. Các
ngành khoa học khác đã đem đến cho con người những hiểu biết toàn diện về cuộc
sống, về xã hội, chỉ trừ một điều phức lạp, tinh vi nhất trong những điều phức tạp
và tinh vi: đó là tình cảm của con người. Nghiên cứu về tâm hồn của con người,
văn chương làm ta hiểu biết chính ta hơn, khám phá những khúc ngoặt quanh co
của lòng mình, làm con người có ý thức sáng tạo lại mình, hoàn thiện mình trở nên
tốt đẹp hơn, ... Con người là thành phần cơ bản, là chủ nhân của xã hội. Văn
chương tác động đến con người, nghĩa là nó chứa những tia sáng vô hình xoay nắn
và cải tạo xã hội. Hoàn toàn chính xác khi đồng chí Phạm Văn Đồng nhận định:
“Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã
mỗi hình tượng ấy, ta đều thấy hơi thở phập phồng của sự sống, thấy những quy
luật bất diệt của thiên nhiên, đều thấy sự hiện diện của trái tim và khối óc, thấy
nhưng điều rất riêng nhưng lại hết sức chung. Và chính sức mạnh của văn chương
là chỗ đây. Nhờ hệ thống hình tượng ta hiểu được bản chất, quy luật của đời sống,
cảm nhận được những ngoại lệ, những cá biệt. Văn chương khác các ngành khoa
học khác là ở chỗ đó: các ngành khác phần lớn chỉ chấp nhận những nét đặc trưng
và cơ bản để nêu lên thành định lí, định luật, ... và loại trừ cá biệt. Hình như chỉ có
văn chương, nghệ thuật là quan tâm đến cá biệt ấy. Chính vì thế rất riêng mà cũng
rất chung, ta được trang bị bởi con mắt toàn diện. Ta biết những cái lớn, nhưng lại
hiểu điều rất nhỏ, ta cảm nhận được những điều lớn lao, lại cả những điều tinh vi
nhất. Nhờ văn học, ta lại càng hiểu chính mình hơn. Ta thấy được một anh bộ đội
nhớ nhiệm vụ, nhớ đồng đội rất cụ thể qua bài Nhớ của Phạm Tiến Duậl:
Cái vết thương xoàng mà đi viện
Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo
Nằm ngừa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ bến
Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèn.
Nhưng cũng lại thấy những tấm lòng như vậy của biết bao anh bộ đội khác, những
con người quên mình vì nhiệm vụ, biết và hiểu rất đúng về trách nhiệm vẻ vang
của mình.
Rõ ràng, nhờ văn học, con mắt của ta được mở rộng nhiều, hiểu biết nhiều hơn và
khám phá nhiều hơn. Văn học đến với ta không bằng những lời “hô to gọi giật”,
không bằng những pho trương bên ngoài. Muôn đời, văn học là con người, con
người thắm thiết, dung dị, con người với tất cả những gì đẹp nhất.
Phản ánh hiện thực là quy luật chung của văn học. Đã là quy luậl thì không một tác
phẩm nào vượt ra được ngoài quỹ đạo đó. Ngay những câu rên rỉ của thi sĩ lãng
mạn đòi cho họ một tinh cầu giá lạnh, một vì sao trơ trọi cuối trời xa cũng phản
ánh một cuộc sống ngột ngạt trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám
và sự chán chường của cả một lớp thanh niên. Song một khi quy luật ấy trở thành
thông. Trong truyện, nhà soạn nhạc Êđua Grigơ đã sáng tác tặng Đanhi Pêđecxen
một bản nhạc nhân dịp cô tròn mười tám tuổi. Bàn nhạc ấy đã làm cho cô nghe
thấy tiếng động của biển quê, nghe thấy rừng thông vi vu trong gió, thấy tiếng tù
và lưng núi, thấy bài hát về người con gái…; nghĩa là bản nhạc ấy đã làm sống dậy
trong cô tất cả vẻ đẹp của quê hương cô, của cuộc đời, vẻ đẹp ấy làm cho cả những
người lớn tuổi như chú Ninxơ của cô cũng phải “lảo đảo như một chàng say rượu”,
còn làm cho chính cô phải kêu lên “Hỡi cuộc sống, ta yêu người!”.
Tất cả những điều kì diệu ấy Pauxtôpxki đã mang đến cho ta. Những tác phẩm như
thế nâng cánh cho tâm hồn con ngươi, làm cho cuộc đời của ta “sẽ không qua đi vô
ích”, như chính chú Ninxơ đã nghĩ về Đanhi.
Văn học mãi là bạn của con người, bên cạnh con người. Nó giúp con người có
niềm tin, có sức mạnh, có khát vọng, có nhiệt tình để sáng tạo thực lại xã hội.
Tất cả những điều văn học đem lại cho con người giúp con người hiểu biết, khám
phá và sáng tạo thực tại xã hội như một sự hưởng thụ - hưởng thụ và tiếp nhận
những gì cao đẹp, trong sáng nhất. Hương thụ đem đến cho người đọc cảm giác về
cái đẹp - khoái cảm thẩm mĩ. Văn học giúp đỡ và “dạy khôn" (C.Mac) con người
nhiều lắm. Nhưng những điều nó mang đến cho ta lại hết sức nhẹ nhàng, và những
điều ấy cứ từ từ ăn sâu và bền vững trong tâm hồn ta. Vì thế, những điều văn
chương dạy ta trở nên có tác dụng rất lớn.
Và cũng vì thế, thái độ của những người thưởng thức văn chương không thể giống
như nghiên cứu luận cương, báo cáo khoa học khác, cầm cuốn sách trên tay, hãy
đừng bao giờ đọc lướt qua chỉ để nắm lấy vài tình tiết éo le, mùi mẫn, hoặc để nắm
lấy cốt truyện rồi thôi. Hãy đến với văn chương như trái tim đến với trái tim, tâm
hồn đến với tâm hồn. Hãy tìm đến văn chương với khái khao mãnh liệt, với niềm
tin yêu và trách nhiệm đối với cuộc sống. Chỉ khi đó, văn chương mới có tác dụng
với bạn. Và chỉ khi đó, văn chương mới thực sự là bạn của con người.
Hiểu về nghĩa vụ lớn lao cùa những người cầm bút, thiết nghĩ, các nhà văn có trách
nhiệm hơn trong sáng tác, sáng tác không đơn thuần là chuyện “giải trí”, là chuyện
Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững
Lưng đeo gương tay mềm mại bút hoa
Trong và thực, sáng hai bờ suy tương
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hoà.
Qua bao phong ba lịch sử, dân tộc ta đã thể hiện một sức sống mãnh liệt “Lưng đeo
gương tay mềm mại bút hoa. Bên cạnh ý chí độc lập dân tộc, bao giờ cũng sẵn sàng
giáng sấm sét vào đầu kẻ thù, chúng ta còn có một tấm lòng yêu tấm lòng yêu này
tiếp thêm sức mạnh cho ý chí ấy và là khởi nguồn cho chúng ta tạo nên một nền
văn học tuyệt vời. Văn học dân tộc là một thứ máu của tổ quốc. Dòng máu văn học
ấy chảy trong lòng dân tộc ta suốt chiều dài lịch sử, qua biết bao thác ghềnh và
thấm vào tâm hồn chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực mãnh liệt. Yêu biết
bao nền văn học ấy, nền văn học mà nội dung cũng như hình thức đều chứng tỏ sức
sống, sự vươn lên của con người Việt Nam.
Sức sống ấy bắt đầu bằng tình yêu đất nước, yêu thiên nhiên vồ cùng tha thiết và
trong sáng. Mỗi mảnh đất quê hương chúng ta đều mang hơi thở cuộc sống cùa
những ngày cha ông gian khổ khẩn hoang vỡ đất. Con người Việt Nam đổ mồ hôi,
xương máu, gắn chặt tâm hồn mình với mảnh đất thiêng liêng ấy. Thiên nhiên đất
nước giàu đẹp nhưng cũng lắm thử thách, hăm doạ rập rình theo mỗi bước đi lên
của con người Việt Nam. Mặc dù vậy, tình ta yêu đời, tình là yêu cuộc sống vẫn là
âm hưởng chủ đạo ngày ngày vang lên trong cuộc sống gian khổ mấy cũng vui
được, cái vui vừa ngời chói, vừa trong sáng lạ lùng:
Hỡi cỏ tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.
Vẻ đẹp của thiên nhiên, vẻ đẹp của lòng người quyện vào nhau trong câu ca dao
mượt mà, khơi lên và chảy đằm thắm trong lòng ta một sức sống vừa dễ dàng, vừa
rạo rực, mãnh liệt. Con người Việt Nam yêu lao động, biết quý vô cùng những giọt
mồ hôi mình đổ ra để chắt chiu xây dựng cuộc sống. Tình yêu lớn ấy đôi với đất
nước, những đồng cam cộng khổ vất vả hàng ngày đã sớm gắn bó con người Việt
Khi Khôi Huyện quân không một đội
(Bình Ngô Đại Cáo)
để đi đến ngày toàn thắng, giang sơn gấm vóc thu về một mối.
Sức sống của niềm tin vào chiến thắng ở ngày mai luôn xốc con người Việt Nam
vượt qua mọi trở lực làn bạo của quân thù. Chúng ta đánh giặc bằng tất cả sức
mạnh của sông núi, của truyền thống lịch sử. Mọi sức mạnh, mọi tiềm lực của đất
nước đều được huy động ra mặt trận. Chúng ta yêu sự sống và sự sống ấy là sức
mạnh, là sức sống của chúng ta. Văn học dân tộc đã lưu lại cho con cháu mai sau
hình ảnh rất đẹp cầu những người áo vải chân không mang tình yêu và lòng căm
thù xông lên giết giặc. Đây chính là hình ảnh những nghĩa sĩ trong những ngày đầu
tiên chiến đáu chống Pháp ở đất Nam Bộ được nhà thơ mù, thiết tha yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu khắc hoạ thành công trong tác phẩm nổi tiếng là Văn tế nghĩa
sĩ cần Giuộc:
Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nùi sắm dao tu, nón gõ,
Hoa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Sức bật ấy là sức bật của lòng căm thù, của tình yêu tổ quôc thiết tha. Mỗi lần đọc
lên, sống với hình ảnh ấy, chúng ta cảm thấy có cái gì đang thôi thúc ta, cuồn cuộn
đẩy ta tới trước. Ôi ! Ngàn lần tự hào được làm con cháu của cha ông đã có một
sức sống mãnh liệt như vậy!
Qua văn học, sức sống ấy không những chỉ thể hiện trong nội dung tác phẩm mà
còn rung lên mãnh liệt, sảng khoái ở ngay hình thức thể hiện.
Dân tộc ta, văn học ta trước mọi mưu mô đồng hoá của kẻ thù vẫn giữ cho mình
một sức thái riêng biệt, hết sức độc đáo. Chống lại dã tâm đồng hoá bằng chữ Hán
của bọn phong kiến phương Bắc, cha ông ta đã sáng tạo, xây dựng một nền văn
học chữ Nôm phát triển khá rực rỡ, kết tinh bằng một Truyện Kiều bất hủ. Những
vần thơ lục bát của dân tộc Việt Nam vượt qua mọi phong ba của lịch sử, vượt qua
mọi sự tấn công của các thể thơ Trung Quốc vẫn giữ được uyển chuyển đáng yêu
lên ấy không có một sự đàn áp nào của thực dân Pháp có thể ngăn lại được. uMặt
trời chân lí chói qua tim", đốt nóng trong lòng người chiến sĩ cách mạng một ý chí
chiến đấu mãnh liệt. Sức sống, sức quật khỏi ấy bùng nổ dữ dội trong lòng xã hội
thực dân, làm lung lay và cuối cùng lật đổ nhào cả cái chế độ tàn bạo ấy. Sức sống
dân tộc trào dâng, cuồn cuộn sinh lực vào một ngày tháng Tám lịch sử, cách mạng
đã thành công.
Ngực lép bấn ngàn năm, trưa nay cơn gió mạnh
Thổi phồng lên, Tim bỗng hóa mặt trời.
... Gian khổ thì nhiều, nhưng sức sống và lòng lạc quan của ta là vô tận. Vượt qua
những chặng đường hành quân “vắt với sương, ngô bung, xôi nhạt, nước lưng
bương”, cứ khi đêm đến, vào một nhà dân, hạ ba lô bên bếp lửa thì mỗi ngày như
được kết thúc bằng một niềm vui. Sức sống của con người Việt Nam kháng chiến
thật là kì diệu.
Những năm tháng đánh Mĩ cứu nước ngời chói trong lòng ta những chiến công và
niềm tự hào vô bờ bến. Bót đồn thù đè nặng bóng tối quê hương ta, bà mẹ miền
Nam căm thù quân giặc, thề “còn cái lai quần cũng đánh” (Người mẹ cầm súng Nguyễn Thi). Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đi vào máu thịt, vào đời sống hàng
ngày của nhân dân miền Nam quyết đánh và quyết thắng giặc Mĩ xâm lược. Cách
sống của chị út Tịch cũng là phương thức sông của nhân dân ta, nó biểu hiện một
sức sống tuyệt vời, vượt lên mọi bạo lực của quân thù. Triệu tấn bom không dập tắt
được tiếng hát của chúng ta trên đường Trường Sơn, tình người Việt Nam sáng
ngời trong lửa đạn:
Có nơi đâu trên trái đất này
Người vẫn ngọt ngào qua muôn nỗi đắng cay
Sống chết từng giây mưa bom bão đạn
Lòng nóng bỏng căm thù vẫn mát tươi tình bạn.
Một người nước ngoài nói : “Nếu người Việt Nam thua đế quốc, thì cả loài người
sụp đổ” Câu nói ấy khẳng định sức mạnh, sức sống của chúng ta. Bên mâm pháo
hắn máy bay Mĩ, vẫn thắm tươi một cành đào (Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi - Nguyễn