VỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH - Pdf 31


BÁO CÁO

VỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH Trình bày: Nguyễn Thái Dương
Viện Kỹ thuật Nông nghiệp và Công nghệ sau Thu hoạch
4. Phương hướng ưu tiên phát triển kỹ thuật nông nghiệp và công nghệ sau thu
hoạch trong 10 năm tới

GIỚI THIỆU CHUNG TỈNH QUẢNG NGÃI

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ VỀ CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CÔNG NGHỆ SAU
THU HOẠCH

1. Mục tiêu và các mẫu đánh giá

2. Trình bày

2.1 Sản xuất nông nghiệp

2.2 Chăn nuôi

Xã Đức Phong - Huyện Mộ Đức

Xã Phổ Châu - Huyện Đức Phổ

Xã Hạnh Phước - Huyện Nghĩa Hành

Xã Tĩnh Thọ - Huyện Sơn Tịnh

Xã Nghĩa Thọ - Huện Tư Nghĩa

Xã Sơn Hải - Huyện Sơn Hà

Đánh giá về xây dựng năng lực


triệu km
2
. Lãnh thổ trải dài 1,650km từ 8
0
03’ đến 23
0
22’ vĩ độ bắc và 102
0
08’ đến 109
0
28’
kinh độ đông. Việt Nam có thủ đô là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn
nhất.

Việt Nam chiếm phần lớn diện tích phía đông Bán đảo Đông Dương, là một dải đất hình chữ
S với các vùng núi, duyên hải và đồng bằng.

Có thể chia Việt Nam thành 04 vùng chính. Ở Tây bắc là vùng núi với đỉnh núi cao nhất là
Fansipang (3,143m) nằm giáp biên giới với Trung Quốc. Phía Đông là Đồng bằng Sông
Hồng, vùng đất hình tam giác nằm song song với Vị
nh Bắc Bộ. Ở phía Nam là Tây Nguyên
kéo dài từ tây bắc xuống đông nam và một vùng duyên hải miền trung Việt Nam. Vùng thứ 4
nằm ở phía Nam là Đồng bằng sông Cửu Long, một vùng đất đai bằng phẳng. Nếu dựa vào
đặc điểm sinh thái, Việt Nam có thể được chia ra làm 07 vùng. (Xem phụ lục 1)

Nông nghiệp, ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam, cùng với hai ngành lâm và ngư nghiệp
chiếm tới 70% lao động và 90% người nghèo sống tại các vùng nông thôn. Nông nghiệ
p tập
trung tại hai vùng chính là Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long. Đất đai ở
hai vùng trên có độ màu mỡ cao ngoài những nơi mà việc kiểm soát lũ đã làm thay đổi dòng

tích 4 triệu ha với diện tích trồng trọt đạt 7,7 triệu ha chủ yếu tại hai vùng đồng bằng Sông
Hồng và Sông Cửu Long. Hiện nay, nông dân tại các vùng trên có nhu cầu lớn về máy móc
nông nghiệ
p về gieo trồng, cấy và gieo mạ có thể đáp ứng với truyền thống canh tách nông
nghiệp; các máy móc giúp thu hoạch lúa năng suất cao với ít thất thu và tránh phá hoại những
cánh đồng lúa nước. vv… Nhu cầu của nông dân tại hai vùng đồng bằng về những loại máy
trên là rất lớn.

- Về sản xuất mía đường: Việc sản xuất mía đường tại Việt Nam đã phát triển với tốc độ rất
cao trong những n
ăm gần đây. Hiện nay, có 283.000 ha được sử dụng để trồng mía với năng
suất 14 triệu tấn. Tuy nhiên việc trồng mía và thu hoạch được thực hiện chủ yếu bằng lao
động tay chân. Điều này khiến cho năng suất thấp và nông dân phải lao động với cường độ
cao. Hơn nữa, lá mía sau thu hoạch thường được chất lại để đốt dẫu cho nông dân sẵn sàng sử
dụng chúng làm phân hữu c
ơ.

Tại Việt Nam, chưa có nhiều loại máy móc chuyên dụng để giải quyết những nhu cầu ngày
càng cao của người trồng mía

- Về Thuỷ lợi: Cho đến nay, công nghệ trữ nước đã phát triển tại nhiền quốc gia nhưng ở Việt
Nam, vấn đề trên vẫn là thách thức lớn. Nhu cầu dùng nước cho sản xuất nông nghiệp vẫn còn
rất lớn, chiếm 70% tổng số nước sử
dụng. Điều này yêu cầu phải phát triển công nghệ và kỹ
thuật cũng như các vấn đề liên quan đến đảm bảo nguồn nước, đặc biệt cho mùa màng và các
vùng đất hạn hán nơi các nguồn nước rất hạn chế. Những công nghệ trên bao gồm thủy lợi
cục bộ, thuỷ lợi ngầm, thuỷ lợi kết hợp với bón phân và làm cỏ

b. Về sơ chế và lư
u trữ nông sản


Tất cả những vấn
đề trên cũng là nững thách thức đối với ngành kỹ thuật nông nghiệp. Để
giảm thất thu và tăng cường hiệu quả kinh tế và chất lượng của các nông sản chính của Việt
Nam như lúa gạo, cà phê, hạt điều, hoa quả tươi (như vải, cam, nhãn, dừa vv..) cũng như đưa
các sản phẩm chế biết đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế, và yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, cần phải cải tiến kỹ thuật và công nghệ
trong lĩnh vực trên càng sớm càng tốt nhằm thực hiện thành công những mục tiêu về phát
triển đất nước trong những năm tới.

Liên quan đến vấn đề đào tạo, một hệ thống các trường đại học, các trường trung học chuyên
nghiệp và kỹ thuật đào tạo các kỹ s
ư, nhân viên kỹ thuật đã được hình thành. Dưới cơ chế
quản lý đổi mới của nền kinh tế thị trường, hầu hết các máy móc nông nghiệp đều thuộc tài
sản của nông dân và các đơn vị sản xuất cá thể. Cùng với việc cơ giới hoá mạnh mẽ và đa
dạng trong nông nghiệp, hệ thống đào tạo hiện nay đã không được thực hành đủ và tương
xứng. Hiệ
n nay, các kỹ sư, nhân viên kỹ thuật và người vận hành máy móc tại các đơn vị sản
xuất trong ngành nông nghiệp không có nhiêu cơ hội được tiếp thu những công nghệ mới và
vận hành các thiết bị ngoại nhập. Đặc biệt, việc đào tạo và cải thiện các vấn đề về an toàn, bảo
hộ lao động và môi trường trong quá trình sản xuất bị bỏ mặc hoặc không được quan tâm
thích đáng. Tỷ lệ tai n
ạn trong việc vận hành máy móc nông nghiệp và giao thông vẫn còn rất
cao và ngày càng tăng. Để giải quyết vấn đề trên và hỗ trợ nông dân, những người chuyên vận
hành máy móc cũng như các kỹ sư làm việc tại các đơn vị sản xuất địa phương, các tổ chức,
cần phải thành lập một trung tâm đào tạo để nâng cao hiểu biết trong kỹ thuật nông nghiệp.

2. Các chủ trương chính sách của nhà nước
Kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội năm năm 1996 – 2000 đã chỉ ra những khó khăn và nhiệm

sản phẩm…”

“Nhanh chóng áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản vận chuyển và
tiếp thị nông sản. Ứng dụng công nghệ sạch đối với việc trồng trọt và chế biến rau quả và
thực phẩm.”

c. Quyết định Số 03/2000ND-CP đề tháng Hai năm 2000 của Chính phủ về kinh t
ế trang
trại đã đưa ra các chính sách nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi hơn đáp ứng sự
phát triển mạnh mẽ của kinh tế trang trại trong thời gian tới. “Chính phủ sẽ hỗ trợ kinh phí,
khoa học – công nghệ, chế biến, bán nông sản, xây dựng cơ sở hạ tầng và tạo ra những điều
kiện thuận lợi để phát triển bền v
ững kinh tế trang trại”

d, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thành lập đề án về “Công nghiệp hoá và hiện
đại hoá trong nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 2001 – 2010” theo đó đã có 6 chương trình
của dự án được thực hiện. Có ba chương trình khác là Hiện đại hoá nông nghiệp, phát triển
công nghiệp chế biến nông sản và Cơ khí hoá và điện khí hoá nông thôn. Để hoàn thành
những mục tiêu của đề án, cần phải tập trung vào các giải pháp chính sau:

a. Tăng cường nghiên c
ứu và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện đầu tư tập trung nhằm hiện
đại hoá các trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ chế biến trong kỹ thuật nông
nghiệp…. Ưu tiên hỗ trợ nhập khẩu kỹ thuật công nghệ, các mẫu máy móc tiên tiến nhằm
nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất. Phát triển việc ứng dụng nghiên cứu về phần mềm
và tự động học.
b. Chính phủ
khuyến khích nông dân mua và sử dụng các loại máy móc bằng cách cho vay
không tính lãi hoặc với lãi suất thấp. Tăng cường cung cấp thông tin và đề nghị cho nông
dân mua máy móc và các trang thiết bị cơ giới. Thành lập các chương trình thí điểm về cơ

- Dự án về công nghiệ
p hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn giai
đoạn 2001 – 2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện trong đó có hai
chương trình nhỏ nghiên cứu về “Chương trình cơ khí hoá và điện khí hoá nông thôn” và
“Bảo quản và Chế biến nông sản”. VIAEF chịu trách nhiệm về các chương trình trên.

Chế biến nông sản và công nghệ sau thu hoạch là nhu cầu cấp thiết giúp đẩy mạnh chuyển
giao cơ cấu kinh tế và cải tiến công nghệ sản xu
ất nông nghiệp. Chỉ với việc ứng dụng máy
móc và trang thiết bị phù hợp và công nghệ, năng suất lao động và chất lượng nông sản mới
được cải thiện, sản xuất và thất thoát trong chế biến giảm sẽ giúp tạo ra một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá. Đặc biệt, thực hiện tốt các hoạt động chế biếtn nông nghiệp và sau thu
hoạch có thể cải tiến được ch
ất lượng sống của người nghèo tại các địa phương vốn bị ảnh
hưởng bởi bão lụt như Tỉnh Quảng Ngãi.

4. Phương hướng ưu tiên phát triển kỹ thuật nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch
trong 10 năm tới.

1. Cơ khí hoá về gieo trồng và sản xuất giống
- Tăng cường cơ khí hoá việc chế biến giống
- Phát triển kỹ thuật sản xuất kỹ
thuật gieo mạ, công nghiệp hoá việc cấy lúa
2. Phát triển các thiết bị và kỹ thuật trữ nước cho trồng trọt cây công nghiệp, cây ăn quả và
lương thực
3. Phát triển máy cấy, máy gieo.
4. Phát triển máy gặt, kết hợp máy gặt lúa và ngô. Ứnp dụng nghiên cứu về thu hoạch mía và
bông
5. Cung cấp máy các loại sấy khô đáp ứng nhu cầu của các nông sản cần sấy khô
6. Ứng dụng nhanh các thiết bị và công nghệ mới trong các giai

sao những dòng sông này ngắn đốc, chảy xiết thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và hạn hán
vào mùa khô.

Quảng Ngãi có nền văn hoá Sa Huỳnh được hình thành cách đây 2000 năm. Quảng Ngãi là
trung tâm của Vương quốc Champa với di chỉ
còn lại là thành cổ Châu Sa. Đến Quảng Ngãi,
du khách có thể thăm nhiều danh lam thắng cảnh như Núi Thạch Bích Tà Dương; Núi Thiên
Bút Phê Vân; Núi Thiên An Niêm Hạ vốn đã từng được ghi vào sách “Danh Sơn Đất Việt”
dưới triều Vua Tự Đức và được công nhận là di tích cấp quốc gia năm 1990.

Diện tích đất tự nhiên của Quảng Ngãi là 5135,2km
2
. Trong năm 2001, dân số Quảng Ngãi là
1.204.000 người, mật độ dân số là 234,9 người/km
2
. Theo cuộc điều tra dân số bắt đầu từ
ngày 1/1/1999, Quảng Ngãi có 26 dân tộc trong đó người Kinh chiếm 88,4%, H’re chiếm
8,7%; Cơ - 1,9%; Xơ Đăng - 1% vv. Hiện nay, Quảng Ngãi có 13 đơn vị hành chính với 217
xã và thị trấn gồm Thị xã Quảng Ngãi, các huyện Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Tịnh, Sơn Tây,
Sơn Hạ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Minh Long, Mộ Đức, Đức Phổ, Ba Tơ và Huyện đảo Lý
Sơn.

Dân cư sống ch
ủ yếu bằng nghề nông nghiệp và thu nhập vẫn còn thấp (xem Phụ lục 4); vì
vậy, tỉnh rất cần sự giúp đỡ của cả nước cũng như của các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp
nhằm tìm ra những biện pháp hữu hiệu để tăng năng suất nông nghiệp và cải thiện chất lượng
sống của người lao động.

Để phần nào đáp
ứng việc sản xuất nông nghiệp, Chương trình Phát triển Nông thôn

hoạt động trên tại các xã vùng dân tộc thiểu số;
• Xác định rõ việc xây dựng khả n
ăng và kỹ năng cần thiết đối với cán bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn cấp tỉnh và huyện để phát triển các công nghệ sau thu hoạch và chế
biến nông sản đã được chuyển giao và tập huấn cho các hộ gia đình;
• Cung cấp thông tin về các chương trình của Chính phủ và các nhà tài trợ liên quan đến
công nghệ sau thu hoạch và chế biến nông sản mà RUDEP có thể phối hợp thực hiện với
các nhóm hoạt động cấ
p hộ gia đình trong chương trình xã.

Có tổng số 7 điểm đến thăm gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 06 xã có chương
trình dự án là Đức Phong, Phổ Châu, Hạnh Phước, Tĩnh Thọ, Nghĩa Thọ và Sơn Hải với
nhiều hộ gia đình. Quy trình phỏng vấn và thảo luận được thực hiện bằng cách đưa ra bảng
câu hỏi (xem Phục lục 5 và 6)

2. Trình bày
Cuộc họp giữa Sở Nông nghi
ệp và Phát triển nông thôn Tỉnh và nhóm công tác của RUDEP

Các cá nhân phụ trách:
Phía Sở NN&PTNN

1. Ông Dương - Phó Giám đốc Sở phụ trách cơ chế
2. Ông Long - Kỹ sư/chuyên gia
Phía nhóm công tác RUDEP
1. Ông Bede Evans – Chuyên gia tư vấn phát triển Úc
2. Ông Nguyễn Ngọc Huy – Chuyên gia tư vấn phát triển Chương trình của Việt Nam
3. Ông Nguyễn Thái Dương – Tư vấn quốc gia, VIAEP, Hà Nội

2.1 Sản xuất nông nghiệp

ạ.

Đề nghị: Có thể trang bị các loại máy dũa và sấy ngô tại một số hộ gia đình hoặc một nhóm
các hộ gia đình nhằm hỗ trợ việc chứa đựng. Hơn nữa, việc sấy khô kịp thời có thể ngăn chặn
các loại nấm mốc có thể tạo ra các aflatoxin trong hạt ngô - một trong những nhân tố nguy
hiểm gây ra bệnh ung thư gan ở người.

Về
sản xuất sắn: Sắn là một trong những loại cây trồng chính ở Quảng Ngãi, diện tích gieo
trồng là 14.000ha với sản lượng hàng năm đạt 133.000tấn. Một loại sắn cao sản (KM-94 với
năng suất đạt 40 tạ/ha) đã được trồng để cung cấp cho một nhà máy chế biến sắn của tỉnh với
công suất đạt 100 tấn sản phẩm và 400 tấn sắn tươi một ngày. Tuy nhiên, nhi
ều hộ dân trồng
sắn ở những khu vực nhỏ hẹp, ở đây, sắn được sơ chế, phơi khô và được dùng làm lương thực
hoặc thức ăn gia súc.

Đề nghị: Có thể cung cấp các máy thái sắn cho các hộ hoặc một nhóm các trồng sắn. Cần đề
nghị phương pháp phơi khô lát sắn thích hợp nhằm giảm thiểu vị đắng khi không được phơi
khô kịp thờ
i. Cũng có thể cung cấp kỹ thuật cất giữ sắn của tươi cho người trồng sắn.

Về sản xuất mía đường: Tổng diện tích trồng mía là 10.000ha với sản lượng 495.680
tấn/năm. Năm tới, diện tích trồng sẽ được mở rộng lên 15.000ha nhằm đáp ứng nhu cầu của
nhà máy đường Quảng Phú và Phổ Thông vốn có thể chế biến 4,000 tấn/ngày. Hiện nay, sản
lượng mía không đáp ứng đủ nhu cầu của hai nhà máy trên.

Vấn đề lớn nhất đối với việc sản xuất mía đường ở Quảng Ngãi và việc thu hoạch. Ngoài ra,
cũng cần phổ biến kỹ thuật cơ khí hoá việc canh tác mía.
Đề nghị: (Xem “3. Đề nghị các bước tiếp theo”)


Thảo luận với lãnh đạo các xã và các hộ gia đình do RUDEP lựa chọn

Xã Đức Phong - Huyện Mộ Đức (xem Phụ lục 7)

Cá nhân phụ trách

Phía Sở NN&PTNN:

1. Ông Nhân - Quyền Chủ tịch UBND Xã
2. Ông Nguyễn Đình Long – Phó chủ tịch UBND Xã và Trưởng nhóm tiếp xúc
Về phía đoàn công tác RUDEP:
1. Ông Nguyễn Thái Dương – Tư vấn quốc gia, VIAEP, Hà Nội
2. Bà An Khang – Cán bộ phát triển cấp huyệ
n - RUDEP
Đặc điểm chính của xã
Xã bao gồm 4,078 hộ trong đó có 671 hộ nghèo. Thu nhập trung bình của một hộ là 2,5 triệu
đồng. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.711ha trong đó diện tích đất canh tác (lúa, sắn, ngô,
rau đậu, vv..) là 1.315ha; đất sử dụng cho các mục đích khác (xây dựng hệ thống giao thông,
thuỷ lợi vv..) là 974ha. Phần còn lại là vùng hoang hoá và cát trắng dọc biển.

Sản xuất nông nghiệp
Sản phẩm nông nghiệp chính của xã gồm:
Cây trồng Diện tích/ha Sản lượng, tấn/năm
Lúa 635 698,5
Sắn 130 3.120
Ngô 60 60
Mía 180 10.800

Về nông nghiệp, việc canh tác, thu hoạch và chế biến được thực hiện bằng lao động
chân tay, vì vậy khiến cho thất thu nhiều ở trong và sau thu hoạch, ví dụ đối với thu

Đường kính, m 0,90
Chiều cao mỗi thùng,m 0,46
Thể tích mỗi thùng, m
3
0,293
Lượng gạo/ngô tích trữ/ vòng, kg 140/160
Giá mỗi thùng, VNĐ 37.500
Số lượng cần có 2 – 3 thùng mỗi nhà

Đối với thùng hình hộp:
Kích thước (Dài x rộng x cao) 2 x 1 x 1
Giá tiền, VNĐ 250.000
Nhà sản xuất tại địa phương
Số lượng Một thùng cho mỗi hộ
* Dụng cụ dũa ngô và thái sắn và khoai lang giúp giảm bớt sức lao động cho người nông dân
và tạo thuận lợi cho việc phơi khô
Fig. 2 Manual maize sheller
H.2 Máy dũa ngô tay cầm
Đặc tính kỹ thuật của các dụng cụ dũa ngô:
Công suất, kg ngô/giờ 40 – 70
Cân nặng, kg 7,5
Lực vận hành bằng sức lao động
Giá tiền, VNĐ 80.000
Điều kiện lắp đặt Tại một hộ gia đình hoặc một nhóm các hộ
Số người vận hành 01
Nhà sản xuất
VIAEP, 102/54 Đường Trường Trinh, Đống Đa – Hà Nội,
ĐT: (04)8695635, Fax: (04) 8689131, E-mail:

Số lượng lắp đặt


Số lượng lắp đặt 1 máy cho 1 hộ

• Với năng suất hàng năm của lúa và ngô đạt 758,5 tấn, các loại máy sấy SH-200 và SH 1-
200 có thể được cấp cho các hộ nghèo. Các loại máy trên cũgn có thể được dùng để sấy
sắn hoặc khoai lang lát với độ ẩm dưới 25%. Sau khi sấy, máy còn có thể được dùng như
thùng đựng. 13
Lực vận hành
Than bánh, vỏ trấu, lõi ngô, củi ..
Giá tiền, VNĐ
350.000 – 550.000
Điều kiện lắp đặt
Tại một hộ hoặc một nhóm các hộ
Số người vận hành
01
Nhà sản xuất
VIAEP, 102/54 Trường Trinh, Đống Đa–Hà Nội, hoặc 4 Ngô Quyền Hà Nội

ĐT: (04)9344172, Fax (04)8269862; 8689131, E-mail:
;

Số lượng lắp đặt 4 hoặc 5 hộ có thể dùng 1 máy Chăn nuôi:

14
Gia súc chăn nuôi chính của xã là trâu bò (3.700 con) và lợn (10.000), ngoài ra còn có gà và
vịt (100.000). Thức ăn cho trâu bò là rơm rạ, cỏ voi và bột sắn. Thức ăn cho lợn gà là ngô,
sắn, thóc, cám và phần bỏ đi của hải sản với ………

Hiện nay, người chăn nuôi đã có thể mua thức ăn tổng hợp từ các chợ; vì vậy, trong
chừng mực nào đó họ gây ra sự lãng phí không cần thiết về tiền bạc và đi lại, bao bì và
phải trả cho chi phí quảng cáo sản phẩm của nhà sản xuất thức ăn chăn nuôi trong khi
các nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi lại rất sẵn có tại địa phương.

Đề nghị: Để tận dụng nguồn chất thải nông sản và hải sản có sẵn, có thể lập một trạm chế

Kích thước của rây, mm
Dài
Rộng

500
150
Kích thước của búa, mm 40 x 110
Kích thước toàn bộ (Dài x Rộng x Cao) 0,7 x 0,5 x 0,85
Cân nặng, kg 75
Giá tiền, VND 2.500.000 – 2.700.000
Điều kiện lắp đặt Một nhóm các hộ gia đình
Người vận hành 01
Nhà sản xuất Công ty Cơ khí Nam Hồng, K6 Cao tốc
Thăng Long Nội Bài, Xã Nam Hồng, Huyện
Đông Anh, Hà Nội
Đt: (04)8832623, Fax: (04)8832096

15

Trích đoạn Thu nhập bình quân:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status