LỜI MỞ ĐẦU
Hai năm trước, dư luận Việt Nam từng xôn xao về đoạn quay cảnh quan hệ
tình dục giữa một nữ diễn viên tuối học trò và bạn trai, thì thời gian gần đây cư dân
mạng lại rộ lên những clip quay lén nữ sinh cùng bạn trai vào nhà nghỉ. Bên cạnh vấn
đề về đạo đức, lối sổng của thanh niên hiện nay thì câu hỏi về quyền của cá nhân đối
với hình ảnh trong pháp luật Việt Nam cũng được đặt ra. Điều này càng đặc biệt có ý
nghĩa quan trọng trong bối cảnh các thiết bị quay phim, chụp ảnh ngày càng hiện đại
hơn: có khả năng ghi hình tù' xa, ghi hình trong bóng đêm, được thiết kế nhỏ gọn để
dễ ngụy trang, cất giấu. Hơn nữa, với sự trợ giúp của Internet thì những hình ảnh,
những đoạn clip đó được phát tán với một tốc độ nhanh chóng mặt. Vì vậy mà việc
ngăn chặn và tìm ra thủ phạm trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Có thế nói chưa bao
giờ nguy cơ bị xâm phạm hình ảnh cá nhân lại cao như hiện nay, bất cứ ai cũng có thể
trở thành nạn nhân bị xâm phạm quyền về hình ảnh.
Về vấn đề quyền của cá nhân đối với hình ảnh của mình, BLDS 2005 đã có
những quy định khá cụ thể. Tuy vậy, có vẻ những quy định đấy chưa đủ “mạnh” đế
buộc mọi người tù' bỏ thói quen sử dụng không xin phép hình ảnh của người khác.
Vậy đâu mới là giải pháp cho vấn đề này? Trước thực tế trên, bản thân em quyết định
lựa chọn đề tài: “Quyền nhân thân đối với hình ảnh cá nhân” làm nội dung nghiên
cún trong bài viết này. Mong rằng, với những khía cạnh mà bản thân hướng tới trong
bài viết này sẽ góp phần vào việc đưa ra giải pháp nhằm ngăn chặn thói quen sử dụng
trái phép hình ảnh của cá nhân như hiện nay.
NỘI DUNG
1. Khái niệm hình ành của cá nhân
Về khái niệm hình ảnh của cá nhân, cho đến nay vẫn chưa có văn bản nào quy
định rõ. Tuy nhiên dựa vào quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều
31 BLDS và thực tiễn thì có thế hiếu: “Hình ảnh của cả nhân bao gồm mọi hình thức
tác phâm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thế như ảnh chụp, ảnh vẽ,
ảnh họa chép và suy luận rộng ra có thế cả bức tượng của cá nhân đó nữa”. Hay có
thế hiếu hình ảnh cá nhân là những hình ảnh mang tính chất riêng tư, hạn chế, ở
Trong quy định này, BLDS 2005 đã bố sung thêm một số nội dung mới so với BLDS
1995. Đó là việc quy định rõ việc sử dụng hình ảnh của người dưới 15 tuổi phải được
cha, mẹ hoặc người đại diện của người đó đồng ý, nhằm điều chỉnh hiện tượng một sổ
lịch in hình trẻ em mà không xin phép. Như vậy, theo quy định về quyền đối với hình
ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS 2005 thì về nguyên tắc cá nhân đều có quyền đối
với hình ảnh của mình. Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử
dụng hình ảnh của mình. Neu chưa được sự đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền
của cá nhân đối với hình ảnh. Truông hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất trí,
không chủ động quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ dưới 15 tuổi thì phải
được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con (đã thành niên) hoặc người đại diện của
họ đồng ý. Ngoài ra, tại khoản 3 Điều 31 BLDS 2005, pháp luật còn nghiêm cấm việc
sử dụng hình ảnh của cá nhân mà xâm phạm đến nhân phẩm, danh dự và uy tín của
người có ảnh.
Thông qua quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS
2005 có thế thấy pháp luật dân sự Việt Nam đã thực sự thế hiện sự quan tâm, tôn
trọng bảo vệ của pháp luật đối với hình ảnh của cá nhân.
1.2. Quyền đăng hình của báo chí
Theo Điều 4 Luật báo chí thì công dân có quyền đuợc thông tin qua báo về
tình hình mọi mặt của đất nước và thế giới. Tương ứng với quyền đó, báo chí có
nhiệm vụ thông tin trung thực, làm diễn đàn ngôn luận của nhân dân. Trong tác
nghiệp, báo chí có quyền đăng hình đế chuyển tải thông tin tới người dân. Theo
khoản 6 Điều 4 Nghị định 133/HĐBT ngày 20/4/1992 của Hội đồng bộ trưởng, thì
việc đăng, phát ảnh người thật phải được chủ nhân hoặc người được giao quyền sử
dụng đồng ý “trừ ảnh thông tin các buổi họp công khai, sinh hoạt tập thế, các buôi
lao động, biếu diễn văn nghệ, thế dục thể thao”. Có thể thấy quy định này theo xu
hướng bảo vệ quyền hình ảnh rất chặt chẽ trong pháp luật Pháp: việc đăng phát hình
ảnh không cần sự đồng ý của chủ nhân chỉ giới hạn trong các hoạt động chính thức và
các sinh hoạt tập thể. Tuy nhiên, việc liệt kê đóng kín các trường hợp này sẽ dẫn đến
tầm thường của một sổ độc giả.
1.3. Phương thức bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân
Quyền đối với hình ảnh của cá nhân là một trong những quyền nhân thân quan
trọng. Khác các quyền dân sự khác, quyền nhân thân thế hiện trong nhiều lĩnh vục đời
sổng của cá nhân, đặc biệt có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống tinh thần của cá nhân.
Mỗi hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân ảnh hưởng sâu sắc đến đời
sống tinh thần của người bị xâm phạm. Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá
nhân trong trường hợp bị xâm phạm có ý nghĩa rất quan trọng. Trước hết, bảo vệ
quyền nhân thân của cá nhân có tác dụng kịp thời ngăn chặn các hành vi trái pháp luật
xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân, bảo đảm trật tự pháp lý xã hội và giáo
dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân. Mặt
khác, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân tạo điều kiện thuận lợi cho các quyền nhân
thân của cá nhân được thực hiện trên thực tế, khắc phục những hậu quả của các hành
vi vi phạm pháp luật, đặc biệt góp phần bảo đảm đời sống tinh thần cho mỗi cá nhân,
tạo điều kiện cho cá nhân lao động và sáng tạo. Tuy vậy, quyền nhân thân của cá
nhân có những điểm khác các quyền dân sự khác như không thể trị giá được bằng
tiền, không thể chuyển giao cho người khác, trù’ những ngoại lệ do pháp luật quy
định... Vì vậy, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong trường hợp bị xâm
phạm có một số khác biệt với việc bảo vệ các quyền dân sự khác như các biện pháp
bảo vệ được áp dụng đa dạng, việc khắc phục thiệt hại về quyền nhân thân bị xâm
phạm trong một số trường hợp phải do chính những người hành vi trái pháp luật xâm
phạm đến quyền nhân thân của cá nhân phải thực hiện, việc bồi thường thiệt hại khắc
phục thiệt hại về quyền nhân thân không thế tính toán cụ thế, chỉ là tương đối và
mang tính giáo dục là chủ yếu... Ngoài ra, hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá
nhân chịu sự ảnh hưởng rất lớn của cả các quy định pháp luật và những điều kiện xã
hội. Đe nâng cao được hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân ngoài góc độ
pháp lý thì vấn đề này cũng cần phải được quan tâm nghiên cứu, xem xét kỹ cả dưới
góc độ xã hội.
hành vi vì phạm” cũng là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có
thế áp dụng. Đây là biện pháp bảo vệ quyền đối với hình ảnh của cá nhân có hiệu quả
cao vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ quan, tố chức có thẩm quyền sẽ áp dụng các
biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy định buộc người có hành vi trái pháp luật xâm
phạm đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân chấm dứt hành vi xâm phạm hình ảnh
của cá nhân đó. Trên thực tế, biện pháp này thường được người có hình ảnh cá nhân
bị xâm phạm áp dụng trong trường hợp đã yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật
nhưng không được đáp ứng. Trong các cơ quan Nhà nước áp dụng biện pháp dân sự
thì Tòa án được xem là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn bảo vệ quyền đối với hình
ảnh của cá nhân có hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, bảo vệ quyền đối với hình ảnh của
cá nhân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ được tiến hành theo trình tự, thủ tục
chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền với hình ảnh bị xâm phạm yêu cầu Tòa án bảo vệ
phải chứng minh được quyền đối với hình ảnh của mình bị xâm phạm và hành vi xâm
phạm đó là trái pháp luật.
“ Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hạĩ’ là biện pháp bảo vệ
quyền đối với hình ảnh của cá nhân được thực hiện khi người có hành vi trái pháp
luật xâm phạm đến quyền này của cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần
cho họ. Neu có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền đối với hình ảnh của cá
nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần thì cá nhân đó có quyền yêu cầu người
có hành vi trái pháp luật bồi thường thiệt hại. Neu người có hành vi trái pháp luật đó
không chịu bồi thường thì người có quyền quyền đổi với hình ảnh cá nhân bị xâm
phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền buộc
người vi phạm bồi thường thiệt hại.
Như vậy có thể nhận thấy rằng, bảo vệ quyền nhân thân nói chung và bảo vệ
quyền đối với hình ảnh của cá nhân nói riêng có thế được chia thành hai phương thức,
đó là: Tự bảo vệ và bảo vệ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi quyền đối với
van trương khuôn mặt thánh thiện của Mai Phương Thúy” . Hay như gần đây, trên
các trang báo mạng tràn lan một dịch vụ được cho là hot đối với các đấng mày râu khi
chỉ cần nhắn “M***” và gửi tới một đầu số dịch vụ thì bất kỳ chủ thuê bao di động
nào cũng có thế sở hữu bộ sưu tập những tấm hình “nóng” của các hoa hậu, diễn viên
nối tiếng hay các hotgirl...với giá 15.000 đồng (?). Và Mai Phương Thúy lại một lần
nữa trở thành nạn nhân của hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền đối với hình
ảnh của mình. Trao đối với Zing.vn, Hoa hậu Việt Nam 2006 Mai 2
Phương Thúy khắng định cô không hề hay biết gì về chuyện ảnh của mình được rao
bán qua tin nhắn và cũng không hề có bất kỳ ai liên hệ với cô đế xin phép kinh doanh
những tấm hình đó. Tuy khá bất bình, nhưng hoa hậu khẳng định sẽ không tự’ mình
đưa ra những giải pháp cho vụ việc, mà tở ý muốn những người có trách nhiệm sẽ
quan tâm hơn đến vấn đề sử dụng hình ảnh sai mục đích: “Thúy thực sự không có
thời gian đê theo đuôi hay kiện cáo, cũng không hề có ỷ định muốn đỏi chia lợi
nhuận hay đòi bồi thưòĩĩg từ phía công ty kia dù Thúy hoàn toàn có thế. Ban thân
Thúy cũng có nhiều việc phủi lo và công việc từ thiện xã hội vẫn còn dang dở. Thủy
chỉ muốn bài báo này khỉ đến được với bạn dọc thì mọi người sẽ thông cảm cho Thủy
hơn. Còn về phía công ty kia, Thúy nghĩ họ tự biết mình đã làm đúng hay sau đê
dìmg việc họ đang làm và bạn đọc sẽ có cái nhìn công tâm về van đề này, vì nó von
dĩ đã quá phố biến ở Việt Nam. Thủy mong muốn các các cơ quan chức năng sẽ có
những biện pháp không đê việc như thế này xảy ra nữa”3.
Trên đây chỉ là một số trong vô vàn những hành vi xâm phạm quyền đối với
hình ảnh của cá nhân. Việc xâm phạm này đang ngày càng trở nên phố biến và đối
tượng thường được nhắm tới là hình ảnh cá nhân của các nhân vật có tiếng tăm trong
làng giải trí. Tuy nhiên cũng qua thực trạng này cũng có thế nhận thấy rằng, có lẽ
người Việt Nam còn quá “e dè” trong việc yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền lợi của
mình thông qua thủ tục kiện cáo. Phải chăng họ còn e ngại rằng chỉ tổ tốn thời gian,
tiền bạc đế rồi sự việc cũng chẳng đi đến đâu? Đây có lẽ là suy nghĩ phố biến của đại
đa số, tuy nhiên không phải là tất cả. Dù ít nhưng vẫn có những trường hợp sau khi
2Theo />3
khởi kiện lên Tòa án yêu cầu buộc người xâm phạm hình ảnh phải bồi thường thì mức
bồi thường sẽ được xác định như thế nào? về vấn đề này, cho đến nay vẫn chưa có bất
cứ một văn bản nào hướng dẫn, cho nên mạnh ai người ấy đòi, đòi cho bằng thích,
đến khi vụ việc phải kéo nhau đến toà án thì toà cũng chỉ theo thông lệ là... “việc dân
sự muốn xử sao cũng được”! . Đây chính là nguyên nhân khiến cho việc xác định
mức bồi thường cho các hành vi xâm phạm của mỗi Tòa lại một khác. Các tòa án
thường căn cứ vào giá trị sử dụng hình ảnh trong việc kinh doanh mà buộc người sử
dụng hình ảnh của người khác trái phép phải thanh toán một khoản tiền có thể là vài
triệu đồng, vài chục triệu và cũng có thế lên đến hàng trăm triệu đồng.
Việc sử dụng “chùa” hình ảnh cá nhân của người khác đã trở thành một thói
quen “khó sửa” của một đại bộ phận thành viên trong xã hội. Sử dụng hình ảnh của cá
nhân mà chưa xin phép là vi phạm quyền đối với hình ảnh của cá nhân. Pháp luật
nghiêm cấm những hành vi xâm phạm quyền đổi với hình ảnh của cá nhân dù việc
xâm phạm đấy có gây ảnh hưởng đến người bị xâm phạm hình ảnh hay không. Có thế
thấy rằng, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân như những trường họp vừa nêu thường
chỉ gây khó chịu cho người bị người khác sử dụng hình ảnh hoặc chỉ gây những hiếu
lầm nhỏ. Nhưng trên thực tế, có những trường hợp việc sử dụng hình ảnh cá nhân lại
có tác động xấu đến cá nhân, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc, cuộc sổng
của không chỉ cá nhân mà còn là gia đình và người thân. Đó là việc chụp ảnh, đưa tin
khi cá nhân đó chang may phải “hầu tòa”. Trên thực tế, những người “ra tòa” dù với
vai trò bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hay nguyên đơn, bị đơn... đều
cảm thấy “không tiện” hoặc “không hay lắm” nếu xuất hiện hình ảnh của mình trên
báo chí. Ớ nhiều phiên tòa, thường các đương sự luôn quay sang hướng khác hoặc cúi
đầu, lấy tay che mặt mỗi khi có người cầm máy ảnh chĩa về phía mình. Đôi khi ánh
mắt họ như năn nỉ người phó nháy hãy “bở qua” cho họ. Nhiều người cho rằng bài
báo tường thuật phiên tòa mà thiếu hình ảnh của bị cáo rõ ràng thiếu đi sự sinh động,
hấp dẫn. Bởi hình ảnh là một phần không thế thiếu trong bất cứ vụ việc “có thật” và
“đang diễn ra” nào. Thực tế này xảy ra khá phổ biến ở Việt Nam, bởi tuy BLDS 2005
cầu tòa án buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần. Như
chúng ta đã biết trong những trường hợp vi phạm pháp luật hình sự, bị toà án kết án
bằng một bản án có hiệu lực pháp luật thì các bị can, bị cáo, bị án, thậm chí là bị án tử
hình chỉ bị tước một số quyền, họ vẫn được pháp luật của Nhà nước bảo đảm để
4Theo báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh
không bị xúc phạm về thân thể cũng như nhân phẩm, danh dự. Trong khi đó hành vi
mua bán dâm chỉ là hành vi vi phạm hành chính thì lẽ nào quyền về hình ảnh cá nhân
của họ lại không được tôn trọng và bảo vệ. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì
không ai có quyền sử dụng hình ảnh cá nhân của họ khi chưa được sự đồng ý của họ.
Mà thậm chí ngay cả khi clip này không được tung lên mạng thì việc quay phim,
chụp ảnh lại mà không cho các cô gái được mặc quần áo đã là hành vi xúc phạm
nghiêm trọng danh dự, nhân phấm cần phải bị xử lý.
Qua đây có thể nhận thấy, việc sử dụng trái phép hình ảnh của cá nhân trong
trường hợp này đã gây ra một hậu quả vô cùng to lớn. Nó không những ảnh hưởng
đến nhân phấm, danh dự, công việc, cuộc sống của bản thân người có hình ảnh bị
xâm phạm mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của những người thân của
họ. Phải chăng qua thực tế này, pháp luật cũng cần nhanh chóng có những quy định
phù hợp, khắc phục những mâu thuẫn trong quy định của pháp luật này đế quyền của
cá nhân đối với hình ảnh của mình được tôn trọng và bảo vệ. 5
về quy định về quyền đối với hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS: Cá
nhân có quyền đối với hình ảnh của mình; 2. Việc sử dụng hình ảnh của củ nhân phải
được người đó đồng ỷ; trong trường họp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân
sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con dã thành niên hoặc
người dại diện của người dó dồng ỷ, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích
công cộng hoặc pháp luật có quy định khác; 3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh
của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phâm, uy tín của người có hình ảnh”,
5Hướng khắc phuc thưc trang xâm pham quyền đối với hình ành của cá nhân
Thứ hai, Điều 31 BLDS chỉ điều chỉnh hành vi “sử dụng” hình ảnh của người
khác mà không điều chỉnh hành vi “ghi hình”. Đây là một khoảng trống đáng lo ngại
của pháp luật Việt Nam, bởi ngay khi bị ghi hình thì cá nhân đã mất đi một phần
quyền định đoạt đổi với hình ảnh của mình. Hơn nữa, trong điều kiện các trang thiết
bị ghi hình ngày càng phổ biến ở Việt Nam thì nguy cơ bị chụp trộm, quay phim trộm
ở những nơi nhạy cảm như nhà nghỉ, nhà tắm hày buồng thử quần áo cao hơn bao giờ
hết. Nhưng do pháp luật dân sự không quy định hành vi “ghi hình” hình ảnh cá nhân
của người khác là vi phạm pháp luật nên nếu không thế chứng minh được người “ghi
hình” những hình ảnh đó đâ phát tán các hình ảnh này thì không thế truy cứu trách
nhiệm dân sự theo Điều 31 BLDS hay trách nhiệm hình sự theo Điều 121 và 226
BLHS.
Thứ ba, Quy định về quyền về hình ảnh của cá nhân tại Điều 31 BLDS có
quy định: “...sử dụng hình ảnh của cả nhân phải được người đó đồng ý...”, tuy nhiên
trong trong thực tế chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp việc báo chí tụ’ do đưa tin có kèm
hình ảnh của bị cáo tại phiên tòa. Việc đăng bài có kèm hình ảnh của bị cáo mô hình
chung sẽ trở thành “vết đen” trong cuộc đời của bị cáo, sẽ ảnh hưởng lớn đến công
việc làm ăn, uy tín, danh dự của bản thân, gia đình và dòng họ (dù sau đó họ có trắng
án). Theo quy định tại Điều 28, 36, 37, 38 và 39 Bộ luật hình sự thì chỉ hạn chế hoặc
tước bỏ một số quyền dân dự của bị can, bị cáo như: cấm đảm nhiệm chức vụ, làm
những nghề hoặc công việc nhất định, cấm đi khỏi nơi cư trú... Không có quy định
nào tước bỏ quyền đối với hình ảnh của một người, dù người đó là kẻ phạm tội.
Những điều kế trên lại mâu thuẫn với quy định về quyền hạn của nhà báo được quy
định trong nghị định số 51/NĐCP/2002 của chính phủ: Nhà báo “Được hoạt động
nghiệp vụ lấy tin, chụp ảnh, quay phim, ghi âm tại các phiên tòa xét xử công khai,
được dành chô ngồi riêng, được liên lạc trực tiếp với các thâm phản, luật sư đê lấy
tin, phỏng vấn theo quy định của pháp” (khoản 3 điều 8 nghị định số 5 l/NĐCP/2002
của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật báo chí, luật sửa đối bố sung
một số điều của Luật báo chí). Phải chăng theo những quy định này của pháp luật thì
sử dụng hình ảnh của người khác trái phép phải thanh toán một khoản tiền có thế là
vài triệu đồng, vài chục triệu và cũng có thế lên đến hàng trăm triệu đồng. Thiết nghĩ,
đế quyền của mỗi cá nhân đối với hình ảnh của mình được tôn trọng và không bị xâm
phạm thì pháp luật cũng nên đề ra những chế tài phù hợp với mức độ xâm phạm
nhưng cũng phải đủ sức răn đe. Nên nhanh chóng có một văn bản quy định về các
mức phạt trong từng trường hợp vi phạm cụ thể (mức hình phạt nên căn cứ vào mục
đích sử dụng hình ảnh, mức độ gây ảnh hưởng đến chủ thế có hình ảnh bị xâm
phạm...).
KẾT LUẬN
•
Quyền của cá nhân đối với hình ảnh là một quyền quan trọng trong nhóm các
quyền nhân thân. Các quy định của BLDS 2005 về vấn đề này đã khá đầy đủ, tuy
nhiên còn nhiều điểm còn hạn chế và tính khả thi chưa cao. Vì vậy, bên cạnh việc
nâng cao ý thức của người dân về việc tôn trọng, bảo vệ quyền về hình ảnh của cá
nhân khác thì việc sửa đối, bố sung những quy định của pháp luật đã nêu trên đế hoàn
thiện hơn là vô cùng cần thiết. Bởi nó sẽ tạo tiền đề để tất cả các thành viên trong xã
hội có ý thức tôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật về
quyền đối với hình ảnh của cá nhân khác. Có như vậy thì mới giải quyết được triệt đế
việc sử dụng tùy tiện hình ảnh của người khác như hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập
1), NXB Công an nhân dân, 2006.
2.
Trang web:
10.
Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh.