MỤC LỤC
Bảng 3.2. : Số lượng cán bộ địa phương và hộ phỏng vấn..............35
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số yếu tố chính ảnh hưởng tới việc ứng dụng mô hình biogas
trong chăn nuôi.................................................Error: Reference source not found
Bảng 2. 2 : Cách tính kích thước hầm biogas cho mô hình trang trại nhỏ, theo
mô hình gia đình...............................................Error: Reference source not found
Bảng 2.3 : Tình hình ứng dụng công nghệ biogas tại Nepal........Error: Reference
source not found
Bảng 3.1 : Danh mục, nguồn cung cấp và phương pháp thu thập các thông tin....Error:
Reference source not found
Bảng 3.2. : Số lượng cán bộ địa phương và hộ phỏng vấn....Error: Reference source
not found
i
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hầm biogas của một gia đình ở Bình Định..Error: Reference source not
found
ii
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp có truyền thống lâu đời, với khoảng
90 triệu dân, trong đó có khoảng 70 % dân số sống ở nông thôn và 80 % lao
động trong nông nghiệp. Trong những năm qua, nền nông nghiệp nói chung và
ngành chăn nuôi nói riêng đã có những bước phát triển liên tục, hằng năm tăng
xuất nông nghiệp là chủ yếu. Chăn nuôi đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong
kinh tế hộ gia đình và là một trong những nguồn thu chủ yếu của nông hộ. Hiện
nay, toàn huyện Hạ Hòa có đàn gia cầm trên 1,2 triệu con, đàn lợn trên 65 nghìn
con và trên 8 nghìn con trâu bò. Ngành chăn nuôi phát triển ổn định và đang trở
thành một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế của huyện. Nhiều hộ đã phát
triển chăn nuôi ở quy mô lớn, trang trại, gia trại. Tuy nhiên, cùng với nhịp độ
phát triển chăn nuôi, tình trạng ô nhiễm môi trường cũng có những diễn biến
phức tạp. Chính vì vậy, khoảng 5 năm trở lại đây, huyện Hạ Hòa đã đặc biệt chú
trọng công tác bảo vệ môi trường, xử lý chất thải chăn nuôi, để vừa đảm bảo
phát triển đàn gia súc gia cầm vừa tạo môi trường sống trong lành. Một trong
những giải pháp hữu hiệu được huyện Hạ Hòa thực hiện là xây hầm biogas quy
mô hộ gia đình. Trong đó, nổi bật là kết quả thực hiện dự án “Nâng cao chất
lượng an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học”
(QSEAP), một dự án trong chương trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương.
Đến nay, toàn huyện đã có trên 1000 hộ có hầm biogas cung cấp chất đốt cho
sinh hoạt và đảm bảo vệ sinh môi trường.
Tuy nhiên, việc ứng dụng rộng rãi công nghệ hầm biogas tại các hộ nông
dân vẫn còn hạn chế do nhiều nguyên nhân như: người dân thiếu thông tin, hiểu
biết về các chương trình hỗ trợ của Nhà nước, khó khăn trong việc tiếp cận vốn
để đầu tư hầm...Nhiều trường hợp đầu tư xây dựng, do thiếu hiểu biết về kĩ thuật
dẫn tới một thời gian không sử dụng được do hỏng hóc hay không đủ đầu vào,
từ đó làm giảm hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ này.
2
Xuất phát từ những lí luận và thực tiễn trên, em tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá hiệu quả ứng dụng hầm biogas trong chăn nuôi tại huyện Hạ Hòa
- Tỉnh Phú Thọ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
trong chăn nuôi và mở rộng hệ thống Biogas trên địa bàn trong thời gian tới?
3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ đã và đang sử dụng công nghệ hầm biogas trong chăn nuôi trên
địa bàn huyện Hạ Hòa – tỉnh Phú Thọ.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả ứng dụng
mô hình biogas trong chăn nuôi, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng việc ứng
dụng mô hình này và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng
hầm biogas trong chăn nuôi của các hộ nông dân trên địa bàn Huyện Hạ Hòa,
Tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này tôi tập trung nghiên cứu những
nội dung chính sau:
(i) Tình hình chăn nuôi và ứng dụng hầm biogas trong chăn nuôi trên địa
bàn; (ii) các lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội mà mô hình mang lại; (iii) các
yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng mô hình hầm biogas trong chăn nuôi.
* Phạm vi thời gian
+ Thời gian làm luận văn: Từ tháng 08/2014 đến tháng 06/2015.
+ Đề tài thu thập các số liệu thứ cấp trong 3 năm từ 2011 - 2013, số liệu
điều tra sơ cấp trong năm gần đây nhất 2014
*Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành trên phạm vi huyện Hạ Hòa – tỉnh Phú Thọ.
4
một lần, khí sinh ra được tích lại ở phía vòm trên của hầm. Áp suất khí lên vòm
phía trên có thể đạt 1-1.5m áp lực nước. Các chất liệu cung cấp cho loại hầm
này thường là phân và các chất thải nông nghiệp. Sản lượng khí sinh ra vào
khoảng 0.1-0.2 dung tích trên một khối lương dung tích tương đương trong
ngày, thời gian ủ trong hầm là 60 ngày trong điều kiện 250C.
Ưu điểm: Không có bộ phận nào bằng thép, chủ yêu bằng ximang, do đó
giá thành xây dựng hầm tương đối rẻ và thiết kế kĩ thuật đơn giản, dễ làm.
Nhược điểm: Khí dễ thấm qua vòm, hầm thường bị nẻ sau một thời gian
sử dụng nếu như xây không đạt tiêu chuẩn.
Loại nắp di động
Hầm này có một bể hình trụ, độ cao hầm so với đường kính hầm có một
tỷ lể trong phạm vi 2.5-4.1, được xây dựng bằng gạch, bê tông và lưới thép.
Nguyên liệu đầu vào chủ yếu là các loại phân cung cấp bán liên tục, đường lấy
bã thải ra qua một ống tháo với lượng bằng lượng nguyên liệu đưa vào hầm.
Thời gian duy trì nguyên liệu trong hầm khoảng 30 ngày đối với môi trường khí
hậu ẩm và 50 ngày với môi trường khí hậu lạnh. sử dụng phân chuồng với chất
rắn đặc, năng suất khí sản ra chiếm 0.2-0.3 dung tích ứng với khối nguyên liệu
cho vào trong ngày một cách tương đối ổn định. Áp lực khí vào khoảng 4-8 áp
lực nước.
Ưu điểm: Chịu lực tốt, sử dụng được lâu, bền. Ổn định được áp suất trong hầm.
Nhược điểm: Nắp vòm thường làm bằng thép có độ bền trung bình. Giá
thành cao, việc chống ăn mòn khó khăn do nắp phải di động.
Hầm sinh khí kiểu túi
Bao gồm một ống trụ bằng chất dẻo tổng hợp, ống nạp chất liệu vào túi và
ống tháo bã phân ra. Một hầm sinh khí kiểu túi có dung tích 50 m 3 cân nặng 270
kg dễ dành bố trí vào một rãnh nông. Nguyên liệu được nạp vào trong túi theo
kiểu bán liên tục với một khối lượng bằng với khối lượng bã được lấy ra từ cửa
nhiên, là một nguồn nhiên liệu thay thế cho các nhiên liệu rắn như than và củi đã
7
mang lại một sự thay đổi cơ bản trong lịch sử chất đốt với các vùng nông thôn. Đó là
một sáng tạo kĩ thuật quan trọng không chỉ giải quyết vấn đề năng lượng cho nông
dân và các cư dân nông thôn mà còn tiết kiệm được một khối lượng lớn nhiên liệu
cho quốc gia. Nó đã đóng vai trò to lớn trong việc kích thích sản xuất công – nông
nghiệp và còn tạo nên một sự hợp tác trong nông thôn.
Phát triển biogas còn góp phần giải quyết một số vấn đề nảy sinh khác do
thiếu chất đốt. Bã thải biogas có thể đưa ra cánh đồng làm phân bón cải thiện đất
trồng trọt và cho phép đẩy mạnh thâm canh nông nghiệp. Rơm rạ làm chất đốt
có thể dùng làm thức ăn khô cho gia súc. Một lượng lớn lao động trước đây
dùng để kiếm củi và vận chuyển than có thể đưa vào sản xuất nông nghiệp. Việc
giảm nhu cầu củi trong đun nấu góp phần làm giảm nạn phá rừng và làm tăng
diện tích rừng. Tiền để mua than và nhiên liệu rắn khác có thể tiết kiệm được và
giảm gánh nặng tài chính cho người nông dân. Số lượng than lớn mà nhà nước
cấp cho nông thôn và chi phí khổng lồ cho việc vận chuyển cũng sẽ tiết kiệm
được để đưa vào đầu tư xây dựng các lĩnh vực khác. Sau khi xây dựng biogas,
người phụ nữ nông thôn cũng được giải phóng khỏi các công việc vặt trong gia
đình và tham gia vào sản xuất nông nghiệp nhiều hơn vì khi sử dụng gas để nấu
bếp thì sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian hơn là bằng củi vì nhiệt năng mà gas
sinh ra là cao hơn. Sử dụng biogas hiệu quả cũng là một cách để tiết kiệm điện
năng và tiền bạc vì có thể sử dụng khí biogas để chạy các loại đèn thắp sáng hay
các loại máy phát điện sử dụng nhiên liệu khí này.
Kích thích sản xuất nông nghiệp
Phát triển biogas là con đường quan trọng để kích thích sản xuất nông
nghiệp, biogas làm tăng đáng kể số lượng và chất lượng phân hữu cơ, phân
người và súc vật, rơm rạ và chất thải thực vật, các loại lá cây đều có thể trở
kị khí, một phần quan trọng được chuyển hóa thành các axit amin mới do quá
trình tăng trưởng sinh khối của các vi khuẩn. Chẳng hạn với phân trâu bò, người
ta đã đo được toàn bộ các axit amin đã tăng 230% sau khi phân hủy. Để sử dụng
được nguồn này làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, người ta thường tiến hành lấy
9
bã thải lên, tiến hành sấy khô và đóng thành bánh, để giành cho gia súc, gia cầm
sử dụng trực tiếp.
Nuôi thủy sản và dùng bã thải làm thức ăn cho các thì các chất dinh
dưỡng kích thích sự phát triển của các thực vật phù du lẫn các động vật phù du
làm thức ăn cho cá. Do vậy sản lượng các tăng đáng kể.
Biogas góp phần cải thiện sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường
Phát triển chương trình biogas cũng là con đường hiệu quả để giải quyết
vấn đề phân bón và cải thiện vệ sinh môi trường, tiêu chuẩn sức khỏe ở nông
thôn. Nó là biện pháp để thủ tiêu các chứng sán, giun và các loại kí sinh trùng
khác sống trong mọi loại phân. Thu gom tất cả chất thải của gia súc và con
người vào hầm biogas là biện pháp giải quyết vấn đề chất thải tốt nhất. Viện kí
sinh trùng của nhiều nước đã công bố rằng: sau khi ủ lên men, bã thải chỉ còn rất
ít trứng các kí sinh trùng, giun sán giảm bớt 95%. Số lượng trứng sán, giun và kí
sinh trùng gây hại khác tìm thấy có thể giảm tới 99%.
Nơi nào phát triển hầm khí sinh học tốt hơn, nơi đó kiểm soát có hiệu quả
các bệnh về kí sinh trùng và bệnh giun sán, vệ sinh nông thôn được triển khai tốt
hơn, người làm nông nghiệp được bảo vệ, tiêu chuẩn chung về bảo vệ sức khỏe
được nâng lên rõ rệt.
Ngoài ra như trên ta đã nói thì trong thành phần khí sinh học do phân hủy
xác của sinh vật nên có một lượng lớn khí metan khoảng trên 50% lượng khí
thoát ra và 30% còn lại là cacbonic và hơi nước, đây là các khí góp phần to lớn
gây nên hiệu ứng nhà kính, một vấn đề nóng bỏng không kém. Như vậy, việc
tương
đối. Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí.
Hiệu quả tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
Tuy nhiên, đối với đề tài đánh giá hiệu quả sử dụng hầm biogas trong
chăn nuôi, ta tập chung đánh giá chủ yếu khía cạnh về hiệu quả kinh tế và hiệu
quả môi trường do mô hình này mang lại.
11
2.1.2.2 Hiệu quả kinh tế
Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Quan điểm truyền thống:
Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến
phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Hiệu quả
kinh tế được đo bằng các chi phí và lãi. Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ
giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị
sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành
sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn được tính toán khi kết thúc một quá
trình sản xuất kinh doanh.
Quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến hiệu quả
kinh tế. Sự thiếu toàn diện được thể hiện qua những khía cạnh sau: Thứ nhất, hiệu
quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh,
chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế lại là một
vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà
còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay không
và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền
thống chưa đáp ứng được đầy đủ. Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính yếu
tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó,
thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và chính xác. Thứ ba,
tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau trong những thời
điểm khác nhau.
- Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: các quan điểm hiện đại cho rằng
hiệu quả về tài chính phải phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến
lược tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững của các quốc gia hiện nay.
Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Cho dù theo quan điểm truyền thống hay hiện đại, hiệu quả kinh tế luôn
liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Nội dung
xác định hiệu quả kinh tế bao gồm:
- Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất,
chi phí lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, v.v...
13
- Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh tế là
các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp
với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi
được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản
xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận, v.v...
Bản chất hiệu quả kinh tế, về mặt định lượng là xem xét, so sánh kết quả thu
được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả
thu được lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế
càng cao và ngược lại.
Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực của
từng khâu, của mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản
lý sản xuất kinh doanh. Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục
tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội. Hai mặt định tính và
định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau.
2.1.2.3 Hiệu quả môi trường
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng mô hình hầm biogas trong
chăn nuôi
Có thể chia ra làm ba loại yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển
biogas: kinh tế -xã hội, tổ chức và kỹ thuật. Trong số các yếu tố trên, các yếu tố
có tác động mạnh như: giá các nguồn chất đốt khác, tình trạng kinh tế của khách
hàng, chính sách của nhà nước về phát triển và bảo vệ môi trường, phương pháp
chuyển giao công nghệ, sự tham gia của các bên có liên quan. Đánh giá hiệu
quả của mô hình hầm biogas không chỉ dựa vào số lượng hầm ủ lắp đặt được mà
chính là phải xem xét tỷ lệ hầm còn hoạt động tốt sau một thời gian.
Ngày nay, biogas không những được dùng để đun nấu, chúng còn là
nguồn năng lượng để chế biến sản phẩm nông nghiệp, sản xuất ra điện để chạy
các máy trong nông trại cũng như bán ra ngoài.
15
Bảng 2.1. Một số yếu tố chính ảnh hưởng tới việc ứng dụng mô hình biogas
trong chăn nuôi
Phân nhóm
Yếu tố
Ví dụ
Giá chất đốt
Giá củi, xăng dầu
Giá vật liệu xây dựng Giá xi măng, chất dẻo
Kinh tế - Xã
Bão lụt làm hỏng túi ủ
- Giá chất đốt: trong thời buổi giá cả leo thang, việc sử dụng chất đốt tiêu
tốn một lượng tiền không nhỏ trong chi tiêu của các hộ gia đình nông dân. Do
đó, xu hướng của các hộ đó là tìm đến các dạng năng lượng mới với giá thành rẻ
hơn nhằm cắt giảm chi tiêu. Chính điều đó đã ảnh hưởng tới việc quyết định sử
dụng công nghệ biogas hay không.
- Nguồn vốn và tình hình phát triển chăn nuôi của hộ gia đình: Muốn ứng
dụng được công nghệ biogas vào trong chăn nuôi thì trước hết phải đầu tư một
khoản vốn ban đầu cho việc lắp đặt hoặc xây dựng hầm biogas. Và hiệu quả của
mô hình phụ thuộc vào nguồn vốn đó là vốn tự có, vốn cho vay hay là được hỗ
trợ từ các chương trình dự án khí sinh học...Bên cạnh đó, muốn cho hầm biogas
sử dụng được không thể thiếu nguyên liệu đầu vào, chính là chất thải từ hoạt
16
động chăn nuôi của hộ gia đình. Để đảm bảo không lãng phí cho việc xây dựng,
các nhà khoa học đã đưa ra công thức xây dựng hầm biogas sao cho phù hợp với
quy mô chăn nuôi của hộ gia đình. Cụ thể:
Bảng 2. 2 : Cách tính kích thước hầm biogas cho mô hình trang trại nhỏ,
theo mô hình gia đình
Gia súc/thể tích
8m3
12m3
16m3
Bò sữa
đồng thời có những biện pháp hỗ trợ tích cực cho người dân từ khâu lắp đặt tới
quá trình sử dụng hầm biogas.
- Chính sách của Nhà nước: hiện nay có rất nhiều các chương trình nhằm
hỗ trợ người nông dân phát triển mô hình biogas trong nuôi, do đó, quy mô ứng
dụng công nghệ này ngày càng đường mở rộng và phát huy được hiệu quả. Do
đó, trong thời gian tới, Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ nhằm nhân
rộng mô hình này trên phạm vi cả nước.
- Kỹ thuật: quyết định tới tuổi thọ cũng như hiệu quả hoạt động của hầm
biogas. Và bao gồm các yếu tố như: nguồn nước, diện tích mặt bằng hay ảnh
hưởng của thời tiết.
17
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng ứng dụng biogas trên thế giới
Dân số thế giới ngày càng tăng khiến cho nhu cầu tiêu thụ năng lượng
cũng tăng theo nên nhu cầu về năng lượng là rất cần thiết, trong khi các nguồn
năng lượng dự trữ như than đá, dầu mỏ, khí đốt thiên nhiên và ngay cả thủy điện
là có hạn khiến cho nhân loại có nguy cơ đứng trước việc thiếu năng lượng.
Việc tìm kiếm và khai thác các nguồn năng lượng mới là một trong những
hướng quan trọng trong kế hoạch phát triển năng lượng. Và biogas là một dạng
năng lượng mới được các nước rất chú trọng trong thời gian gần đây. Nó không
chỉ mang lại các lợi ích về kinh tế mà còn mang lại các lợi ích về xã mội và môi
trường: cung cấp năng lượng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn hay bảo
vệ môi trường sống...
Hiện nay ở quy mô toàn cầu, biogas là nguồn năng lượng lớn. Tổng sản
lượng ứng dụng chiếm 9% đến 10 % tổng năng lượng trên thế giới. Theo tính
toán, nếu tận dụng xử lý được hết nguồn phế thải toàn cầu thì hàng năm người ta
có thể tạo 200 tỷ m3 khí sinh học, tương đương 150 đến 200 triệu tấn nhiên liệu
một ví dụ thành công cho thấy mô hình khí sinh học (biogas) đã có tác động tích
cực đáng kể đến các vấn đề xã hội, môi trường và kinh tế ở cấp địa phương. Tuy
nhiên, chi phí cao để duy trì hoạt động cho các hầm biogas đang là gánh nặng
cho những người sử dụng. Bên cạnh đó, chính quyền không cung cấp đủ các
khoản trợ cấp để các địa phương triển khai những chương trình khuyến khích sử
dụng khí sinh học. Do đó, những chương trình này thường có chất lượng giới
hạn, tính hiệu quả không cao và các số liệu báo cáo thiếu chính xác.
Nepal
Nepal là nước đã ứng dụng khí sinh học từ thập kỷ 80 và từ năm 1992 với
sự hỗ trợ của Dự án SNV, Chính phủ Nepal đã xây dựng Chương trình Hỗ trợ
Khí sinh học (KSH) và nhờ đó đã xây dựng thêm được rất nhiều bể KSH. Từ
chỗ chỉ có khoảng 2000 bể KSH vào năm 1991-1992 đến năm 2008, Nepal đã
xây dựng thêm mỗi năm khoảng 16 000 đến 18 000 bể KSH. Từ năm 2008 ở
Népal đã có 140 000 bể KSH cho các gia đình nông dân ở 62 địa phương và
phục vụ cho lợi ích thiết thực của 11000 hộ nông dân.
Nepal không nuôi lợn cho nên chủ yếu chỉ dùng phân và nước tiểu của
người và trâu bò. Nhờ có bể KSH mà môi trường nông thôn được cải thiện một
19
cách rõ rệt. Chuồng trâu bò sạch sẽ , không có ruồi muỗi và không có mùi hôi
thối, môi trường sống được thay đổi. Nguồn phân và nước tiểu được tận dụng và
được chuyển hóa thành các loại phân hữu cơ vừa có chất lượng cao, vừa an toàn,
lại không có mùi hôi thối và dễ cho cây trồng hấp thu, dễ chuyển thành chất mùn
làm cải thiện chất đất. Đáng chú ý là nếu chăn nuôi đủ số lượng trâu bò cần thiết
thì sẽ có đủ lượng KSH để chạy máy nổ nhỏ nhằm có điện thắp sáng và xem
TV, nghe rađiô…
Bảng 2.3 : Tình hình ứng dụng công nghệ biogas tại Nepal
Hầm biogas
Củi
59.19
Lúa
38.10
Dầu
12.16
Ngô
32.20
Đạm
8.07
Lúa mỳ
34.20
Lân
5.28
Khoai tây
42.10
Kali
8.07
Rau, đậu
30.40
Nguồn: blogtiengviet.net/nguyenlandung
2.2.2 Thực trạng ứng dụng biogas tại Việt Nam
2.2.2.1 Tình hình triển khai biogas tại Việt Nam
Biogas là công nghệ sản xuất khí sinh học, là quá trình ủ phân rác, phân
hữu cơ, bùn cống rãnh, để tạo ra nguồn khí sinh học sử dụng trong hộ gia đình
hay trong sản xuất. Sản xuất khí sinh học dựa trên cơ sở phân hủy kỵ khí các
chất hữu cơ tự nhiên hay là quá trình lên men mêtan. Nguồn nguyên liệu để sản
xuất biogas có thể nói là vô tận từ các loại bùn từ ao tù, đầm lầy, phế liệu, phế
thải trong sản xuất nông, lâm nghiệp và các hoạt động sản xuất và chế biến nông
với quy mô thương mại và thuận lợi hơn trong việc tiếp cận vốn rẻ để đầu tư vào
các công trình này.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay hầu hết các hầm
biogas nhỏ, quy mô hộ gia đình được tài trợ bởi các tổ chức phi chính phủ. Đối
với các quy mô sản xuất biogas lớn hơn, các nhà tài trợ như ngân hàng phát triển
châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới, Danida… đang bắt đầu cấp vốn. Ngân hàng
Thế giới bắt đầu xem xét cấp vốn thử nghiệm cho 8 cơ sở sản xuất biogas cho
các trang trại lớn tại 8 tỉnh. ADB đang làm việc với Chính phủ nhằm phát triển
một chương trình cho sản xuất biogas và hỗ trợ ngành nông nghiệp ít cacbon,
với nguồn vốn được chuẩn bị khoảng 150 triệu USD, trong đó một phần vốn sẽ
được dùng cho việc xây dựng 600 trạm sản xuất biogas cho 600 trang trại vừa và
nhỏ, với 20% hỗ trợ tài chính từ chương trình. Quỹ Môi trường toàn cầu cũng hỗ
trợ một phần tài chính.
Ở một vài địa phương đã có các doanh nghiệp chuyên cung cấp các dịch
vụ xây hầm biogas và các thiết bị liên quan như các máy phát, bộ lọc, hóa
chất… Một trong những công ty lớn có thể kể đến như: Hùng Vương, Nông
Thôn Việt, Hưng Việt Composite, Cẩm Tuấn Phát Composite, Môi Trường
Xanh, Anh Thái và Minh Tuấn. Hầu như không có công ty nước ngoài nào hoạt
động tại các thị trường địa phương.
Chính phủ Việt Nam đang khuyến khích các công ty tư nhân Việt Nam và
các công ty nước ngoài đầu tư vào năng lượng tái tạo, bao gồm: khí sinh học và
năng lượng sinh khối. Ví dụ, Chính phủ có tham vọng để gia tăng sự đóng góp từ
năng lượng tái tạo cho phát điện (từ 3,5% năm 2010 tới 4,5% vào năm 2020 và tới
6% vào năm 2030) cũng như gia tăng tái chế chất thải. Trong năm 2011, Chính phủ
thiết lập các mục tiêu 85% rác thải sinh hoạt đô thị phải được thu gom, trong đó
60% sẽ được tái chế; 40% rác thải sinh hoạt nông thôn phải được thu gom với 50%
được tái chế trong giai đoạn 2011-2015 và 95% rác thải đô thị được thu gom, trong
22
23