Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí trên địa bàn huyện cẩm giàng, tỉnh hải dương - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
------   ------

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí trên
địa bàn huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Tên sinh viên

: Trần Thị Huyền Trang

Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế nông nghiệp
Lớp

: KT 51B

Niên khoá

: 2006 - 2010

Giảng viên hướng dẫn

: PGS.TS.Nguyễn Văn Song

HÀ NỘI - 2010


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học


PSG.TS Nguyễn Văn Song – Bộ môn Kinh tế Tài nguyên môi trường, Khoa
KTNN & PTNT – Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội, người đã tận tình dìu
dắt, dạy bảo và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành bài khóa luận
tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các cô chú, anh
chị trong phòng Nông nghiệp huyện Cẩm giàng, các cán bộ trong Xí nghiệp
khai thác công trình thủy lợi huyện Cẩm giàng, các cô chú trong các Hợp tác
xã dịch vụ nông nghiệp. Đặc biệt tôi xin cảm ơn chân thành đến anh Vương
Đức Dũng – Phó trưởng phòng Nông nghiệp huyện Cẩm giàng và bác Vũ
Hữu Sâm – Trưởng phòng kế hoạch Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi
huyện Cẩm giàng. Mọi người đã luôn nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tốt
nhất trong quá trình thực tập, tìm hiểu thông tin, số liệu và điều tra của tôi để
tôi có thể hoàn thành tốt bài khóa luận.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè tôi
đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Huyền Trang
TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Lớp: KTB – K51

ii


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

2.1 Cơ sở lý luận

Lớp: KTB – K51

iii


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

- Tổng quan về khái niệm thủy lợi và các hệ thống công trình thủy lợi
- Vai trò của thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp và bản chất của thủy lợi phí
- Cơ sở xây dựng các chính sách và thiết lập mức thuỷ lợi phí
- Hướng dẫn về miễn thủy lợi phí
- Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.2 Cơ sở thực tiễn
- Một số công trình thủy lợi hiện nay
- Chính sách miễn thủy lợi phí
- Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về chính sách thủy lợi phí.
- Quá trình thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí của một số địa
phương trong nước.
PHẦN III. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tình hình cơ bản của huyện như:
tình hình dân số, đất đai, lao động và cơ cấu kinh tế của huyện Cẩm Giàng
qua 3 năm 2007 – 2009.
3.2 Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Chọn điều tra ngẫu nhiên trên địa
bàn 2 xã Tân Trường và Cẩm Sơn, mỗi xã diều tra 44 hộ. Phỏng vấn các đơn

Nhà nước trả thủy lợi phí. Trước đây Xí nghiệp chỉ thu được 55% đến 65%
thủy lợi phí từ phía người dân ( còn nhiều nợ đọng ), hiện nay được Nhà nước
cấp bù đầy đủ 100% thủy lợi phí.
Về tình hình thu chi Thủy lợi phí: Sau khi miễn TLP do được nhà nước
cấp bù đầy đủ nên XN có đủ tiền để chi phí và còn có lãi. Trước đây luôn
thiếu vì nợ đọng của dân quá nhiều mà không thu lại được. Như năm 2005,
XN bị lỗ 65,88 triệu đồng.
Về tình hình nợ đọng TLP: số nợ đọng TLP của dân vẫn tăng đều qua
các năm, mức đòi được phần nợ đọng là không cao. Năm 2005 chỉ đòi được
28,03 % tổng số nợ đọng TLP, năm 2006 đòi được 29,88%. Phần nợ đọng
cộng dồn đến hết năm 2007 là 1797,22 triệu là phần mất không của XN vì sau
khi miễn TLP nông dân không phải đóng góp mà vẫn được phục vụ đầy đủ
nên họ không trả những khoản nợ đọng cũ.
2. Đối với các Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ( HTXDVNN)

Lớp: KTB – K51

v


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

Về phương diện quản lý chung: Tương tự các Xí nghiệp KTCTTL về
phương diện quản lý chung không thay đổi nhiều.
Về mặt tổ chức: các cán bộ nông giang chuyển sang phục vụ nông dân
sản xuất, hoặc một số nông gian do các thôn trực tiếp thuê ( khi cần thiết).
Về thu chi: Sau khi miễn thủy lợi phí, các hợp tác xã không mất khoản
phí “ thu thủy lợi phí” và được Nhà nước cấp bù đầy đủ thủy lợi phí. Các hợp


PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận.
Thủy lợi là một yếu tố đầu vào quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và thủy lợi phí
là chi phí mà người dân phải trả để sản xuất nông nghiệp. Nhà nước đã thực hiện chính
sách miễn thủy lợi phí để bớt một phần gánh nặng và để nông dân có thêm động lực phát
triển sản xuất. Sau một thời gian thực hiện chính sách đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực
cho chính bà con nông dân và các tổ chức liên quan đến các dịch vụ thủy nông. Do chính
sách vẫn còn mới mẻ nên trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những khó khăn
và hạn chế. Vì thế cần có sự phối hợp tác động song phương từ các cấp chính quyền cần có
sự hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể và ý thức của các đối tượng trực tiếp hưởng lợi từ chính sách
miễn thủy lợi phí. Từ đó có thể phát huy hết những mặt tích cực của chính sách, góp phần
đắc lực phát triển nông nghiệp nông thôn.
5.2 Kiến nghị
- Đối với Chính phủ: Nhà nước cần điều chỉnh chính sách về việc cấp bù TLP để có
sự công bằng, hợp lý và để duy trì tốt các hoạt động. Cần chú trọng hơn trong việc tu sửa,
xây dựng và bảo vệ các hệ thống công trình thủy lợi.
- Đối với UBND các cấp: Cần giảm bớt các thủ tục hành chính rườm rà trong việc
cấp bù TLP, cấp đúng, đủ và kịp thời. Hỗ trợ, phối hợp với các tổ chức dưới quyền trực
tiếp liên quan đến chính sách để quản lý và sử dụng các công trình thủy lợi và thực hiện
chính sách một cách thiết thực nhất.
- Đối với các Xí nghiệp KTCTTL: Làm đúng tinh thần, trách nhiệm đước giao, đảm
bảo kịp thời, đầy đủ và nhanh chóng trong các dịch vụ thủy nông. Tăng kinh phí cho việc
tu bổ, sửa chữa và nâng cấp các công trình thủy lợi.
- Đối với các HTX DVNN: Nâng cao tinh thần trách nhiệm làm việc của cán bộ. Có
các giải pháp mới trong việc kinh doanh đa dịch vụ để tăng thu nhập.
- Đối với nông dân: Nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn các công trình
thủy lợi, bảo vệ môi trường nội đồng.

Lớp: KTB – K51


Lớp: KTB – K51

ix


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

DANH MỤC ĐỒ THỊ
[15] Theo Trung tâm đào tạo và hợp tác quốc tế. Hệ thống các công trình thủy lợi (2005) 92
Website: .....................................92
Ngày truy cập 12/02/2010....................................................................................................92
[17] UBND tỉnh Hải dương – Quyết định ban hành mức thu làm cơ sở miễn thủy lợi phí
cho nông dân và lập dự toán cấp bù thủy lợi phí trên địa bàn tỉnh Hải dương. 20/12/2009 93

Lớp: KTB – K51

x


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

DANH MỤC SƠ ĐỒ
[15] Theo Trung tâm đào tạo và hợp tác quốc tế. Hệ thống các công trình thủy lợi (2005) 92
Website: .....................................92
Ngày truy cập 12/02/2010....................................................................................................92

KHTS
KPCĐ
SX
TLP
TS
TTN
UBND
XDCB
XN
XNKTCTTL

Lớp: KTB – K51

Bảo hiểm y tế - Bảo hiểm xã hội
Bảo vệ thực vật
Cán bộ nhân viên
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Công trình thủy nông
Công trình thủy lợi
Doanh nghiệp
Dịch vụ
Dịch vụ thủy lợi
Đồng bằng sông Hồng
Đơn vị tính
Hợp tác dùng nước
Huyện Đảng nhân dân
Hợp tác xã
Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp
Hợp tác xã nông nghiệp
Khu công nghiệp

vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Trong quá trình đổi mới, đường
lối đúng đắn của Đảng về phát triển nông nghiệp nông thôn đã khơi dậy
nguồn động lực to lớn của nhân dân, đưa đến những thành tựu quan trọng.
Những năm qua sản xuất nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện, liên tục,
với tốc độ cao ( bình quân tăng 4,3% / năm). Cơ cấu kinh tế nông thôn bắt
đầu chuyển dịch theo hướng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Kim ngạch
xuất khẩu nông lâm thủy sản tăng nhanh, một số mặt hàng có giá trị xuất
khẩu lớn ( gạo, cà phê, cao su, tôm…) Cơ sở hạ tầng nhất là hệ thống thủy
lợi được tăng cường, việc tưới tiêu đồng rộng thuận lợi hơn, giúp năng suất
nông sản cao hơn. Đời sống của đại bộ phận nông dân được cải thiện. Nhiều
nhân tố mới trong nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới xuất hiện. Những
thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế xã
hội đất nước, đồng thời tiếp tục khẳng định vị rất quan trọng của nông
nghiệp, nông thôn nước ta. Hiện đại hóa hệ thống tưới tiêu là nhiệm vụ quan
trọng trong sự nhiệp phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững và đã được
khẳng định trong các văn kiện của Đảng & Nhà nước.Thuỷ lợi thực sự trở
thành một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu tư,
đóng vai trò hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nước và
nâng cao đời sống nhân dân. Chính vì thế chính sách về thủy lợi cũng được
Nhà nước chú trọng, đặc biệt là về chính sách thủy lợi phí.
Trải qua gần 40 năm phát triển của đât nước, từ 1962 đến nay chính
sách thủy lợi phí đã được sửa đổi và bổ sung nhiều lần. Mới nhất là Nghị
định số 115/2008/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành sửa đổi, bổ sung
một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ-CP ngày 28-11-2003 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ

Lớp: KTB – K51

1


Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu tình hình thực
thi chính sách miễn thủy lợi phí trên địa bàn huyện Cẩm Giàng, Hải Dương”.

Lớp: KTB – K51

2


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu và đánh giá tình hình thực thi chính sách thủy lợi phí trên
địa bàn huyện Cẩm Giàng – Hải Dương. Từ đó đề xuất một số giải pháp chủ
yếu để hoàn thiện quá trình thực thi chính sách đối với các cơ quan quản lý
trên địa bàn nghiên cứu.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách và chính sách
miễn giảm thủy lợi phí.
- Tìm hiểu quá trình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí tại Cẩm Giàng.
- Tìm hiểu thuận lợi, khó khăn cũng như mong muốn của người dân Cẩm
giàng trong quá trình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản cho những khó khăn tồn tại trong quá
trình thực thi chính sách.
1.3 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động liên quan đến thủy lợi trên địa bàn huyện Cẩm Giàng,
Hải Dương.

các hệ thống công trình thủy lợi, nó bao gồm công trình đầu mối, mạng lưới
kênh mương, mạng lưới kênh chứa, trạm bơm, máy bơm. Các công trình này
thường nằm ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường tự nhiên,
chịu sự phá hoại của sinh vật và sự tác động của con người. [9]
Hệ thống thủy lợi hoặc các công trình thủy lợi có những đặc điểm
chung sau:
- Các hệ thống thủy lợi đều phục vụ đa mục tiêu (ít nhất là 2 mụ tiêu trở
lên), trong đó có tưới, tiêu, cấp nước sinh hoạt, thủy sản, sản xuất công
nghiệp, phát điện, giao thông, du lịch, chống lũ, ngăn mặn, cải tạo đất đai,
môi trường, sinh thái…
- Vốn đầu tư xây dựng công trình thủy lợi thường rất lớn. Tùy theo điều
kiện cụ thể ở từng vùng, để có công trình khép kín trên diện tích 1 ha được tưới thì
bình quân phải đầu tư thấp nhất 30-50 triệu đồng, cao nhất 100-200 triệu đồng.

Lớp: KTB – K51

4


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

- Công trình thuỷ lợi muốn phát huy hiệu quả cao phải được xây dựng
đồng bộ, khép kín từ đầu mối ( phần do Nhà nước đầu tư ) đến tận ruộng
(phần do dân tự xây dựng).
- Mỗi công trình, hệ thống công trình thủy lợi chỉ phục vụ cho một
vùng nhất định theo thiết kế, không thể di chuyển từ vùng đang thừa nước đến
vùng thiếu nước theo yêu cầu thời vụ; đều phải có một tổ chức của nhà nước,
tập thể hay cá nhân trực tiếp quản lý, vận hành theo yêu cầu của các hộ sử


Lớp: KTB – K51

6


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

2.1.1.3 Bản chất của TLP [12]
Cho đến nay ở Việt nam, mặc dù Nhà nước đã có chủ trương, chính sách
rõ ràng về TLP và TLP đã mang tính truyền thống và trở thành tiềm thức của
người nông dân nhiều thập kỷ qua, nhưng cách hiểu về TLP còn rất khác nhau.
Sự khác nhau đó tập trung chủ yếu ở hai khía cạnh: TLP là chi phí sản
xuất hay TLP là khoản thu của nhà nước đối với nông dân trong việc sử
dụng nước ?
Theo Nghị định số 66-CP ngày 5 tháng 6 năm 1962 của Hội đồng
Chính phủ (nay là Chính phủ) thì “phí tổn về quản lý và tu sửa của các hệ
thống nông giang” mà người dùng nước phải trả được gọi là "thủy lợi phí”.
Theo Pháp lệnh Khai thác và Bảo vệ công trình thủy lợi (số
32/2001/PL-UBTVQH10) thì TLP “là phí dịch vụ thu từ tổ chức, cá nhân sử
dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình thủy lợi cho mục đích sản xuất
nông nghiệp để góp phần chi phí cho việc quản lý, duy tu, bảo dưỡng và bảo
vệ công trình thủy lợi và "tiền nước“ là giá tiền trong hợp đồng dịch vụ về
nước thu từ tổ chức, cá nhân sử dụng nước hoặc làm dịch vụ từ công trình
thủy lợi ngoài mục đích sản xuất nông nghiệp” [12]
Như vậy “thủy lợi phí” thực chất là “ tiền nước" (nói đúng hơn là giá
nước) qui định đối với sản xuất nông nghiệp, trong đó nhà nước đã bao cấp
trên 50% giá thành. Nói cách khác, TLP là một trong những chi phí đầu vào

nghiệp khai thác công trình thủy lợi thuộc Nhà nước và các tổ chức tập thể và
tư nhân quản lý.[2]
Theo thời giá năm 2006, ước tính cơ sở vật chất thủy lợi do các doanh
nghiệp quản lý trị giá tương đương khoảng trên 120.000 tỷ đồng. Để đảm bảo
quản lý khép kín nhằm khai thác tối đa năng lực của các hệ thống công trình,
ngoài 110 doanh nghiệp khai thác CTTL quản lý các công trình thuỷ lợi đầu
mối lớn, kênh trục chính, cả nước còn có trên 13.000 tổ chức hợp tác dùng
nước (gồm các loại hình HTX nông nghiệp có làm dịch vụ tưới, Hợp tác dùng
nước chuyên khâu, các tổ, đội... ) làm chức năng “cầu nối” giữa các doanh
nghiệp của Nhà nước và các hộ sử dụng nước.[2]
Tổng số cán bộ, công nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nước quản
lý, khai thác công trình thuỷ lợi khoảng gần 22.600 người, trong đó có
khoảng 10,5% có trình độ kỹ sư, 14,9% là cán bộ trung cấp, 53,5% là công
nhân, trên 21,1% là lao động chưa được đào tạo, đã hạn chế khả năng phục vụ
của đội ngũ công nhân trong khai thác công trình thủy lợi.

Lớp: KTB – K51

8


Khóa luận tốt nghiệp Đại Học

Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

Bên cạnh lực lượng cán bộ, công nhân viên trong các doanh nghiệp nhà
nước, còn có hàng vạn công nhân viên thuỷ nông hoạt động trong các tổ chức
hợp tác dùng nước nhưng không qua trường lớp đào tạo cũng là một nguyên
nhân trong việc phát huy hiệu quả của các công trình thuỷ lợi.[2]
2.1.2 Cơ sở xây dựng các chính sách và thiết lập mức thuỷ lợi phí [2]


Sinh viên: Trần Thị Huyền Trang

về quản lý và tu sửa của hệ thống nông giang tuỳ theo từng loại. Thủy lợi phí
được quy định để chi các khoản như: “Trả lương cho cán bộ, công nhân của
nông giang và chi cho việc quản lý, khai thác, tu bổ sửa chữa thường xuyên
trong hệ thống nông giang để tiến tới xây dựng các xí nghiệp địa phương”.[2]
(2) Đối với Nghị định số 112-HĐBT ngày 25/8/1984
Nghị định số 112-HĐBT ngày 25/8/1984 của Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) đã quy định “thuỷ lợi phí bao gồm các khoản:
- Khấu hao cơ bảo, khấu hao sửa chữa lớn và chi phí sửa chữa thường
xuyên các máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải và các
phương tiện khác dùng vào việc duy trì, khai thác và quản lý các công trình
thủy nông, không kể khấu hao cơ bản các máy bơm lớn;
- Chi phí sửa chữa lớn, tu bổ, sửa chữa thường xuyên các công trình xây
đúc và bằng đất, ngoài số nhân công do nhân dân đóng góp;
- Chi phí về điện và xăng dầu;
- Chi lương cho cán bộ, nhân viên và chi phí quản lý của các xí nghiệp
thuỷ nông”.
Như vậy, cơ sở để thiết lập mức thuỷ lợi phí của Nghị định số 112HĐBT đã có sự thay đổi nhiều so với Nghị định số 66/CP. Cơ cấu mức thu
thuỷ lợi phí trong nghị định 112-HĐBT đã có đề cập tới một phần khấu hao
cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn của các máy móc, thiết bị nhà xưởng và một số
loại công trình thuỷ lợi khác, do đó mức thu đã có sự khác biệt so với mức thu
của Nghị định 66/CP trước đây.
Mặc dù vậy, để giảm nhẹ mức thu thuỷ lợi phí, trong quy định của 112HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng tạm thời chưa tính khấu hao cơ bản các công
trình xây đúc và bằng đất và khấu hao cơ bản các máy bơm lớn, xem đây như
một khoản trợ cấp của nhà nước đối với nông nghiệp. Khi cần trang bị thêm
hoặc thay thế các máy bơm lớn, ngân sách Trung ương cấp trực tiếp cho Bộ
Thuỷ lợi (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) qua kế hoạch đầu
tư xây dựng cơ bản hàng năm.[2]

lợi tồn tại và phát triển.
- Mọi cá nhân, tổ chức sử dụng nước từ công trình thủy lợi, sử dụng
công trình thuỷ lợi làm dịch vụ đều phải có trách nhiệm đóng góp tài chính
cho đơn vị được Nhà nước giao quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi theo
quy định.
- Nhà nước có chính sách hỗ trợ về thuỷ lợi phí đối với người dân sản
xuất lương thực, nông dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, các xã thuộc
diện xoá đói giảm nghèo. Tuỳ theo tình hình cụ thể từng nơi mà có tỷ lệ miễn

Lớp: KTB – K51

11



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status