LỜI MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu:
Phần này nêu lên những lý do tác giả lựa chọn đề tài này, các mục tiêu nghiên
cứu, phạm vi nghiên cứu và những ý nghĩa thiết thực mà đề tài đem lại
2. Cơ sở hình thành
Theo thống kê của Bộ giáo dục và đào tạo, Việt Nam hiện có khoảng 400
trường đại học, cao đẳng lớn nhỏ trên khắp các tỉnh thành trên cả nước.Với số
lượng lớn các truờng đại học, cao đẳng như vậy, lượng sinh viên tốt nghiệp mỗi
khóa cũng rất lớn, lên tới hơn 400.000 sinh viên. Điều đó tạo nên một lực lượng
cựu sinh viên đông đảo và được bổ sung qua các năm, ngày càng có tác động lớn
tới các trường đại học và cao đẳng trong cả nước.
Hội cựu sinh viên là một tổ chức tập hợp tất cả các cựu sinh viên của cùng một
trường đại học, hoạt động với một mục tiêu chung. Đó là một hình thức tổ chức
rất phổ biến và dần đóng một vai trò vô cùng quan trọng các trường đại học trên
thế giới. Tại Hoa Kỳ hội cựu sinh viên còn là một tiêu chí để đánh giá chất lượng
đào tạo của các trường. Không riêng gì các trường đại học nổi tiếng trên thế giới,
ngay tại Việt Nam cũng có một số trường có hội cựu sinh viên như: Đại học
RMIT, Đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh,… Tuy nhiên, hầu như vấn đề hội cựu
sinh viên của các trường đại học ở Việt Nam đều chưa được đánh giá đúng mức.
Các hội cựu sinh viên ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở mức độ thu thập thông tin
về các thành viên hội, một số bài viết tiêu biểu về một số thành viên ưu tú. Nó
còn chưa quan tâm tới vấn đề gắn kết thành viên, các hoạt động cũng chưa được
triển khai thường xuyên.
1
Tuy chưa thể đánh giá được hiệu quả chính xác mà các hội cựu sinh viên này
mang lại nhưng nó cũng đánh động đến một vấn đề khá mới và thiết thực với
không chỉ cựu sinh viên mà còn đối với các trường đại học, các sinh viên và với
cộng đồng. Thực tế này cũng đặt ra câu hỏi: “Vậy hội cựu sinh viên đóng vai trò
Phạm vi nghiên cứu của đề tài không giới hạn. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
hội cựu sinh viên của các trường đại học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng phương pháp tìm kiếm, thu thập thông tin, dữ
liệu, từ đó phân tích, đánh giá mức độ phổ biến của hội cựu sinh viên và đưa ra
khung hoạt động chính đề hình thành ý tưởng thành lập hội cựu sinh viên tại
trường đại học Kinh tế Quốc dân.
6. Kết cấu của đề tài
Chương 1: tổng quan về hội cựu sinh viên của các trường đại học trên thế giới
và Việt Nam
Đánh giá mức độ phổ biến của hội cựu sinh viên trên thế giới (lấy số liệu thống
kê cho khu vực Âu – Mỹ và khu vực châu Á – Thái Binh Dương) và tại Việt
Nam.
Chuơng 2: Cở sở lý thuyết
Phân tích khái niệm, quan điểm, vai trò của cựu sinh viên, hội cựu sinh viên.
3
Chương 3: Nghiên cứu vấn đề hội cựu sinh viên đối với trường ĐH Kinh tế
Quốc dân
Đánh giá sự cần thiết của việc thành lập hội cựu sinh viên truờng đại học Kinh
tế Quốc dân. Tiềm năng của cựu sinh viên đối với trường đại học Kinh tế Quốc
dân. Những khó khăn trong việc thành lập hội cựu sinh viên tại trường đại học
Kinh tế Quốc dân.
Chương 4: Đề xuất ý tưởng hình thành hội cựu sinh viên tại trường đại học
Kinh tế Quốc dân
Trình bày phương hướng giải quyết những khó khăn trong việc thành lập hội
cựu sinh viên trường đại học Kinh tế Quốc dân. Đề xuất khung hoạt động chính
cho hội.
Quốc dân
(3)
học Kinh tế quốc dân
- Quan điểm của cựu sinh viên
- Quan điểm của sinh viên
- Quan điểm của các nhà quản lí giáo dục của trường
Hình 1: Mô hình nghiên cứu
Các bước tiến hành nghiên cứu đã được tiến hành theo thứ tự đánh số:
5
(1) Thông qua các chỉ số, các tỷ lệ để đánh giá khái quát tình hình hoạt động
của các Hội cựu sinh viên các trường Đại học trên thế giới
(2) Đánh giá tiềm năng đóng góp về các mặt của các cựu sinh viên Đại học
Kinh tế quốc dân.
(3) Đánh giá nhu cầu thành lập Hội cựu sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân
(4) Thông qua tất cả các bước (1), (2), (3) nhóm nghiên cứu nêu ra nhận định
của mình và đề xuất thành lập Hội cựu sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỘI CỰU SINH VIÊN CỦA CÁC
TRƯỜNG ĐH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
I – Phương pháp nghiên cứu (Anh)
II – Hội cựu sinh viên trên thế giới
trường đã có
hội cựu sinh
viên (%)
29
96.7
Khoảng
cách xa
nhất
(năm)
Khoảng
cách ngắn
nhất
(năm)
Khoảng
cách TB
(năm)
329
4
55.8
Từ bảng kết quả ở trên, có thể nhận thấy:
-
Tỷ lệ về mức độ phổ
hoạt động trong hội
biến của hoạt động (%)
TK
29
100.0
GK1
28
96.6
GK2
29
100.0
GK3
16
55.2
Mã HĐ
Từ bảng kết quả trên, có thể thấy hoạt động của các hội cựu sinh viên trong
khu vực Âu – Mỹ rất đa dạng và được xếp thành 9 nhóm chính như sau:
-
(Mã hoạt động: TK) Hoạt động Thống kê và cập nhật thông tin về cựu sinh
viên. 29/29 trường có hội cựu sinh viên (chiếm tỷ lệ 100%) trong bảng thống kê
9
có hoạt động này. Đây là hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu giúp các trường kiểm
soát tốt nguồn lực cựu sinh viên.
-
(Mã hoạt động GK1) Gồm các hoạt động liên kết, hợp tác giữa trường và
cựu sinh viên: Gây quỹ cho trường, HĐ nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học,
HĐ giúp đỡ sinh viên trong học tập và hướng nghiệp, chương trình gắn kết cựu
sinh viên với sinh viên… 28/29 trường có Hội cựu sinh viên (chiếm tỷ lệ 96.6%)
có hoạt động này. Đây là các hoạt động tăng cường nhằm duy trì mối quan hệ lâu
dài giữa trường học với sinh viên, cựu sinh viên từ đó tạo ra các lợi ích cho cả hai
bên.
-
(Mã hoạt động GK2) Gồm các hoạt động gắn kết, hợp tác giữa các cựu sinh
viên: Hợp tác; tổ chức các buổi họp mặt, tôn vinh những cựu sinh viên ưu tú; xây
nhanh chóng, tiện lợi và đa dạng cho các đối tượng có liên quan. Đồng thời đây
cũng là nơi tạo ra cộng đồng tương tác trực tuyến giữa các cựu sinh viên, sinh
viên trong trường…
-
(Mã hoạt động XB) Xuất bản báo, tạp trí. 13/29 trường có hội cựu sinh viên
có hoạt động này (chiếm 44.8%). Báo, tạp chí một là kênh thông tin chính thống
của hội cựu sinh viên. Ở các trường khu vực Âu-Mỹ; nội dung của kênh thông tin
này chủ yếu là các bài viết học thuật có nội dung liên quan đến các lĩnh vực đào
tạo khác nhau của các trường mà họ từng theo học. Bên cạnh đó còn là các bài
viết về những trải nghiệm, chia sẻ của cựu sinh viên cũng như sinh viên trong
trường. Nó cung cấp tri thức cho không chỉ cựu sinh viên mà còn cho các sinh
viên đang theo học tại trường.
-
(Mã hoạt động DVHT) Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sinh viên, cựu sinh
viên trong công việc, học tập và hoạt động của hội. 8/29 trường có hội cựu sinh
viên có hoạt động này (chiếm 27.6%). Các dịch vụ hỗ trợ này rất đa dạng, tùy
thuộc vào các trường mà có sự khác nhau, trong đó có một số dịch vụ nổi bật như:
cung cấp tài liệu nghiên cứu thông qua thẻ cựu học viên, dịch vụ đặt phòng tại trụ
sở hội, cung cấp các món quà lưu niệm, vật kỷ niệm về trường… Đây là những
hoạt động tăng cường lợi ích cho các cựu sinh viên khi tham gia hội
-
(Mã hoạt động VL) Cung cấp thông tin, cơ hội việc làm cho sinh viên, cựu
sinh viên… 19/29 trường có cựu sinh viên có hoạt động này (chiếm 65.5%). Đây
là hoạt động thiết thực của hội cựu sinh viên. Nhờ việc thống kê và cập nhật
12
- Các trường đại học trong khu vực Âu-Mỹ rất trú trọng vấn đề cựu sinh viên
và hình thành hội cựu sinh viên từ rất sớm.
- Hoạt động của các hội cựu sinh viên rất đa dạng, phong phú và có hệ
thống. Tiêu biểu nhất là các hoạt động thống kê, gắn kết thành viên hay một số
hoạt đông đặc trưng khác như hoạt động thiện nguyện, hỗ trợ việc làm.
- Vai trò của các hội cựu sinh viên này luôn được các trường đánh gia
cao.Trong đó, vai trò nổi bật là gắn kết mạng lưới cựu sinh viên ở khắp mọi nơi
với nhà trường, vì sự phát triển chung của cả hai bên. Nó mang lại giá trị lớn cho
rất nhiều đối tượng, không chỉ nhà trường mà còn có sinh viên, cựu sinh viên và
cả cộng đồng.
2. Hội cựu sinh viên ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Bảng 2.1 ở phụ lục 1 bao gồm 23 trường đại học ở khu vực châu Á- Thái Bình
Dương nằm trong danh sách 100 trường đại học hàng đầu thế giới (theo xếp hạng
của Timeshighereducation – năm 2013). Các trường này tiêu biểu cho nền giáo
dục khu vực Châu Á – Thái Bình Dương; phân bố ở một số nước phát triển và
đang phát triển ở khu vực này như: Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Úc,
Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc… Đây là các trường đại học tổng hợp hoặc
các trường đào tạo các ngành học trọng điểm như kỹ thuật, ngôn ngữ… Đây là
các nơi, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng co cho một khu vực đang phát triển
nhanh và nhiều tiềm năng như châu Á – Thái Bình Dương.
Để phục vụ mục đích nghiêm cứu bảng 2.1 đã thống kê về tình hình hoạt động
của các hội cựu sinh viên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Theo kết quả
thống kê, hoạt động của các hội này tương đối sôi nổi và được đầu tư phát triển.
Cụ thể như sau:
13
TB
(năm)
(năm)
(năm)
82.6
67
3
26.6
Từ bảng kết quả trên, có thể nhận thấy:
-
19/23 trường trong danh sách có hội cựu sinh viên chính thức (chiếm tỷ lệ
82.6% các trường được thống kê). Trong đó, có 4 trường chưa có hội cựu sinh
viên đều là các trường của Hàn Quốc: Đại học quốc gia Seoul, Viện KH & CN
tiên tiến Hàn Quốc, Đại học KH & CN Pohang, Đại học Yonsei. Điều đó chứng
tỏ, việc phát triển hội cựu sinh viên chưa được trú trọng phát triển ở quốc gia
Công nghiệp mới nổi này.
-
Theo như số liệu thu thập được ở bảng 2.1 phụ lục I và bảng kết quả 2.2 ở
GK1
19
100.0
GK2
19
100.0
GK3
1
5.3
TN
6
31.6
Online
19
100.0
(chiếm 100%). Đây là hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu giúp các trường này
kiểm soát tốt nguồn lực cựu sinh viên. Đây cũng là một cơ sở quan trọng trong
việc đánh giá chất lượng giáo dục của các trường, thể hiện ở công việc và chức vị
mà các cựu sinh viên nắm giữ. 100% các hội cựu sinh viên có hoạt động này cho
thấy, đây là hoạt động cơ bản, rất được trú trọng và duy trì.
-
(Mã hoạt động GK1) Gồm các hoạt động liên kết, hợp tác giữa trường và
cựu sinh viên: Gây quỹ cho trường, HĐ nghiên cứu khoa học, đào tạo sau đại học,
HĐ giúp đỡ sinh viên trong học tập và hướng nghiệp, chương trình gắn kết cựu
sinh viên với sinh viên…19/19 trường có hội cựu sinh viên có hoạt động này
(chiếm 100%). Đây là các hoạt động tăng cường nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài
giữa trường học với các sinh viên của mình, từ đó tạo ra các lợi ích cho cả hai
bên. Các hoạt động này cũng giúp nhà trường tận dụng nguồn lực cựu sinh viên
cho các dự án phát triển giáo dục của trường. Với tỷ lệ 100% cho thấy các trường
này rất quan tâm tới nguồn lực cựu sinh viên cũng như mối liên kết chặt chẽ giữa
cựu sinh viên với hoạt động phát triển của trường.
-
(Mã hoạt động GK2) Gồm các hoạt động gắn kết, hợp tác giữa các cựu sinh
viên: Hợp tác; tổ chức các buổi họp mặt, tôn vinh những cựu sinh viên ưu tú; xây
dựng các diễn đàn cựu sinh viên, du lịch, giải trí, khám phá… 19/19 trường có hội
cựu sinh viên có hoạt động này (chiếm 100%). Các hoạt động gắn kết các thành
viên trong hội tạo cơ hội cho các cựu sinh viên gặp gỡ, làm quen và hợp tác với
nhau trong công việc cũng như cuộc sống; qua đó tạo ra giá trị cho các cựu sinh
viên. Tất cả các hội đều trú trọng xây xựng nội bộ phát triển bền vững, thể hiện ở
tỷ lệ 100% các hội cựu sinh viên có hoạt động gắn kết thành viên.
bắt một cách nhanh nhất các thông tin của hội cũng như các thông tin có liên quan
khác. Tỷ lệ tuyệt đối cho thấy kênh thông tin này rất được đầu tư phát triển ở tất
cả các trường có hội cựu sinh viên.
-
(Mã hoạt động XB) Xuẩn bản báo, tạp trí. 10/19 trường có hội cựu sinh
viên có hoạt động này (chiếm 52.6%). Báo, tạp chí một là kênh thông tin chính
thống của hội cựu sinh viên. Bên cạnh kênh thông tin nhanh chóng như báo điện
tử, các tập san được xuất bản theo tháng và quý này trú trọng vào các đề tài
nghiên cứu khoa học hay các bài viết có chất lượng về ngành đào tạo – là một
17
trong những nguồn cấp tri thức cho các cựu sinh viên. Tỷ lệ 52.6% cho thấy vị trí
quan trọng của hoạt động này trong việc duy trì các hội cựu sinh viên.
-
(Mã hoạt động DVHT) Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ sinh viên, cựu sinh
viên (trong công việc, học tập và hoạt động của hội). 8/19 trường có hội cựu sinh
viên có hoạt động này (chiếm 31.6%). Các dịch vụ hỗ trợ này rất đa dạng, tùy
thuộc vào các trường mà có sự khác nhau, trong đó có một số dịch vụ nổi bật như:
cung cấp tài liệu nghiên cứu thông qua thẻ cựu học viên, dịch vụ đặt phòng tại trụ
sở hội, cung cấp các món quà lưu niệm, vật kỷ niệm về trường… đây là những
hoạt động tăng cường lợi ích cho các cựu sinh viên khi tham gia hội. Tỷ lệ 31.6 %
chứng tỏ hoạt động này bước đầu đã được trú trọng .
-
trình mà cựu sinh viên có thể tham gia một cách thuận tiện nhất, bao gồm cả các
chương trình học tập suốt đời cho cựu sinh viên và chương trình hỗ trợ hoạt động
tình nguyện.” Ghi nhận theo định hướng của trường đại học Tokyo – Nhật Bản.
Tổng kết:
-
Các trường khu vực Châu Á – Thái bình Dương cũng đã chú ý, quan tâm
tới việc thành lập và duy trì hoạt động của các hội cựu sinh viên.
-
Các hội cựu sinh viên trong khảo sát có nhiều hoạt động đa dạng và có hệ
thống.
-
Vai trò của các hội cựu sinh viên này mang lại giá trị, lợi ích cho nhiều đối
tượng khác nhau bao gồm nhà trường, sinh viên, cựu sinh viên và cả cộng đồng.
3.
So sánh tình hình hoạt động của hội cựu sinh viên ở khu vực Âu – Mỹ
và khu vực châu Á – Thái Bình Dương
So sánh về tình hình hoạt động của các hội cựu sinh viên thống kê được của
các trường khu vực Âu – Mỹ và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ta thấy nổi
lên một số điểm như sau:
3.1. Giống nhau
19
toàn dễ hiểu.
- Các yếu tố tất yếu trong quá trình hoạt động của các cựu sinh viên như: tạo
ra giá trị cho các đối tượng hữu quan, việc hướng tới trách nhiệm với cộng đồng
là xu thế chung của toàn nhân loại
20
3.2. Khác nhau
- Về hoạt động:
Tuy hoạt động của các hội cựu sinh viên ở cả hai khu vực đều được đánh gia
theo 9 nhóm hoạt động chính, nhưng ở mỗi khu vực, đặc điểm của các hoạt động
này lại khác nhau:
+ Khu vực Âu – Mỹ: Ngoài các hoạt động cơ bản như thống kê, gắn kết, (như
đã nhắc ở trên), các trường đại học khu vực Âu – Mỹ còn trú trọng vào việc phát
triển các hoạt động như: liên kết các nhóm cựu sinh viên trên toàn thế giới; tổ
chức các hoạt động du lịch khám phá hay sự kiện nhằm nâng cao trình độ chuyên
môn cho cựu sinh viên và các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.
+ Khu vực châu Á – Thái Bình Dương: Ngoài các hoạt động cơ bản như trên
thì lại chỉ dành sự quan tâm trong việc giao lưu và hợp tác giữa các cựu sinh viên,
giữa cựu sinh viên với trường, đăc biệt là các hội thảo chuyên ngành giành cho
sinh viên, cựu sinh viên. Còn đối với các hoạt động hướng ra xã hội (hoạt động
thiện nguyện vì cộng đồng…), thì hầu như rất ít, mức độ quan tâm còn chưa cao.
- Về vai trò:
+ Khu vực Âu – Mỹ đa số cho thấy được vai trò của hội cựu sinh viên không
chỉ với các thành viên hội, sinh viên trường mà nó còn đóng góp một phần không
nhỏ cho lợi ích của cộng đồng.
+ Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mới chỉ dừng lại ở phục vụ lợi ích
cho thành viên, trường học. Những đóng góp cho cộng đồng mới chỉ manh nha
xuất hiện ở một số trường.
Sự khác nhau trong tính chất các hoạt động cũng như vai trò của các hội cựu
phân bố đều trên khắp cả nước với 7 trường đại học tổng hợp, hai trường trọng
điểm đào tạo về kinh tế, hai trường trọng điểm đào tạo về giáo dục, 5 trường
trọng điểm đào tạo về kỹ thuận và 2 trường trọng điểm trong khối quân đội.
Các trường này có vị trí, vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển
của các trường đại học cùng khối ngành.
Theo mục đích nghiên cứu bảng 3.1 thống kê về tình hình tồn tại và phát triển
của hội cựu sinh viên – một trong những tổ chức có vai trò quan trọng trong việc
phát triển uy tín cũng như lợi ích của các trường đại học (theo đánh giá của các
trường đại học trên thế giới về vai trò của hội cựu sinh viên)
22
Theo kết quả của bảng 3.1 ta có thể rút ra một số nhận xét khái quát về tình
hình phát triển hội cựu sinh viên tại Việt Nam như sau:
-
Hội cựu sinh viên ở VN về cơ bản là chưa phổ biến hay nói cách khác là
còn rất mới mẻ. Theo khảo sát 17 trường trọng điểm của Việt Nam do bộ GD –
ĐT quy định thì chỉ có 3 trường có hội cựu sinh viên là: Đại học kinh tế Hồ Chí
Minh – Trường đại học trọng điểm trong khối kinh tế, Đại học Y Hà Nội –
Trường đại học trọng điểm khối y dược và Đại học bách khoa Hà Nội – Trường
đại học trọng điểm khối Kỹ thuật. Như vậy là số trường đại học trọng điểm có hội
cựu sinh viên chỉ chiếm 17.6% trên tổng số trường.
-
Các hội cựu sinh viên là mới thành lập vì vậy các hoạt động còn rất sơ khai
và manh mún. Như đại học Y Hà Nội, phải sau 110 năm thành lập trường, trải
2 trường có hội cựu sinh viên là trường đại học kinh tế Tp Hồ Chí Minh. Các
trường còn lại hầu hết là các trường tổng hợp, trong đó trường đại học Quốc gia
Hà Nội dù chưa thành lập hội cựu sinh viên nhưng trường đại học Kinh tế trực
thuộc đại học Quốc gia Hà Nội thì đã thành lập hội cựu sinh viên từ năm 2009.
Tuy tỷ lệ 2/3 trường có hội cựu sinh viên chưa thể đánh giá hết thực trạng cũng
như tiềm năng của hội cựu sinh viên ở các trường khối ngành kinh tế Việt Nam,
nhưng nó cũng là tín hiệu tốt cho thấy sự thành lập của các hội cựu sinh viên đang
mang lại nhiều lợi ích hơn cho nhà trường cũng như cựu sinh viên, và sự quan
tâm của nhà trường, cựu sinh viên với vấn đề thành lập một hội cựu sinh viên
chính thức cũng được nâng cao hơn.
Kết luận: Hoạt động của của các hội cựu sinh viên ở các trường đại học Việt
Nam là chưa phát triển và chưa tương xứng với số lượng sinh viên cũng như số
trường đại học của Việt Nam. Trong giai đoạn tới, cần có cái nhìn toàn diện hơn
và những đánh giá đúng hơn về nguồn lực rất lớn của một trường đại học – Cựu
sinh viên.
24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I – Cựu sinh viên
1. Khái niệm
Nhắc đến cụm từ “cựu sinh viên” nhiều người cho rằng nó đề cập tới những
người từng là sinh viên của một trường lớp nào đó nhưng nay không còn học tập
tại đó nữa.
Tuy nhiên, để thực sự hiểu thế nào là một “cựu sinh viên” ta nên đi từ nguồn
gốc xuất xứ của nó. Thuật ngữ gốc của cụm từ “cựu sinh viên” là “alumnus” có
nguồn gốc từ tiếng latinh, nó có nghĩa là “học sinh” hay “sự nuôi dưỡng”. Ngày
nay, thuật ngữ này được dùng để đề cập đến những sinh viên tốt nghiệp ở một
trường đại học hoặc cơ sở giáo dục tương tự. Thực tế, nó mang nhiều ý nghĩa