ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
BÁO CÁO
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VÙNG TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU TỈNH LÀO CAI ĐẾN
NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
CHỦ ĐẦU TƯ
SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN
ĐƠN VỊ TƯ VẤN
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TRỒNG
VÀ CHẾ BIẾN CÂY THUỐC HÀ NỘI
Lào Cai, năm 2015
1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I.SỰ CẤN THIẾT LẬP DỰ ÁN
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới có điều kiện địa hình đồi núi chia cắt,
tạo ra nhiều đặc điểm khí hậu khác biệt từ nhiệt đới đến á nhiệt đới. Với đặc
điểm địa hình và khí hậu đa dạng như vậy, tạo cho tỉnh Lào Cai nhiều điều kiện
để phát triển nông nghiệp với các chủng loại cây trồng phong phú có nguồn gốc
từ nhiệt đới đến á nhiệt đới.
Cây dược liệu cũng là nhóm cây trồng có nhiều lợi thế đặc biệt để phát
triển trên địa bàn tỉnh Lào Cai, một số chủng loại cây có nguồn gốc á nhiệt đới
phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội.
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
thành Lật Đất đai.
- Nghị định số 88/2005/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về một số chính sách hỗ trợ
khuyến kích phát triển hợp tác xã.
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về thi hành
Luật bảo vệ và phát triển rừng.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của thủ tướng Chính
phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông
nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.
- Quyết định số 1976/QĐ-TTg, 30 tháng 10 năm 2013 của thủ tướng Chính
phủ về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2025 và
định hướng đến năm 2030.
- Thông tư số 13/2009/TT-BYT ngày 01 tháng 9 năm 2009 về việc hướng
dẫn triển khai áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt trồng trọt và
thu hái cây thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới.
- Quyết định số 2495/QĐ-UBND ngày 26/9/2012 của UBND tỉnh Lào Cai
về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp tỉnh Lào Cai đến
năm 2025 và định hướng đến năm 2030.
2.2.Căn cứ thực tiễn
2.2.1. Tình hình sản xuất cây dược liệu trên thế giới
Xu hướng sử dụng thuốc trên thế giới của con người đang “Trở về thiên
nhiên”, với việc sử dụng dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản
xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng
chất) có xu hướng ngày càng tăng. Người ta nhận thấy rằng các thuốc có nguồn
gốc từ thảo dược ít độc hại, ít gây tác dụng phụ và phù hợp hơn với qui luật sinh
lý của cơ thể. Hơn nữa hiện còn nhiều bệnh hiểm nghèo chưa có thuốc đặc hiệu
để chữa trị và người ta hi vọng rằng từ nguồn dược liệu tự nhiên hoặc từ vốn trí
các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng tăng hơn so với việc sử dụng
thuốc tân dược vì nó ít có những tác động có hại và phù hợp với quy luật sinh lý
của cơ thể hơn. Tại Việt Nam, nhu cầu dược liệu trong nước khoảng gần 60.000
tấn/năm, trong khi đó Việt Nam mới chỉ cung cấp được cho thị trường khoảng
15.600 tấn/năm, phần còn lại (khoảng 70%) phải nhập khẩu từ các quốc gia và
vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Đài Loan, Singapore…
- Ông Trương Quốc Cường lấy một ví dụ điển hình về dược liệu quý hiếm,
đó là Sâm Ngọc Linh. Sâm Ngọc Linh là loại sâm có hàm lượng Saponin rất cao,
cao hơn Sâm Triều Tiên. Tuy nhiên, thực tế là, trong khi người Hàn Quốc với lợi
thế về khoa học kĩ thuật từ lâu đã ứng dụng nhiều biện pháp nâng cao chất
lượng, sản xuất được nhiều loại sản phẩm khác nhau từ Sâm Triều Tiên và mang
lại lợi nhuận nhiều tỷ USD thì cây Sâm Ngọc Linh ở nước ta mới chỉ đang trong
giai đoạn nghiên cứu bước đầu. Tương tự như thế, cây linh chi Việt Nam có chất
lượng cũng cao hơn linh chi Hàn Quốc nhưng chưa phát huy triệt để được hiệu
quả chữa bệnh cũng như hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống cho nhân dân. Đây
4
là những ví dụ cho thấy rõ những hạn chế về việc phát triển cây dược liệu của
Việt Nam . Một thực trạng nữa là hiện chúng ta vẫn đang loay hoay với phát
triển nguồn nguyên liệu tân dược trong nhiều năm qua mà vẫn chưa có nhiều kết
quả.
- Với những tiềm năng, thế mạnh như trên, Cục trưởng Cục Quản lý dược
cho rằng: Hướng đi đúng đắn và phù hợp nhất của ngành dược nước ta đó chính
là dựa vào lợi thế sẵn có là nguồn cây thuốc dược liệu trong nước để phát triển.
Đây sẽ là con đường nhanh chóng và thuận lợi nhất đưa Ngành dược Việt Nam
đón đầu được trong hội nhập quốc tế. Thuốc nam mới chính là nguồn nguyên
liệu của nền công nghiệp tân dược trong tương lai, chứ không phải là nguồn
nguyên liệu tân dược mà chúng ta đang mất nhiều thời gian và công sức để theo
đuổi trong nhiều năm qua.
3.1. Phạm vi nghiên cứu của dự án.
Tập trung vào 5 huyện có tiềm năng phát triển cây dược liệu quý như Sa
Pa, Bắc Hà, Bát Xát, Mường Khương, Simacai của tỉnh Lào Cai.
3.2. Thời kỳ quy hoạch.
Từ nay đến năm 2030 và được chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: 5 năm từ năm 2016 đến năm 2020
+ Giai đoạn 2: 10 năm từ 2021 đến năm 2030.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp dã ngoại để thu thập các thông tin, tài liệu cần thiết.
- Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA) để đánh giá tình hình kinh
tế hộ, thực trạng sản xuất và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
nghiên cứu quy hoạch.
- Phương pháp GIS để xây dựng bản đồ
- Phương pháp chuyên gia, hội thảo
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu thống kế, đánh giá hiệu quả
kinh tế tài chính.
- Phương pháp kế thừa các nguồi thông tin, tư liệu đã có.
- Quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp theo tiêu chuẩn ngành
của Bộ Nông Nghiệp và PTNT số 10 TCN 343- 98;
- Quy trình quy hoạch ngành hàng nông nghiệp theo tiêu chuẩn ngành của
Bộ Nông nghiệp và PTNT số 10 TCN 344- 98;
6
PHẦN II
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VÙNG TRỒNG CÂY DƯỢC
LIỆU TỈNH LÀO CAI
I.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH LÀO LIÊN QUAN
ĐẾN VÙNG TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU.
từ 300 -dưới 700m (20,7%), từ 100 - dưới 300m (25,55%), dưới 100m (4,45%).
7
Bảng 01.
Tp, Huyện
Tp. Lào Cai
Bát Xát
Mường Khương
Si Ma Cai
Bắc Hà
Bảo Thắng
Bảo Yên
Sa Pa
Văn Bàn
Toàn tỉnh
Tỷ lệ (%)
Diện tích địa hình ở độ cao tương đối so với mực nước biển
của tỉnh Lào Cai chia theo các huyện
Độ cao các miền địa hình so với mục nước biển (m)
Tổng diện
tích tự nhiên
100
300
700
1000
100
1500
(ha)
1.149
82.791 8.716
51.705 18.281
1.181
2.908
68.329
207
4.314
7.537
24.504 31.767
142.608 4.168
26.485 32.948 23.022
27.204 28.782
638.390 28.375 163.151 132.189 92.742 125.358 96.574
100,00
4,45
25,55
20,70
14,52
19,63
15,12
Nguồn: Khoanh đo trên bản đồ địa hình tỉ lệ 1/50.000
- Địa hình của Lào Cai được chia làm các dạng khác nhau từ địa hình thung
lũng, địa hình vùng núi thấp đến địa hình vùng núi cao. Về mặt phân bố, có thể chia
thành 2 vùng chính: Vùng cao (độ cao từ 700 m trở lên) được hình thành từ những
dãy núi khối lớn với hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi có
hướng Tây Bắc - Đông Nam nằm ở phía Đông và phía Tây của tỉnh, tạo ra các vùng
đất thấp, trung bình ở giữa và một vùng ở phía tây của dãy Hoàng Liên Sơn. Vùng
(19,70C), Bắc Hà (23,70C), Mường Khương (24,50C) và thành phố Lào Cai
(27,70C).
Biên độ nhiệt độ không khí giữa ngày và đêm trung bình dao động từ 6,20
7,9 C như ở Sa Pa (6,20C), thành phố Lào Cai (7,90C). Do địa hình bị chia cắt
mạnh, kết hợp với sự giảm dần nhiệt độ theo độ cao nên đã hình thành các vùng
khí hậu nóng, lạnh, ẩm, khô khác biệt nhau. Trong tỉnh, có nơi rét lạnh, rét đậm
rét hại vào mùa đông có khi có tuyết rơi (vùng cao Hoàng Liên Sơn) nhưng lại
có nơi oi bức điển hình (các thung lũng kín gió như Văn Bàn, Bảo Hà, Lào Cai).
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa các vùng, là nhân tố ảnh hưởng tới sự tích luỹ các
chất hữu cơ trong đất.
* Lượng mưa
- Lượng mưa khu vực Lào Cai rất lớn do địa hình bị chia cắt mạnh trong
điều kiện hoàn lưu gió mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, tập trung
vào tháng 7, 8. Vùng mưa lớn nhất là vùng Đông và Tây dãy Hoàng Liên Sơn,
vùng Đông dãy núi Con Voi với lượng mưa hàng năm từ 1.800mm đến trên
2.000mm. Vùng ít mưa là những thung lũng kín gió thuộc lưu vực sông Thao
(Bảo Hà, Văn Bàn, Thành phố Lào Cai) với lượng mưa từ 1.400 - 1.800mm.
- Lượng mưa phân bố không đều: 75 - 89% lượng mưa tập trung vào các
tháng mùa mưa. Do vậy nên thường gây ra lũ quét, xói mòn, sụt lở đất vào mùa
mưa, hạn hán thiếu nước vào mùa khô, tác động nhiều đến sản xuất nông nghiệp.
* Độ ẩm, lượng bốc hơi
Độ ẩm không khí trung bình năm từ 86% - 87% tuỳ từng nơi và từng mùa.
Ở Bắc Hà độ ẩm không khí trung bình hàng tháng 84 - 89%, ở thành phố Lào
Cai 83 87%, Sa Pa 82 - 90%. Lượng bốc hơi trung bình hàng năm nhỏ hơn lượng
mưa. Vào các tháng mùa khô lượng bốc hơi lớn hơn so với lượng mưa. Ở Bắc
Hà lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa vào các tháng 12, 1, 2, 3. Ở thành phố Lào
9
Cai lượng bốc hơi lớn vào các tháng 12, 1 và 2. Ở Sa Pa lượng bốc hơi lớn vào
gây trở ngại cho hoạt động giao thông thuỷ nhất là đoạn phía Bắc thành phố Lào
Cai. Nước sông Hồng có lượng phù sa lớn nên những diện tích đất được phù sa
bồi đắp có độ phì nhiêu màu mỡ, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
+ Sông Chảy: Bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc và chạy dọc theo khu
vực phía Đông của tỉnh, có chiều dài 124 Km qua tỉnh; lòng sông sâu, hẹp, dốc
lớn, nhiều thác ghềnh, ít có tác dụng trong giao thông vận tải, trong sản xuất và
10
dân sinh do lượng phù sa ít, lưu lượng nước thất thường (mùa lũ 1.670 m 3/s, mùa
kiệt 17,6 m3/s). Khả năng bồi đắp phù sa thấp, chỉ tạo thành ở một số thung lũng
kiểu hẻm vực, thích hợp cho việc trồng lúa, trồng đậu đỗ, rau màu...
- Ngoài 2 sông lớn, các sông ngòi khác tuy nhỏ hơn nhưng cũng ảnh hưởng
đến chế độ thuỷ văn của tỉnh như:
+ Sông Nậm Thi bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc chảy vào Lào Cai. Ở
khu vực TP Lào Cai, huyện Mường Khương, lòng sông rộng thuyền bè nhỏ có
thể đi lại được.
+ Ngòi Đum, ngòi Bo cùng bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc huyện Sa Pa.
Hai ngòi này có lòng rộng, sâu và phục vụ chủ yếu tưới tiêu và cung cấp nước
sinh hoạt cho nhân dân trong vùng.
+ Ngòi Nhù bắt nguồn từ vùng núi thuộc huyện Văn Bàn có hướng chảy từ
Đông Nam xuống Tây Bắc rồi đổ ra sông Hồng; có lòng rộng, sâu.
Mật độ sông, suối giảm dần từ địa hình cao xuống địa hình thấp: Vùng núi
Phan Xi Păng mật độ từ 1,5 - 1,7 Km/Km2, sông suối có độ dốc lớn, dòng chảy
mạnh, lòng hẹp dễ gây ra lũ ống, lũ quét khi mưa lớn; Vùng núi có độ cao từ 700
- 1000 m (Bắc Hà, Văn Bàn) mật độ sông suối từ 1 - 1,5 Km/Km 2, độ dốc trung
bình, lưu vực sông suối dài nhưng hẹp, mức độ tập trung nước nhỏ và chậm;
Vùng núi đá vôi có dạng địa hình Castơ (Bắc Hà, Mường Khương), mật độ sông
suối giảm còn 0,5 - 0,9 Km/Km 2, có khi lòng suối cạn, lượng nước ít hoặc không
có nước do các dòng chảy ngầm phát triển; Vùng thung lũng sông Hồng, sông
Tên đất Việt Nam
Ký hiệu
NHÓM ĐẤT PHÙ SA
Đất phù sa được bồi trung tính ít chua
Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua
Đất phù sa ngòi suối
NHÓM ĐẤT ĐỎ VÀNG
Đất đỏ nâu trên đá vôi
Đất nâu vàng trên đá vôi
Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất
Đất vàng đỏ trên đá macma axit
Đất vàng nhạt trên đá cát
Đất nâu vàng trên phù sa cổ
Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước
Pbe
Pe
Py
Fv
Fn
Fs
Fa
Fq
Fp
Fl
Diện tích
(ha)
123.370
44.483
43.925
558
5.148
5.148
600.190
14.981
23.219
638.390
28,85
9,53
19,33
6,97
6,88
0,09
0,81
0,81
94,02
2,35
3,64
100,00
NHÓM ĐẤT MÙN VÀNG ĐỎ TRÊN NÚI CAO
III
11
12
IV
(pHKCl: 6,60 - 7,42 ở tầng đất mặt); Hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số rất nghèo;
Lân dễ tiêu giàu ở tất cả các tầng đất; Kali tổng số từ 1,46 - 1,49%, kali dễ tiêu
nghèo. Lượng canxi và magiê trao đổi trong đất cao, lượng canxi trao đổi cao
gấp nhiều lần so với magiê trao đổi…
Loại đất này phân bố dọc hai bên sông Hồng và sông Chảy thuộc địa phận
các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát, Văn Bàn và thành phố Lào
12
Cai. Hiện tại, ở những vùng có điều kiện tưới được nhân dân trồng lúa, ở những
nơi địa hình cao điều kiện tưới khó khăn trồng ngô, lạc, rau đậu các loại. Là loại
đất có độ phì khá, thích hợp với trồng các loại cây lúa, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày vì vậy hướng sử dụng nên trồng các loại cây lúa, hoa màu
(ngô, khoai, rau, đậu, đỗ…) và cây công nghiệp ngắn ngày (đậu tương, lạc) theo
hướng thâm canh, chuyên canh để cải thiện lý tính, nâng cao độ phì cho đất
nhưng cần tăng cường bón các loại phân, nhất là phân hữu cơ.
- Đất phù sa không được bồi trung tính ít chua (Pe): Diện tích 1.011 ha
chiếm 0,16% diện tích tự nhiên. Đất ít chua (pHKCl: 5,65-5,75 ở tầng đất mặt).
Hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt trung bình. Lân tổng số giàu lân
dễ tiêu ở tầng đất mặt trung bình, ở các tầng dưới từ nghèo đến trung bình. Kali
tổng số trung bình đến giàu ở tất cả các tầng đất. Kali dễ tiêu trung bình ở tầng
đất mặt). Tổng lượng canxi và magiê trao đổi trung bình, trong đó canxi trao đổi
chiếm ưu thế hơn so với magiê trao đổi.
Đất này phân bố ở các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát và
thành phố Lào Cai. Hiện tại đất phù sa không được bồi trung tính ít chua đang
được trồng chủ yếu 2 vụ lúa/năm. Đối với vùng đất chân vàn có điều kiện tưới
tiêu trồng 2 vụ lúa hoặc luân canh lúa - màu. Ở nơi địa hình cao không chủ động
được nước tưới trồng cây hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày hoặc cây lâu
năm.
- Đất phù sa ngòi suối (Py): Diện tích 4.232 ha chiếm 0,66% diện tích tự
cây có giá trị kinh tế cao như: chè, nhãn, mơ, táo, lê. Ở vùng đất có độ dốc 15250 nên sử dụng phương thức canh tác nông lâm kết hợp. Nơi đất dốc trên 25 0
nên khoanh nuôi bảo vệ rừng và trồng rừng. Trong quá trình canh tác cần chú ý:
Bón vôi để khử chua cho đất; Tăng cường bón các loại phân hữu cơ, phân lân và
kali vừa đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cho cây, đồng thời nâng cao độ màu mỡ
cho đất; Áp dụng các biện pháp canh tác trên đất dốc hợp lý tránh xói mòn rửa
trôi đất vào mùa mưa.
- Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa): Diện tích 88.039 ha chiếm 13,79%
diện tích tự nhiên. Phân bố ở các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát,
Sa Pa, Văn Bàn và thành phố Lào Cai. Loại đất này có độ phì nhiêu kém, lại ở
địa hình có độ dốc lớn là chủ yếu, nên đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát
triển của các cây trồng nông nghiệp.
Hiện tại loại đất này một số vùng đã được nhân dân khai thác làm ruộng bậc
thang trồng lúa nước, còn phần lớn sử dụng trồng các loại cây hoa màu và cây
lâu năm ở những vùng đất có độ dốc dưới 15 0 với tầng đất dày. Đối với những
vùng đất có độ dốc 0-80 nên ưu tiên trồng các loại cây hoa màu lương thực. Ở
vùng đất có độ dốc 8-150 nên trồng các loại cây lâu năm. Nơi đất dốc 15-25 0 nên
sử dụng phương thức canh tác nông lâm kết hợp.
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Diện tích 2.993 ha chiếm 0,47% diện tích
tự nhiên được phân bố ở các huyện Bảo Thắng, Bảo Yên và Văn Bàn. Đất này có
các chất tổng số trung bình, các chất dễ tiêu nghèo. Hiện tại loại đất này một
phần sử dụng làm nương rẫy, còn chủ yếu là thảm rừng hoặc đất trống. Tuỳ theo
cấp độ dốc mà bố trí cây trồng một cách hợp lý, trong đó quá trình canh tác cần
phải chú ý các giải pháp kỹ thuật và đầu tư phân bón để vừa đảm bảo cung cấp
đủ dinh dưỡng cho cây, vừa nâng cao độ phì của đất.
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Diện tích 4.832 ha chiếm 0,76% diện
tích tự nhiên. Phân bố ở các huyện Bảo Thắng, Bảo Yên, Bát Xát và thành phố
14
Lào Cai. Thành phần cơ giới của đất thường là thịt trung bình, khả năng giữ
* Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi cao
Diện tích 44.483 ha chiếm 6,99% diện tích tự nhiên, phân bố ở các huyện
Bắc Hà, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn và thành phố Lào Cai, gồm:
- Đất mùn vàng nhạt trên núi cao (A): Diện tích 43.925 ha chiếm 6,9%
diện tích tự nhiên. Phân bố ở các huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa, Văn
Bàn và thành phố Lào Cai. Loại này có độ phì tốt, song do hạn chế về độ dốc lớn
15
cộng với nền nhiệt độ thấp trong năm nên đã ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát
triển của một số loại cây trồng ưa nhiệt độ cao song lại thích hợp cho một số loại
cây ôn đới. Ở độ dốc 15-250 nên sử dụng phương thức canh tác nông lâm kết
hợp, độ dốc trên 250 nên khoanh nuôi bảo vệ rừng.
- Đất mùn thô than bùn núi cao (At): Diện tích 558 ha chiếm 0,09% diện
tích tự nhiên. Phân bố ở huyện Sa Pa và Bát Xát thuộc các đỉnh cao của dãy
Hoàng Liên Sơn và khu vực quanh đỉnh Phan Xi Păng.
* Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tu
Diện tích 5.148 ha chiếm 0,81% diện tích tự nhiên. Phân bố ở tất cả các
huyện và thành phố Lào Cai. Đây là loại đất có độ phì khá, hiện đang được sử
dụng trồng lúa. Nên trồng 2 vụ lúa/năm ở những nơi chủ động được nước tưới
hoặc luân canh lúa - màu ở nơi có điều kiện tưới gặp khó khăn.
1.2. Quá trình phát triển kinh tế -xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng
1.2.1. Khái quát tình hình phát triển kinh tế và ngành nông nghiệp của tỉnh
a. Vị trí của ngành nông nghiệp trong phát triển kinh tế của tỉnh
Hiện tại và trong 5 – 10 năm tới sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả lâm
nghiệp, thuỷ sản) và kinh tế nông thôn của Lào Cai vẫn có một vị trí hết sức quan
trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Cơ cấu giá trị sản phẩm ngành
Nông nghiệp (gồm cả Lâm Nghiệp, Thuỷ sản của tỉnh) có xu hướng giảm so với
các ngành kinh tế khác, đây là thực tế đặt ra cho ngành nông nghiệp cần phải tìm
các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, khai thác tối đa các tiềm năng sẵn có,
14.613
18.212
Tỷ đồng
12.359
18.264
24.391
%
%
%
100
19,0
30,46
100
18,1
32,5
100
16,1
34,1
16
trồng trọt vẫn thấp hơn so với ngành chăn nuôi và dịch vụ.
Bảng 4: Một số chỉ tiêu tổng hợp về tăng trưởng ngành nông nghiệp tỉnh Lào Cai - Thời
kỳ 2010-2014
Tổng
TT
Hạng mục
số
Chia ra
Trồng
Chăn
trọt
nuôi
Dịch vụ
Giá trị sản xuất (Tỷ đồng theo
I giá 2010)
3.326
1 Năm 2010
2.252
998
75
3.537
2 Năm 2012
2.482
967
88
3.963
3 Năm 2014
2.668
1.197
99
Năm
TT
Hạng mục
2010
2012
2013
2014
Giá trị sản xuất theo giá HH (Tỷ
1 đồng)
3.326
4.759
5.134
5.585
- Trồng trọt
2.252
3.032
3.374
3.660
- Chăn nuôi
998
1.620
1.643
1.799
- Dịch vụ
75
106
117
126
2 Cơ cấu giá trị sản phẩm (%)
100
gần 4.000 Km.
- Ngoài ra, còn có tuyến đường cao tốc Lào Cai - Hà Nội đã hoàn thành
vào năm 2014 có chiều dài 264 km, nối với đường cao tốc Côn Minh - Hà Khẩu,
đây là công trình trọng điểm quốc gia nằm trong chương trình hợp tác kinh tế
tiểu vùng sông Mê Kông, là lợi thế to lớn trong tương lai gần để phát triển nhanh
kinh tế, xã hội của tỉnh.
Nhìn chung mạng lưới đường bộ phân bố tương đối đồng đều. Trên địa
bàn tỉnh đã có 100% số xã có đường ô tô tới trung tâm xã, 85% số thôn bản có
đường giao thông. Sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ trong những
năm qua đã góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế- xã hội nói chung và
nông nghiệp, nông thôn nói riêng trên địa bàn Lào Cai. Tuy nhiên các tuyến
đường hầu hết còn ở cấp thấp, nhỏ hẹp, nhiều tuyến chưa vào cấp, nhiều tuyến
đường nông thôn chỉ có nền đất, ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng lưu thông
hàng hoá, thu hoạch và bảo quản nông sản, phát triển sản xuất và nâng cao đời
sống, nhất là trong mùa mưa.
18
* Giao thông thuỷ: Có 2 tuyến sông Hồng và sông Chảy chạy dọc tỉnh,
tạo thành một hệ thống giao thông đường thuỷ liên hoàn. Đường sông Lào Cai
chưa thực sự phát triển mạnh mặc dù trên địa bàn tỉnh có rất nhiều sông lớn như
sông Hồng dài 130 km (trong đó nội địa có 75 km và chung biên giới với Trung
Quốc khoảng 55 km). Do có nhiều ghềnh thác chưa được chỉnh trị nên khả năng
vận tải còn hạn chế..
* Giao thông đường sắt: Trên địa bàn tỉnh hiện có 120 Km đường sắt,
bao gồm các tuyến Hà Nội - Lào Cai trên địa phận dài 62 Km, phục vụ vận
chuyển hành khách, du lịch và hàng hoá; có 58 Km đường sắt chuyên dùng của
Công ty Apatit từ Phố Lu - Cam Đường và Nhà máy tuyển quặng chủ yếu phục
vụ hoạt động khai thác, vận chuyển quặng apatít...
b. Thủy lợi
- Công trình thủy lợi:
Đến năm 2010, trên địa bàn tỉnh Lào cai đã xây dựng được 1.120 hệ thống
công trình thủy lợi nhỏ độc lập diện tích khu tưới trên 3 ha (có 83 hệ thống tưới
có đầu mối là hồ chứa nhỏ, dung tích dưới 1 triệu m 3; các hệ thống tưới có đầu
mối là 07 trạm bơm, còn lại là các hệ thống tự chảy đập dâng kênh dẫn). Toàn
tỉnh có 1.132 đập dâng, 1.367 tuyến kênh dẫn với chiều dài 2.845 km. Thực hiện
chương trình kiên cố hóa kênh mương đến năm 2010 toàn tỉnh đã kiên cố hóa
được 190,2 km có chiều rộng đáy trên 50cm và 1.735 km kênh có chiều rộng đáy
từ 50cm trở xuống, còn lại 922 km kênh đất có chiều rộng đáy trên 30cm chưa
được kiên cố hóa. Trong giai đoạn 2005 – 2010, tổng kinh phí được đầu tư cho
hệ thống kênh mương gần 300 tỷ đồng từ các nguồn vốn trái phiếu Chính phủ,
ngân sách địa phương, ngân sách Trung ương đầu tư theo chương trình dự án có
mục tiêu (CT 135, QĐ 120, NQ 30a, CT bố trí dân cư, vốn tài trợ từ các tổ chức
quốc tế, nhân dân đóng góp); kinh phí đầu tư cho 35 công trình thủy lợi và kè 2
bờ sông Hồng ước tính gần 500 tỷ đồng.
Bảng 6. Hiện trạng thủy lợi tỉnh Lào Cai năm 2010
Đơn vị hành chính
Huyện Văn Bàn
Huyện Sa Pa
Huyện Bảo Thắng
Huyện Mường Khương
TP. Lào Cai
Huyện Xát Xát
Huyện Bảo Yên
Huyện Bắc Hà
Huyện Si Ma Cai
Toàn tỉnh
Hồ
12
162,35
68
58
297,56
63,41
234,15
36
39
142,74
77,89
64,85
96
44
450,55
158,52
292,03
87
73
352,91
133,21
219,7
64
78
280,98
101,24
179,74
45
19
176,03
27,92
ha/3.175 ha lúa vụ xuân (đạt 95%), 4.469 ha/4.680 ha lúa vụ mùa (95,5%). Vùng
còn có 2.750 ha màu, trên 550 ha rau.
Vùng 2: Vùng tưới thuộc lưu vực Nòi Bo phụ lưu giữa sồng Hồng. Trong
vùng có 12 hồ chứa nhỏ và 123 đập và 212 km mương dẫn nước. Diện tích đất tự
nhiên 75.105 ha, trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp 7.966 ha. Trong đó
đất ruộng lúa vụ chiêm 906 ha, tưới chủ động 456 ha (đạt 50,3%); lúa vụ mùa 2.712
ha, tưới chủ động 1640 ha (đạt 60,5%). Vùng còn có 2.200 ha cây lâu năm, 2.900 ha
đất trồng màu. Đây là vùng có tỉ lệ tưới chủ động thấp nhất so với các vùng.
Vùng 3: Thuộc lưu vực phía tả sông Hồng, tiếp giáp với dãy núi con Voi có
diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 13.360 ha, trong đó đất trồng cây
hàng năm 9.100 ha (đất lúa nước 2.700 ha), cây lâu năm 4.260 ha. Vùng có 18
hồ chứa nước, 123 đập tràn và 211 km kênh dẫn nước. Năm 2010 đã tưới tiêu
chủ động cho 1.120 ha lúa chiêm (đạt 65,5%) và 1.990 ha lúa mùa (đạt 73,6%).
Vùng 4: Vùng tưới thuộc lưu vực tưới Ngòi Đum, Ngòi San và Gia Hô.
Trong vùng có 12 hồ chứa nước, 266 đập dâng và 514 km kênh dẫn nước. Diện
tích tự nhiên vùng 208.139 ha, đất nông nghiệp khoảng 13.300 ha với đất trồng
cây hàng năm 10.700 ha (đất lúa nước 5.400 ha), cây lâu năm 2.600 ha. Năm
2010, hệ thống thủy lợi đã tưới tiêu chủ động cho 1.870 ha lúa chiêm (đạt
98,5%) và 4.780 ha lúa mùa (73,6%).
Vùng 5: vùng tưới thuộc lưu vực và phụ lưu của sông Chẩy. Trong vùng có
20 hồ chứa nước, 420 đập dâng và 665 km kênh dẫn nước. Diện tích toàn vùng
144.316 ha, diện tích đất nông nghiệp khoảng 36.800 ha, trong đó đất trồng cây
hàng năm 29.600 ha (đất lúa nước 6.700 ha), đất cây lâu năm 7.200 ha. Năm
2010 đã tưới tiêu chủ động cho 2.600 ha lúa chiêm (đạt 95,6%) và 5.930 ha lúa
mùa (87,9%).
c. Thực trạng lưới điện nông thôn
21
17
22
Số xã
có
điện
144
5
22
16
13
20
12
17
17
22
Tỉ lệ
%
Tổng
số thôn
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
(%)
Tổng
số hộ
Số hộ
có điện
Tỉ lệ
(%)
76,0
92,8
73,4
85,2
66,3
51,3
88,1
72,2
75,3
84,4
93.079
4.730
10.918
10.557
4.958
8.328
21.584
13.246
665.152 người, trong đó dân số nông thôn 513.189 người, chiếm 77,15% dân
số chung. Tổng số lao động trong độ tuổi 458.142 người, riêng lao động
nông thôn có 347.642 người (đang làm việc là 327.955 người), bình quân
một lao động nông nghiệp phụ trách 0,24 ha đất sản xuất nông nghiệp và
0,97 ha đất lâm nghiệp.
Với lực lượng lao động nông nghiệp như trên, Lào Cai có đủ lao động để
thực hiện thâm canh, đa dạng hóa sản xuất trong nông nghiệp. Đây là nguồn lực
quan trọng để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh sản
xuất nông nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa.
b. Trình độ lao động nông nghiệp:
Nhìn chung hiện nay lực lượng lao động nông nghiệp có trình độ chuyên
môn kỹ thuật ở Lào Cai hiện còn thấp. Theo niên giám thống kê tỉnh Lào Cai
năm 2014, lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm khoảng 7,82%. Số lao động
được đào tạo về quản lý, kỹ thuật thông qua dự án đào tạo cán bộ xã, các dự án
22
khuyến nông, khuyến lâm trong 10 năm qua bình quân mỗi năm khoảng 9.000
người.
c. Mức sống dân cư nông thôn
- Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được các cấp uỷ đảng, chính quyền
quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo, được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng. Đã
thực hiện tốt việc lồng ghép các chương trình, dự án trên địa bàn tỉnh với chương
trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm, nên kết quả đạt được
đáng phấn khởi, bình quân trong thời gian qua, mỗi năm giảm được 4,5% số hộ
nghèo (khoảng 5.000 hộ) theo tiêu chí mới, đến năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo là
42,9% (khu vực nông thôn là 53,4%), đến năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống
còn 17,61% (khu vực nông thôn là 22,47%).
- Thu nhập bình quân theo đầu người/tháng theo giá hiện hành của tỉnh
Lào Cai nhìn chung vẫn còn thấp, bình quân khu vực thành thị là 4,584 triệu
* Khó khăn, hạn chế
- Địa hình chia cắt mạnh, đặc biết các vùng có tiềm năng phát triển cây
dược liệu quý đa phần lại nằm ở các khu vực có độ cao từ >1000 m nên giao
thông đi lại gặp nhiều khó khăn.
- Điều kiện khí hậu, thuỷ văn của tỉnh Lào Cai nhìn chung có mức độ phức
tạp và diễn biến khó lường, hiện tượng hạn hán, lũ lụt, mưa đá, sương muối, rét
đậm rét hại... ở mức độ cao hơn hơn sơ với nhiều tỉnh thành khác của cả nước.
Đặc biệt tại 5 huyện nghiên cứu quy hoạch cây dược liệu (Sa Pa, Bắc Hà,
SiMaCai, Mường Khương và Bát Xát) diễn biến khí hậu và thủy văn còn ở mức
phức tạp hơn nữa do yếu tố địa hình và độ dốc cao hơn so với các khu vực khác.
Các hiện tượng tiêu cực của khí hậu và thủy văn có tác động tiêu cực đến sinh
trưởng, phát triển của cây trồng nói chung và cây dược liệu nói riêng; đất đai bị
xói mòn mạnh làm cho nền nông nghiệp phát triển kém bền vững.
- Nguồn lao động nông thôn tại các vùng nghiên cứu quy hoạch đa phần
có chất lượng thấp, phần lớn chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Nhiều khu
vực bà con dân tộc thiểu số chưa biết tiêng phổ thông nên khó khăn trong giao
tiếp và tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật.
- Một bộ phận đồng bào các dân tộc dân trí thấp, còn tập quán du canh du
cư; phong tục tập quán và phương thức canh tác lạc hậu ...
Những hạn chế trên là những thách thức mà nông nghiệp Lào Cai nói
chung và ngành cây dược liệu nói riêng phải vượt qua để sớm phát triển và hình
thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung.
II. THỰC TRẠNG VÙNG TRỒNG CÂY DƯỢC LIỆU TỈNH LÀO CAI
TỪ NĂM 2012-2014
2.1. Đánh giá về tình hình sản xuất vùng trồng cây dược liệu hàng hóa
2.1.1. Hiện trạng diện tích cây dược liệu hiện có trên địa bàn của tỉnh
Tỉnh Lào Cai có nhiều khu vực núi cao với địa hình chia cắt và phân bố
cao thấp khác nhau, điều kiện cho khí hậu đa dạng từ nhiệt đới đến á nhiệt đới.
Nhờ vậy tỉnh Lào Cai có nhiều loại cây dược liệu quý với số lượng hàng trăm
loài, nhiều loài quý hiếm có giá trị y dược rất cao như Sâm Ngọc Linh (khu vực
như sau:
Bảng 8: Tình hình diện tích cây dược liệu tỉnh Lào Cai giai đoạn 2012 -2015
Năm 2012
Năm 2014
Năm 2015
So sánh (ha)
DT
CC
DT
CC
DT
CC (2015- (2015TT
Địa điểm
(ha)
(%)
(ha)
(%)
(ha)
(%)
2012) 2014)
1 TP. Lào Cai
11
3,3
0
0,0
12
1,6
1
12