1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VÌ VĂN TOÀN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VÙNG TRỒNG CÂY CAO SU
(HEVEA BRASILIENSIS) TẠI XÃ CHIỀNG SÀNG
HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Sỹ Trung
Thái nguyên, năm 2010
2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần
của các thầy giáo, cô giáo, sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ nhiệt tình của bạn
bè, người thân và đồng nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới thầy giáo
TS. Lê Sỹ Trung trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người hướng dẫn
khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và
hoàn thành luận văn.
RRA
Đánh giá nhanh nông thôn
3
PRA
Đánh giá có sự tham gia của người dân.
4
SALT
Mô hình canh tác trên đất dốc.
5
NLKH
Nông lâm kết hợp.
6
VRG
Tập đoàn công nghiệp Cao su.
7
12
HĐND
Hội đồng nhân dân.
13
UBND
Uỷ ban nhân dân.
14
LNXH
Lâm nghiệp xã hội.
15
KHNN
Khoa học nông nghiệp.
16
CNQSDĐ
Chứng nhận quyền sử dụng đất.
22
SXNLN
Sản xuất nông lâm nghiệp
4
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3
1.1
TỔNG QUAN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐÂT
3
1.1.1
Quy hoạch phát triển Lâm nghiệp ở Việt nam.
8
1.1.3
BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
11
1.2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU Ở VIỆT
12
NAM.
1.2.1
Đặc tích sinh vật học cây Cao su
12
1.2.2
Đặc tính sinh thái và phân bố của cây Cao su
14
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
24
2.3.1
Nghiên cứu cơ sở lý luận trong quy hoạch sử dụng đất
24
2.3.2
Nghiên cứu cơ sở thực tiễn
25
2.3.3
Quy hoạch phát triển trồng cây Cao su tại xã Chiềng Sàng
25
2.4
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
26
2.4.1
Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
30
3.1
CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
30
3.1.1
Quan điểm phương pháp luận trong quy hoạch sử dụng đất
30
3.1.2
Nguyên tắc cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất
30
3.1.3
Quy luật phát triển của QHSDĐ
33
3.1.4
3.1.9
QHSDĐ Cấp xã trong hệ thống QHSDĐ vĩ mô và vi mô.
43
3.1.10
Dự báo thị trường và khả năng phát triển của cây Cao su
44
3.2
CƠ SỞ THỰC TIỄN.
46
3.2.1
Điều kiện tự nhiên.
46
3.2.2
Hiện trạng quy hoạch sử dụng đất của xã.
58
3.3.2
Xây dựng kế hoạch thực hiện phương án quy hoạch
67
3.3.3
Quy hoạch và các biện pháp kỹ thuật trồng cây Cao su.
68
3.3.4
Đầu tư và hiệu quả của phương án
77
6
3.3.5
Đề xuất các giải pháp thực hiện.
82
Chương IV KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ
87
Yên Châu nói riêng cây Cao Su là một cây trồng mới được đưa vào gây trồng một
vài năm gần đây. Nó được xem như là một cây xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập
cho người dân, tạo công ăn việc làm cho bà con địa phương, cải thiện đời sống cho
người dân nơi đây.
Cao Su là một cây trồng có nhiều tác dụng bản thân loài cây này sinh trưởng
tốt và có khả năng phòng hộ nơi đất dốc, có giá trị sinh thái cao đặc biệt cây Cao su
còn đem lại nguồn lợi về kinh tế cho người dân: sản lượng nhựa có thể chế biến
thành sản phẩm có giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường trong nước và ngoài nước,
ngoài sản phẩm nhựa ra cây Cao su còn có thể khai thác gỗ làm các công trình xây
dựng nhỏ và đóng đồ gia dụng, sản xuất bao bì.
Cũng như bao cây trồng khác, Cao su có khả năng quang hợp làm giảm nồng
độ CO2 và tăng nồng độ O2 trong không khí ( hút khí CO2 và nhả khí O2 trong quá
trình quang hợp), điều hoà khí hậu tạo không khí trong lành. Lợi ích của cây Cao su
là như vậy nhưng vấn đề mà chúng ta đang gặp phải khó khăn hiện nay là việc quy
hoạch diện tích đất trồng sao cho phù hợp, nhất là tỉnh miền núi như Sơn La, với
việc tiếp cận loài giống mới như cây Cao su.
Yên Châu là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố
Sơn La 64 km về đông nam. Đất đai chủ yếu là đồi núi chiếm hơn 75 % diện tích
toàn huyện. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn.
Chiềng Sàng là xã nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của
huyện Yên Châu, cách trung tâm huyện 10 km về phía Tây bắc. Xã có điều kiện
giao thông thuận lợi và địa hình tương đối bằng phẳng. Tổng diện tích tự nhiên của
xã là 2.019 ha, gồm có 5 bản với 950 hộ 3986 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Thái, Kinh
8
sinh sống trong đó dân tộc Thái chiếm 79%, dân tộc Kinh chiếm 21%. Cuối năm
1998 xã đã thực hiện việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, tuy nhiên việc
phân bổ đất đai cho các ngành, các thành phần quản lý và chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
mà chủ yếu là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn nhiều lúng túng, hệ canh
tài liệu của FAO thì thế giới đang sử dụng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ
ha, mỗi năm diện tích rừng bị thu hẹp 11 triệu ha. Riêng ở châu Á Thái bình dương
vào những năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng. Cũng trong thời gian này, châu
Phi mất 37 triệu ha rừng, châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Trong khi đó diện tích
trồng rừng hàng năm chỉ bằng 1/10 diện tích rừng mất đi. Nguyên nhân là do nạn
phá rừng diễn ra tràn lan với tốc độ lớn, cho nên hiện nay có tới 875 triệu người
phải sống ở những vùng sa mạc hoá. Do xói mòn hàng năm trên thế giới mất đi 12
tỷ tấn đất, với lượng đất mất đi như vậy người ta ước tính có thể sản xuất ra 50 triệu
tấn lương thực. Tài nguyên nước cũng bị ảnh hưởng lớn, hàng nghìn hồ chứa nước
ở vùng nhiệt đới đang bị cạn kiệt dần, nước ngọt trở nên khan hiếm. Tuổi thọ của
nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn. Hàng năm thiệt hại do lũ lụt
10
hạn hán vẫn sảy ra nghiêm trọng trên thế giới và gây nhiều tổn thất to lớn cho nền
kinh tế toàn cầu.
Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền
với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trải qua một quá trình khai thác, bóc lột
lâu dài tài nguyên thiên nhiên mà không hề nghĩ đến phục hồi và bảo vệ nó. Con
người chỉ biết làm sao đem lại lợi nhuận cao về kinh tế trên mảnh đất mình sử dụng,
chính vì lẽ đó mà thiên nhiên đã quay lưng lại với xã hội loài người, thiên tai hạn
hán sảy ra thường xuyên, mặt đất nóng lên và lạnh đi một cách thất thường, tầng
ôzôn bị phá huỷ, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên băng giá hai cực tan ra, nước
biển dâng cao nhấn chìm những vùng đất ven biển. Hiện nay trên thế giới các nước
đang phát triển, đặc biệt ở châu Á đều có một thực trạng giống nhau đó là nạn du
canh du cư đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền
núi và nông thôn chưa tự cung tự cấp được lương thực thực phẩm, năng suất cây
trồng vật nuôi lại thấp, tác động của nhà nước làm thay đổi về mặt kinh tế văn hoá
xã hội còn ít. người dân nghèo khổ không còn cách nào khác là phá rừng lấy đất
canh tác, khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, dẫn đến tình trạng mất rừng làm
kỷ 80 và lập kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển
(Chambers 1994)[30], đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch.
Phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất được
nghiên cứu rộng rãi. Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo
giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường tổng hợp kỹ thuật Dresden,
vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Wibrig
đề cập đến một cách khá đầy đủ và toàn diện.[31].
Một trong những thành công cần được đề cập đến là các nhà khoa học của
Trung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippiness tổng hợp,
hoàn thành và phát triển từ những năm 1970 đến nay. Đó là mô hình kỹ thuật canh
tác trên đất dốc SALT. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện đến
12
năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác
nông nghiệp bền vững trên đất dốc và được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đó là các
mô hình SALT1, SALT2, SALT3, và SALT4.
Ở Inđônêxia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều do
công ty lâm nghiệp nhà nước tổ chức. Nông dân được cán bộ công ty hướng dẫn kỹ
thuật trồng sau hai năm người dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông
nghiệp họ toàn quyền sử dụng. Ngoài ra ở đây còn có mô hình lâm nghiệp
“Ladang” rất được chú ý [29].
1.1.2 Ở VIỆT NAM.
1.1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất.
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt,
là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
vực dân cư. Xây dựng cơ sở kinh tế - văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng (luật
đất đai năm 1993)[11]. Cho nên đất đai chính là một tư liệu sản xuất không có gì
thay thế được. Chính vì lẽ đó mà nước ta từ thời Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp
đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quy
cửu long.
Phạm Chí Thành và cộng sự (1993), trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về
các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng cuốn giáo trình hệ
thống nông nghiệp. Ngoài phần hệ thống hoá nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất
chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp Việt Nam
gồm hệ phụ: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, quản lý, lưu thông, phân phối. Công
trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệp trên cả hai phương
diện lý luận và thực tiễn.
Công tác quy hoạch sử dụng đất trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 – 2000
đã được cục Địa chính xây dựng vào năm 1994. Trong đó việc lập kế hoạch giao đất
Nông nghiệp, Lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập
tới. Báo cáo đã đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển
14
đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương và các ngành thống nhất triển khai
công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất.
Để làm rõ cơ sở cho chiến lược sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả theo quan
điểm phát triển bền vững, Nguyễn Huy Phồn[17], trong luận án phó tiến sỹ khoa
học Nông nghiệp đã tiến hành đánh giá loại hình đất chủ yếu trong Nông - Lâm
nghiệp. Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai hiện trạng sử
dụng đất Nông – Lâm nghiệp tác giả đã xây dựng các mục tiêu phát triển kinh tế và
môi trường cho toàn vùng nghiên cứu.
Trong giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng
hợp một cách có hệ thống trên toàn Miền Bắc. Nhưng mãi đến năm 1975 các số
liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản. Xung quanh chủ đề
phân loại đất đã có những công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng
sinh thái.Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức độ nghiên
cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất. Công tác điều tra
phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất. Trước việc quy hoạch sử
Quy hoạch lâm nghiệp cho cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Lâm trường,
Công ty lâm nghiệp, khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cộng đồng thôn bản, gia
đình. Trong tài liệu sử dụng đất tổng hợp và bền vững của tác giả Nguyễn Xuân
Quát, tác giả đã nêu ra những điều cần thiết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng
đất đai cũng như các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững, mô hình kinh
doanh phục hồi rừng ở Việt Nam. Đồng thời bước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng
thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững.
Do việc quản lý và sử dụng chưa bền vững và nhu cầu rất lớn về khai hoang
đất rừng và lâm sản cho việc phát triển kinh tế - xã hội, nên diện tích và chất lượng
rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảm liên tục. Theo các tài liệu đã có
được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990
chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ còn 27,2%; thời kỳ 1980 – 1990 bình quân mỗi
năm hơn 100 nghìn ha rừng bị mất. Nhưng từ năm 1990 trở lại đây, diện tích rừng
đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và
16
Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm). Theo công bố tại Quyết
định số 1970/QĐ/BNN – KL – LN ngày 06 tháng 7 năm 2006, tính đến 31 tháng 12
năm 2005, diện tích rừng toàn quốc là 12,61 triệu ha ( độ che phủ rừng là 37%)
trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên 2,33 triệu ha rừng trồng được phân chia theo 3
loại rừng như sau:
- Rừng đặc dụng là: 1,93 triệu ha chiếm 15,2%
- Rừng phòng hộ là: 6,2 triệu ha chiếm 49%
- Rừng sản xuất là : 4,48 triệu ha chiếm 35,8 %
Với vốn rừng như trên, chỉ tiêu bình quân ở nước ta hiện nay là 0,15
ha/người, xếp vào loại thấp của thế giới (0,97 ha/người). Trữ lượng gỗ bình quân
9,16 m3 gỗ/người, trong khi đó chỉ tiêu này của thế giới là 75m3 gỗ/người. Các loài
thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm bị mất đi, chức năng phòng hộ và cung cấp
của rừng giảm sút rõ rệt.
hoạch cấp xã và cấp thôn bản.
- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm
năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng.
- Công tác quy hoạch thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy
hoạch, thiếu sự đóng góp của người dân. Vì vậy không khai thác được kinh nghiệm
của người dân trong cộng đồng và tính khả thi không cao.
- Cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa rõ ràng, thực tiễn
về quy hoạch cấp xã chưa nhiều để tổng kết đánh giá.
Bên cạnh những hạn chế về việc nghiên cứu và thử nghiệm đối với quy
hoạch Lâm - Nông nghiệp ở Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu và thử nghiệm có
thể được vận dụng vào trong nghiên cứu của luận văn. Phương pháp tiếp cận có sự
tham gia của người dân vào quá trình quy hoạch sẽ giúp cho công tác nghiên cứu.
Phương pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ canh tác để lựa chọn cây trồng và xác
định các phương thức sử dụng đất sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của
đề tài.
18
1.2 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU Ở VIỆT NAM.
1.2.1 Đặc tích sinh vật học cây Cao su.[16]
* Các bộ phận của cây Cao su: Cao su ( Hevea brasiliensis) nhìn hình dáng
bên ngoài có thể chia ra làm bốn phần chính sau:
+ Thân cây: Là bộ chính của cây, cao su thuộc loại thân gỗ, to, cao. Ở những
cây lâu năm có thể cao đến 30m và đường kính thân cây tới 1m. Hình dạng của thân
ở cây thực sinh và cây ghép có khác nhau: phần sát gốc cây ghép thì bình thường
nhưng ở cây thực sinh thì có dạng chân voi. Khi cây còn non, điểm sinh trưởng ở
ngọn hoạt động mạnh phát sinh trên thân thành từng tầng lá rõ rệt.
Cấu tạo của thân cây cao su có phần quan trọng là vỏ thân vì đây là bộ phận
sản sinh ra nhựa mủ quyết định đến năng suất và sản lượng nhựa mủ cao su.
Cấu tạo của vỏ thân bao gồm: Biểu bì, nhu mô, tượng tầng và gỗ. Trong đó
24
11
7
Cách gốc 1m
14
6
6
Cành cấp 1
9
8
3
Cành cấp 2
4
2
0
10,7
11,9
13,8
13,0
+ Lá cây: Lá Cao su mọc cách có 3 lá chét nhỏ cuống dài có hình bầu dục,
đuôi nhọn, mặt nhẵn, gân song song .
Lúc cây non lá có màu tím đỏ sau dần chuyển sang mầu xanh nhạt rồi xanh lục
và hình thành từng lá rõ rệt. Khi cây lớn trưởng thành cho thu hoạch mủ thì tầng lá
phát triển mạnh hình thành tán rộng, cần chú ý mật độ khoảng cách trồng thích hợp.
+ Hoa, Quả, Hạt:
- Hoa Cao su thuộc loại đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng. Trong một
chùm hoa có số lượng hoa đực nhiều gấp 50 lần hoa cái. Sau khi trồng được 5 – 6
năm cây mới có hoa quả, thường ở vào mùa xuân (tháng 3 - 4) hoặc tháng 7 – 8, sau
48 giờ phấn hoa mất sức sống. Nhìn chung khả năng thụ tinh thấp.
20
- Quả Cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa hạt, khi
chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài. Có 2 thời điểm thu hoạch quả: Mùa chính là
tháng 8 – 9, có thể thu thêm ở tháng 2 – 3.
- Hạt Cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng
cứng, hạt chứa 20% protit, 25% dầu …, rất dễ mất sức nảy mầm, chỉ sau thu hoạch
3 – 4 tuần không bảo quản tốt hạt không mọc được, nên yêu cầu phải gieo ngay.
+ Rễ cây: Bộ rễ Cao su bao gồm các loại:
Rễ trụ: Là rễ chính có thể ăn sâu. Rễ con và rễ hấp thụ phát triển mạnh ở xung
quanh, phân bố theo từng tầng, có hệ số tán cây/tán rễ = 1,5 lần.
cây Cao su là 28.000 lux. Nếu thời gian chiếu sáng khác nhau thì sự sinh trưởng của
cây cũng khác nhau (bảng 1.3).
Bảng 1.3: Ảnh hưởng số giờ chiếu sáng đến sinh trưởng cây con
Chỉ tiêu
Cao cây (cm)
Chu vi thân (cm)
Chiếu sáng 24 h
31,9
0,8
Chiếu sáng tự nhiên
17,8
0,7
Chiếu sáng 6 h
5,3
0,6
Xử lý ánh sáng
+ Điều kiện về đất đai và địa hình:
thứ hai ở khu Bàu Ông Yệm (Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương) do một sĩ quan quân y
Pháp tên là Raoul phụ trách. Cả 2 nơi này đều thành công nhưng chỉ những cây Cao
su ở Lai Khê được chọn để nhân giống trồng đại trà ở Việt Nam và Campuchia. cây
Cao su được trồng tại Đông Nam Bộ và đến đầu thập kỷ 50, nó được trồng tại một
số vùng Tây Nguyên, miền Trung và một số vùng ở phía Bắc.
Vào năm 1976, diện tích cây Cao su tại nước ta khoảng 76.600 ha cho sản
lượng chỉ 40.200 tấn (năng suất bình quân 0,52 tấn / ha). Sau trên 30 năm phát triển
với chính sách đầu tư đúng đắn của nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các
thành phần kinh tế khác nhau, cùng có sự góp phần của các tiến bộ khoa học kỹ
23
thuật, đến cuối năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước đạt 549.000 ha cho tổng sản
lượng 601.700 tấn (năng suất bình quân 1,612 tấn /ha). Năng suất trên diện tích do
tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý đạt 1,716 tấn /ha, cao hơn năng
suất các nước sản xuất cao su hàng đầu như Thái lan, Indonesia, Malaysia, vốn có
điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Việt Nam. Trong khi năng suất cao su tiểu điền tại
Việt Nam hiện vẫn còn ở mức thấp, bình quân đạt 1,44 tấn / ha. Giá trị xuất khẩu
của cao su Việt Nam không những tăng về số lượng mà còn gia tăng đáng kể về mặt
chất lượng, chỉ tính riêng năm 2007 Việt Nam xuất khẩu 741.000 tấn cao su với 15
chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD.
Sau 110 năm cây Cao su được du nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ 6
trên thế giới về sản lượng cao su thiên nhiên và thứ 4 về xuất khẩu cao su thiên
nhiên. Trong các vùng trồng cao su chính ở Việt Nam, Đông Nam Bộ chiếm 67,4%
về diện tích nhưng đóng góp đến 78,5% về sản lượng, đồng thời cũng là vùng đạt
mức năng suất cao nhất nước. Trong khi tại Tây Nguyên và miền Trung là vùng có
đều kiện khí hậu ít thuận lợi thì cây cao su vẫn phát triển và đạt sản lượng bình quân
tương ứng là 1,360 và 1,172 tấn/ha (bảng 1.4). Tuy nhiên, có thể thấy rõ có sự
chênh lệch khá lớn giữa năng suất vườn cao su của các đơn vị sản xuất thuộc Tập
đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), là đơn vị có năng lực và tích cực áp
1
Đông nam bộ
370.650
67,4
472.400
78,5
1,714
106,3
2
Tây nguyên
124.780
22,7
106.560
17,7
1,360
-
-
5
Tổng cộng
549,600
100
601.700
100
1,612
100
Bảng 1.5: Diễn biến về diện tích, sản lượng và năng suất cây cao su 1995 – 2007
Chỉ tiêu
Thành phần
1995
2005
354.740
396.530 398.140
66,2
(ha)
Tiểu điền
2.565
126.860
158.780 203.560
33,8
Năng xuất
Đại điền
894
1,568
1,641
1,716
% (2007)
Nguồn: Trần Thị Thuý Hoa, 2008.
1.2.3.2 Những nghiên cứu về cây Cao su ở Việt Nam:
Để đạt được những thành quả như trên, đó là nhờ đến các công trình nghiên
cứu của tổ chức và cá nhân là những nhà khoa học, họ đã bỏ bao công sức để
nghiên cứu tạo nên những công trình những đề tài có ý nghĩa cho sự phát triển của
cây Cao su. Một trong những công trình thành công nhất có lẽ đó là bộ tài liệu của
Tổng công ty cao su Việt Nam “Quy trình kỹ thuật cây cao su”, chỉ đạo biên soạn
do Lê Văn Bình, Mai Văn Sơn, Thành phố HCM năm 2004[10]. Đó là công trình
tập thể của các cán bộ kỹ thuật trong ngành cao su được biên soạn và chỉnh sửa rất
công phu, gồm có 3 phần và 11 chương, nó đề cập đến tất cả các khâu trong quá
trình sản xuất cây Cao su.
25
Số lượng công trình nghiên cứu về giống chiếm nhiều nhất, bởi giống là yếu tố
quan trọng quyết định cho việc thành công hay thất bại trong quá trình trồng cây
cao su. Nhất là trong những năm gần đây nhà nước có chủ trương đưa cây Cao su
phát triển ra miền Trung, và các tỉnh Tây Bắc. Dựa vào điều kiện đất đai, khí hậu,
sau khi đưa vào trồng khảo nghiệm một số giống mới cao su ở địa bàn các tỉnh Gia
Lai, Đắk Lắk, Kon Tum,Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã tuyển chọn được 12
giống cao su, gồm PB 260, RRIM 600, RRIV 3, GT-1, PB 312, RRIC 100, RRIV 1,
RRIC 121, RRIV 2, LH 82/732, LH 83/85, LH 83/87. Đây là những giống cao su
sinh trưởng khoẻ, vỏ dày, kháng đổ gẫy do gió, chống chịu một số bệnh lá chính,
chống chịu môi trường (hạn, gió, nhiệt độ thấp...), đáp ứng tốt với kích thích mủ,
cho năng suất từ 1,6 tấn mủ/ha trở lên. Viện cũng khuyến cáo với các địa phương,
tuỳ theo độ cao của từng vùng bố trí trồng các giống cao su thích hợp.
Cũng theo khuyến cáo của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam, đối với các địa
phương có độ cao từ 600 đến 700 mét, đưa vào trồng các giống cao su như: PB 260,