SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
Buôn ma thuột, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Phần I: Mở đầu
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Đảng ta, dân tộc ta coi trọng sự nghiệp giáo dục - đào tạo là sự nghiệp cách
mạng cực kỳ quan trọng, Nghị quyết Trung ương II khoá VIII đã khẳng định:
"Giáo dục là quốc sách hàng đầu". Giáo dục làm nhiệm vụ hết sự vẻ vang, nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Những lớp người
có đức, có tài, có sức khoẻ để góp phần xây dựng nước nhà như lời Bác dạy trong
thư gửi học sinh nhân ngày khai trường năm 1945:
"Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có được sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ một
phần lớn ở công học tập của các cháu...".
Vì vậy giáo dục - đào tạo là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giáo dục phổ thông, trong
đó giáo dục ở bậc THCS có một vị trí hết sức quan trọng, bởi vì hết bậc tiểu học
học sinh bước sang một giai đoạn mới, có nhiều thay đổi về môi trường: Thầy, cô
mới và được nhiều thầy, cô dạy trong một buổi học. Phương pháp dạy cũng khác
hơn so với bậc tiểu học. Tâm lý của các em cũng có sự thay đổi, các em đang tập
làm người lớn, muốn bắt chước người lớn. Chính vì vậy giáo viên phải nắm được
tâm lý học sinh và có phương pháp giáo dục phù hợp để vừa truyền thụ kiến thức
cho các em, vừa có tác dụng giáo dục hình thành nhân sách cho các em qua mỗi
bài học, mỗi tiết dạy. Nghị quyết TW II khoá VIII đã nêu "giáo viên là nhân tốt
quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh". Sản phẩm của giáo
dục là con người có đủ trình độ và năng lực để chinh phục và cải tạo thiên nhiên,
bắt thiên nhiên phải phục vụ con người và cải tạo xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Năng lực của người thầy có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học; Năng
lực con người trong lĩnh vực giáo dục quyết định giá trị nhân cách của lớp người
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh vùng dân tộc thiểu số trong trường THCS Hàm Nghi
- Nghiên cứu một số giải pháp trong việc xây dựng và hình thành nhân sách cho
học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc.
2. Phạm vi nghiên cứu:
* Giả thiết khoa học và thực tiễn:
Việc giáo dục phát triển nhân sách cho con người cần phải có thời gian thường
xuyên và liên tục. Chính vì vậy việc hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân
tộc cần phải được tiến hành liên tục trong nhiều năm, theo kết quả khảo sát qua các
khoá học tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài này và đánh giá kết quả đạo đức học sinh
ở lớp chủ nhiệm và thời gian trực tiếp giảng dạy trên lớp trong những năm học gần
đây tại trường THCS Hàm Nghi, xã Cưêbur, thành phố Buôn Ma Thuột.
III. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
1. Mục đích:
- Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp hình thành nhân cách XHCN cho học
sinh THCS vùng đồng bào dân tộc. Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
trong nhà trường.
2. Nhiệm vụ
- Tìm hiểu thực trạng công tác thực hiện việc hình thành nhân sách cho học
sinh THCS trong phạm vi trường của mình.
- Hệ thống một số biện pháp thực hiện có hiệu quả trong việc hình thành nhân cách
cho học sinh THCS vùng đồng bào dân tộc.
3. Kế hoạch
- Nghiên cứu qua thực tiễn chỉ đạo việc hình thành nhân cách cho học sinh
THCS theo chủ điểm năm học 2009 – 2010 của ngành giáo dục “xây dựng trường
học thân thiện - học sinh tích cực”, “đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng
GD ”, “Đến trường không chỉ để học chữ ”.
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
-2-
các em. Mối quan hệ của các em với bạn bè cùng trang lứa. Hơn ai hết GVCN là
người gần gũi các em, các em luôn tin tưởng và coi đó là người cha - mẹ mình cần
tâm sự. Thế nhưng trên thực tế cũng có một bộ phận chủ nhiệm chưa thực sự quan
tâm, gần gũi, không phải là điểm tựa tinh thần cho các em.
3. So sánh kết quả:
Đây là phương pháp góp một phần nho nhỏ vào thực tế chất lượng giáo dục,
xây dựng và hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân tộc thiểu số trường
THCS Hàm Nghi.
- So sánh để thấy rõ việc xây dựng và hình thành nhân cách cho học sinh vùng dân
tộc thiểu số có ý nghĩa rất quan trọng trong nhà trường.
- So sánh để kiểm ngiệm và đúc rút kinh nghiệm thực tế việc áp dụng đề tài.
Phần II: NỘI DUNG
Chương I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
-3-
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. VỊ TRÍ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC:
- Giáo dục - đào tạo có một tầm quan trọng đặc biệt, bởi giáo dục - đào tạo
làm ra sản phẩm là con người có tri thức để xây dựng và bảo vệ đất nước. Khi đất
nước mới được giải phóng Bác Hồ đã kêu gọi: "diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại
giáo dục lại vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính vì vậy giáo dục phải có sự phối
kết hợp giữa 3 môi trường: Gia đình - nhà trường và xã hội thì mới có thể nâng cao
được chất lượng giáo dục.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
-4-
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
Thực tế cho thấy rằng nhà trường muốn làm tốt nhiệm vụ giáo dục thì phải
có đội ngũ giáo viên có đủ năng lực và trình độ, phối hợp với các ban ngành, các tổ
chức chính trị xã hội của toàn xã hội. Năng lực của đội ngũ, điều kiện cơ sở vật
chất phục vụ cho dạy và học, các trang thiết bị, đồ dùng dạy học. Chính là nhờ một
phần lớn vào năng lực, trình độ khoa học của những người giáo viên. Như triết học
Mác – Lê Nin đã khẳng định: "Vai trò to lớn của cá nhân trong tập thể". Vì vậy
xây dựng đội ngũ giáo viên trong giáo dục là cả vấn đề hết sức quan trọng trong
quá trình dạy học.
Đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ chuẩn, có năng lực sư phạm, có phẩm chất đạo đức, có tác phong mẫu mực,
thương yêu học sinh, tôn trọng học sinh và thân thiện gần gũi với học sinh, tiếp
nhận và phân tích các nguồn thông tin để có phương pháp thích ứng, phù hợp khi
xử lý tình huống. Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao tay nghề và có uy tín
với phụ huynh học sinh trong quá trình giáo dục.
Chương II: THỰC TRẠNG CỦA TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
I. Thuận lợi:
Về đội ngũ giáo viên trường THCS Hàm Nghi: luôn giữ tư cách tác phong
của nhà giáo, có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn đồng đều, trường
an tâm công tác.
- Số liệu về chất lượng giáo dục 2 mặt của những năm gần đây đối với lớp chủ
nhiệm cũng như bộ môn trực tiếp giảng dạy phải tự truy tìm cập nhật. Vì dự liệu
tại cơ sơ lưu trữ của chuyên môn đã bị vi rút xâm nhập biến mất
- Đối với lớp chủ nhiệm, phần lớn HS vào đầu năm đã có bản chất lì lợm, khó dạy
bảo, nhác học, theo đòi những HS hư hỏng đeo đuổi từ những năm học trước.
- Đối với phụ huynh và HS: Học sinh chưa thực sự chuyên tâm học tập, còn coi
việc học chỉ là để biết chữ mà thôi. Các bậc phụ huynh thì coi việc giáo dục con
cái là của nhà trường, cứ nghĩ học sinh đến trường, học những gì giáo viên giảng là
đủ rồi mà còn chưa chú ý đến vấn đề tự học của học sinh. Một số bộ phận học sinh
thì cha mẹ đi làm thuê, em phải làm công việc nhà, chăm sóc em nhỏ… hay làm
một công việc gì đó ở ngoài đồng mà đáng lí ra thời gian đó học sinh phải ngồi
trên lớp hoặc thảo luận với bạn bè trong những giờ học nhóm.
Hầu hết gia đình không có thời gian vì còn bận kiếm kế sinh nhai, lo toan
cuộc sống hàng ngày.Chưa quản lí chặt chẽ con cái ngoài giờ học. Một bộ phận
PHHS đồng bào dân tộc tại chỗ có truyền thống tôn trọng con cái, họ cho rằng con
cái “có học thức” và “nó lớn rồi nó tự lo liệu tự vận động, mình không can thiệp
nó đâu”. Dẫn đến các HS hư hỏng rủ bè, kéo phái, tụ tập, kích bác, chửi bới thô
tục, à dua để đánh nhau, cúp tiết, bỏ giờ, nghỉ học vô lí do.
- Tuy nhiên đối với bản thân và đồng nghiệp: Năng lực để tiếp cận, để thăm nắm
tình hình, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh, của nhân dân còn nhiều hạn
chế, do bất đồng ngôn ngữ. Vì thế chưa thể hiểu hết và hòa nhập được với văn hóa
truyền thống dân tộc ở địa phương. Cho nên, còn gặp khó khăn trong phát triển
công tác giáo dục. Mặt khác, bản thân và các giáo viên của trường đều cư trú xa
địa bàn công tác từ 5km đến 10km, nên điều kiện đi lại gặp nhiều khó khăn.
- Công tác giáo dục: nhìn chung các cấp học, việc duy trì sĩ số đang là một vấn đề
trăn trở. Trong các giờ học hầu hết đều có học sinh cúp tiết trốn bài, hay ngồi trong
lớp nhưng chỉ là sự bắt buộc cuả gia đình hay chỉ vì sợ giáo viên bộ môn đó, chứ
không nghĩ là học để làm gì cho tương lai.
Chương III : BIỆN CHỨNG TÂM LÍ LỨA TUỔI TÂM LÍ LỨA TUỔI
các em rất nhạy cảm với những thay đổi. Do vậy các tổ chức xã hội nói chung và
nhà trường nói riêng, đặc biệt là các tổ chức như đoàn - đội và trực tiếp là các thầy
cô giáo phải có phương pháp giáo dục phù hợp để các em có được những hành
động đúng đắn trong các hoạt động.
Nếu các thầy, cô giáo có phương pháp giáo dục phù hợp thì sẽ khơi dậy ở
các em được những phong cách sống đẹp – ý thức trách nhiệm của bản thân và
hình thành một nhân cách mạnh mẽ, một nhân cách tốt hướng tới sự phát triển
những nét đẹp trong từng cá nhân, tạo ra một lớp người, một thế hệ đáp ứng được
nhu cầu phát triển của xã hội.
Nhưng dù ở lứa tuổi nào, cấp học nào các thầy, cô giáo cũng đã và đang có
phương pháp giáo dục phù hợp để phát triển nhân cách cho các em. Nhân cách của
cá nhân không sinh ra cùng một lúc với sự ra đời của cá nhân, mà nó được hình
thành và phát triển dần dần từ nhỏ đến lớn và cần được bồi đắp trong suốt cả cuộc
đời.
" Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên"
Vậy là nhân cách đã từng bước phát triển cùng với bản thân mỗi cá thể. Nó
là kết quả của cả một quá trình giáo dục, không chỉ trong nhà trường mà còn là của
gia đình và xã hội.
Theo quan niệm phổ biến hiện nay các thành tố của nhân cách xây dựng nên từ
tổng hợp các tính chất, tinh thần, các quá trình nhận thức, các thái độ xúc cảm, tình
cảm và hành động.
Ta có thể so sánh nhiều học sinh đồng bào ngồi trong lớp chăm chú nghe giảng
và ghi chép bài, khi thầy giáo đặt câu hỏi thì cố gắng suy nghĩ trả lời nhằm vươn
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
-7-
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
sống nhân dân. Con người là điều kiện cơ bản để đi vào công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Chương IV : MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Trên thực tế, trong một lớp, một trường bao giờ cũng có rất nhiều đối tượng
HS, có em vừa ngoan vừa học giỏi, có em thông minh nhưng nghịch ngợm, lại có
những em học chưa tốt, lại thiếu ý thức... Thầy, cô nào chẳng thích dạy trò ngoan,
chăm chỉ. Nhưng, nếu trong lớp còn những HS chậm tiến thì cũng không nên vì bất
kỳ lý do gì mà ghét bỏ hoặc đối xử không công bằng với các em
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
-8-
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
Mọi yếu tố đều có những thế mạnh và hạn chế của nó, nếu các yếu tố của 3 môi
trường: nhà trường, gia đình, xã hội đều tác động tới học sinh theo cùng một
hướng đúng đắn và thống nhất thì việc hình thành và phát triển nhân cách cho các
em sẽ có hiệu quả cao hơn. Nếu các yếu tố đó tác động tới học sinh không đồng
bộ, trái ngược nhau thì sẽ vô hiệu hoá lẫn nhau, ảnh hưởng xấu tới việc hình thành
và phát triển nhân cách cho các em. Đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ giữa các GV
với nhau trong quá trình đào tạo con người xã hội chủ nghĩa một cách nhịp nhàng
đồng nhất.
1. Nhà trường và các đoàn thể:
Hiện nay trường THCS Hàm Nghi luôn dựa vào 3 môi trường: Gia đình, nhà
trường và xã hội để hình thành nhân cách cho học sinh. Tuy nhiên yếu tố chủ lực
vẫn là nhà trường và được quan tâm đúng mức. Nhà trường cũng đã kết hợp với
gia đình thông qua số điện thoại liên lạc, giáo viên chủ nhiệm và các buổi họp phụ
huynh để thường xuyên giữa gia đình và nhà trường có sự trao đổi, kết hợp giáo
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
- Giáo viên chủ nhiệm phải tìm hiểu từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo
dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của
mình.
Ví dụ 1: Học sinh Y ZôNathand, lớp 8B thích đi học, nhưng đến trường thì
em lại chưa hiểu và hình dung cho việc học của mình nhằm mục đích gì? Chỉ biết
đến trường là thoát khỏi lao động mệt nhọc và đến trường để được đi chơi ngao du
cùng bạn bè. Còn gia đình thì bố mẹ lo việc nương rẫy, bà ngoại và dì bất lực trước
sự giáo dục con cháu nên đành nhờ đến nhà trường. Cho rằng em đến trường là bớt
đi ánh mắt nhìn “trợn” lì lợm và đầy sợ hại từ em. Thực tế họ không hiểu được
mục đích chân lí để giáo dục con cái, nên đến lớp em không chú ý nghe giảng mà
trong các giờ học em tỏ ra thiếu tôn trọng giáo viên, em thường xuyên cúp tiết bỏ
giờ. Kết quả học kì 1 vừa qua học lực em xếp loại yếu.
Ví dụ 2: Học sinh Nguyễn Văn Hiệp, lớp 8B(2009 - 2010), vì hoàn cảnh gia
đình mẹ đã mất do tai nạn ô tô cách đây 2 năm khi em bước vào lớp 6, bố đi làm
rẫy cả tháng mới về, em ở nhà với bà nội, ít được sự gần gũi chăm sóc của gia
đình, chỉ nghe bố điện thoại về nhắc nhở và có lúc quát mắng qua điện thoại ép em
phải đi học nhưng không hiểu em cần điều gì ở bố nên đến lớp không chú ý nghe
giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học kì 1 học
lực em xếp loại yếu, Hạnh kiểm khá.
Ví dụ 3: Học sinh Cao Thị Ánh Linh lớp 8E(2006-2007), không thích học
nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà trong
các giờ học em tỏ ra thiếu tôn trọng giáo viên, kết quả học kì 1 của em: học lực
xếp loại yếu - hạnh kiểm Tb. Nhưng qua giáo dục và hình thành nhân cách con
người XHCN em đã hiểu rõ mục đích học tập và nhân cách sống đẹp, sống có ích.
Nên học kì 2 và cả năm em được xếp Học lực trung bình, Hạnh kiểm tốt. Đó là cả
một quá trình giáo dục và hình thành nhân cách cho học sinh của bản thân cùng với
việc học và mối quan hệ bạn bè của các em để có biện pháp GD kịp thời.
GVCN phối hợp với GVBM không nên vì những vi phạm thiếu chín chắn
của các em mà thiếu sự quan tâm hay xa lánh, coi thường hoặc gây thêm áp lực về
tâm lí hay áp lực về bộ môn. Mà chúng ta cùng nhau gần gũi chia sẻ, cảm thông,
khuyên nhủ các em dần dần, tạo thêm niềm tin và nghị lực cho các em phấn đấu
bằng cách như: đối với Y Nôl (lớp 8A) tôi đã áp dụng là: sau giờ học tôi gọi em ra
ngoài gặp riêng và dùng lời dịu ngọt nói với em về vai trò của việc học và tương
lai xa của các em trong quá trình hội nhập của đất nước ta. Bên cạnh đó tôi còn
đóng vai một người mẹ, người chị nói với em bằng sự chân thành gây niềm tin cho
em. Còn trong giờ học tôi thường gọi em đứng dậy đọc bài, gợi ý để em trả lời
câu hỏi. Sau đó dùng lời khen kích thích sự hứng thú học tập, cho điểm động viên
trước tập thể. Tôi thấy, giờ học của tôi em học nghiêm túc, ghi chép bài đầy đủ và
hay xây dựng bài.
Tuy nhiên, để giáo dục được học sinh có cá tính đặc biệt đó thành công
không phải là đơn giản mà chúng ta cũng cần tìm hiểu thêm về cá tính từng em
từng đối tượng, không nhất thiết phải tuân theo một quy trình máy móc nào cả.
Biết được em đó thích điều gì, muốn giáo viên và các bậc cha mẹ làm gì để em gửi
niềm tin và vâng lời. Cũng cần hiểu rằng có những em chúng ta dùng đủ mọi biện
pháp giáo dục kể cả pháp luật can thiệp nhưng không có sự chuyển biến tích cực
đó là một phần ảnh hưởng nền giáo dục của gia đình hay do bản chất tiềm ẩn ăn
sâu vào tiềm thức cá thể.
Cách giải quyết hiệu quả là giúp các em và gia đình tháo gỡ khó khăn về
tinh thần cũng như vật chất.
3. Giáo viên bộ môn:
Cần có sự kết hợp chặt chẽ, đồng bộ song song với GVCN trong quá trình
giáo dục, xây dựng và hình thành nhân cách cho HS.
Qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là
những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà
thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường,
nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài
khác sắp cưới rồi cô ạ! làm em đến lớp không muốn học không chỉ giờ của cô
đâu mà giờ nào em cũng thấy chán, chẳng muốn học”. Tôi đã động viên, tạo cơ
hội học tập cho em trong giờ học như hỏi bài với câu hỏi dễ, cho điểm kích lệ em
trước tập thể và em đã vượt qua những ưu buồn riêng tư chú tâm trong giờ học.
Từ đó tôi đã hiểu rõ hơn về cách giáo dục HS đồng bào là cần sự chân thật
cởi mở, tạo lập niềm tin cho các em, các em cần sự chất phát thân thiện - đỗ lượng
bao dung - vị tha của người thầy hơn ai hết.
- Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học
sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn
lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học
sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn.
- Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ
giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không
nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi
học sinh không ngoan, không chép bài hay về nhà quên không làm bài tập hoặc
không làm trước lúc đến lớp vì một lí do nào đó. Bởi làm như thế học sinh sẽ
không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được
gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh, giáo dục ý thức học tập
cho các em bằng cả lương tâm và trách nhiệm của người giáo viên nhân dân chứ
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
- 12 -
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học, hay cho các em xin ra ngoài cho rảnh
ánh mắt.
Đặc biệt đối với học sinh chậm tiến, các thầy, cô giáo phải tìm biện pháp
tiêu cực của xã hội. Tham gia cùng nhà trường bảo vệ an ninh khu vực trường học,
kịp thời thông báo về gia đình học sinh những vi phạm cũng như dùng biện pháp
giáo dục HS có biểu hiện quá đà sa ngã.
* Tóm lại: Công tác giáo dục của chúng ta nhằm xây dựng toàn diện nhân
cách cho con người Việt Nam. Trong thời kỳ đổi mới cần có những con người lao
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
- 13 -
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
động sáng tạo, có trình độ, năng lực, có tay nghề giỏi, có tâm hồn trong sáng và
khả năng giao tiếp là rất quan trọng vì tất cả các mối quan hệ xã hội, quan hệ
người, quan hệ với các thiết bị công cụ lao động sản xuất đều gắn bó bằng cách
này hay cách khác thông qua mối quan hệ giữa người với người, trong các tổ chức
có các mối quan hệ giao tiếp sẽ làm cho con người phát triển về nhân cách.
Cũng như trong quá trình sống - trong gia đình, đến trường học, sinh hoạt trong
các tổ chức như: Trường, lớp, đoàn đội. Các tổ chức này kết hợp cùng với gia đình,
xã hội cũng chưa chắc đã là môi trường tốt. Vấn đề là ở chỗ cả gia đình và các tổ
chức trong xã hội đều phải hướng các em vào những hoạt động phù hợp với tâm lý
lứa tuổi, thu hút các em vào những hoạt động bổ ích để vun đắp cho những tâm
hồn nhân cách tốt. Kết quả của chúng ta mong muốn không có những học sinh
chậm tiến trong một môi trường giáo dục tốt.
Như vậy cả 3 môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau để giáo dục học sinh trong quá trình học ở trường THCS từ lớp 6
đến lớp 9. Ban giám hiệu nhà trường và từng thầy, cô giáo phải thường xuyên có
kế hoạch chăm lo đến từng học sinh, về thời gian và không gian để không có
khoảng cách trong nhiệm vụ giáo dục của mình. Đặc biệt trong việc hình thành
22
59.5
12
32,4
3
8,1
2007 - 2008
19
51,4
17
45,9
1
2,7
2009 - 2010
20
Khá
(HS)
Tỉ lệ
(%)
2006-2007
32
86,5
5
13,5
2007-2008
30
81,1
7
18,9
2009-2010
25
nghiệp giáo dục mà chúng ta đã chọn.
Với tinh thần học hỏi kinh nghiệm, tôi xin đón nhận những ý kiến đóng góp
của các anh chị em đồng nghiệp nhằm góp phần giáo dục và hình thành nhân cách
cho HS vùng dân tộc thiểu số trường THCS hàm nghi xã Cưêbur theo hướng tích
cực hơn.
GV thực hiện: Lương Thị Nguyệt.
- 15 -
SKKN: MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH CHO
HS VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG THCS HÀM NGHI
KIẾN NGHỊ
- Muốn giáo dục và hình thành nhân cách cho HS vùng dân tộc thiểu số
Cưêbur thành công, có hiệu quả thì nhà trường phải huy động đồng bộ có hiệu quả
sự tham gia của học sinh, thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương,
các đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội và nhân dân địa phương nơi trường đóng
cùng góp sức xây dựng nhà trường.
- Nhà trường cần liên hệ và kết hợp tốt với các giáo xứ, cha xứ nhà thờ,
người chủ trì đối với những em theo đạo giáo. Đối với những em không theo đạo
thì nên kết hợp chặt chẽ hơn nữa với chính quyền địa phương, liên gia, tổ - khối và
gia đình.
- Nhà trường cũng nên đuổi học, cảnh cáo một vài HS thoái quá mà cả ba
môi trường GD đã kết hợp và cả sự tham gia của pháp luật nhưng HS đó vẫn
không có sự chuyển biến tích cực mà vẫn cố tình vi phạm nhằm làm gương cho
những hs khác. ( theo thông tư 08 về khen thưởng kỷ luật HS )
- Đối với địa phương cũng nên tổ chức chương trình khuyến học, khuyến tài
phát thưởng cho học sinh, sinh viên có thành tích cao trong học tập mỗi năm 1
hoặc 2 lần vào ngày quốc tế thiếu nhi và tết trung thu. Nhằm đề cao vai trò học tập