Chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô ở việt nam - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN ĐỨC VŨ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN ĐỨC VŨ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ĐỨC THANH


CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ .......................... 5
1.1. Tồng quan tình hình nghiên cứu ............................................................. 5
1.2. Cơ sở lý luận về các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô ...... 8
1.2.1. Khái quát chung về ngành công nghiệp ô tô .................................... 8
1.2.2. Các nhân tố tác động đến sự phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam ........................................................................................................... 13
1.2.3. Các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô ........................ 16
1.3. Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp ô tô ở một số nƣớc trên thế
giới và bài học kinh nghiệm cho phát triển ngành công nghiệp ô tô ở Việt
Nam .............................................................................................................. 19
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp ô tô ở một số nƣớc trên
thế giới ...................................................................................................... 19
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
................................................................................................................... 24
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................. 28
2.1. Phƣơng pháp thu thập thông tin, số liệu............................................... 28
2.2. Phƣơng pháp phân tích, xử lý thông tin ............................................... 29
2.2.1. Phƣơng pháp thống kê mô tả .......................................................... 29
2.2.2. Phƣơng pháp phân tích thông tin ................................................... 29
2.2.3. Phƣơng pháp chuyên gia, hội thảo ................................................. 30
2.2.4. Phƣơng pháp kế thừa ...................................................................... 31
2.2.5. Phƣơng pháp so sánh...................................................................... 31
2.3. Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu ......................................... 31
2.3.1. Địa điểm thực hiện nghiên cứu ....................................................... 31


2.3.2. Thời gian thực hiện nghiên cứu ...................................................... 31
2.4. Các công cụ, phƣơng pháp phân tích số liệu, dữ liệu sơ cấp, thứ cấp. 31
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

ASEAN

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á

2

CEPT

3

FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

4

FTA

Hiệp định thương mại tự do

5


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp ô tô không chỉ giữ một vị trí quan trọng trong việc
thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển thông qua đáp ứng nhu cầu giao
thông vận tải, góp phần phát triển sản xuất và kinh doanh thương mại mà còn
là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận rất cao nhờ sản xuất ra những sản
phẩm có giá trị vượt trội. Sớm nhận thức được tầm quan trọng của ngành
công nghiệp này, các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức,
Hàn Quốc,...đã rất chú trọng phát triển ngành công nghiệp ô tô của riêng
mình trong quá trình công nghiệp hoá để phục vụ không chỉ nhu cầu trong
nước mà còn xuất khẩu sang các thị trường khác.
Đứng trước thực tể hàng năm nước ta bỏ ra hàng trăm tỷ đồng để nhập
khẩu xe ô tô trong khi xuất khẩu gạo của 70% dân số lao động trong ngành
nông nghiệp chỉ thu về được tiền triệu, Việt Nam đã cố gắng xây dựng một
ngành công nghiệp ô tô của riêng mình với mục tiêu sản xuất thay thế nhập
khẩu và từng bước tiến tới xuất khẩu. Chỉnh phủ Việt Nam đã luôn khẳng
định vai trò chủ chốt của ngành công nghiệp ô tô trong sự nghiệp phát triển
kinh tế và luôn tạo điều kiện lợi thông qua việc đưa ra các chỉnh sách ưu đãi
để khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào sản xuất ô
tô và phụ tùng. Nhưng sau 12 năm xây dựng và phát triển ngành, công nghiệp
ô tô Việt Nam dường như vẫn chỉ ở điểm xuất phát.
Thực tế này đã buộc Chính phủ phải yêu cầu các cơ quan Bộ Ngành
liên quan, các doanh nghiệp trong ngành cùng vào cuộc nhằm vạch ra một
chiến lược cụ thể cho việc phát triển ngành. Bởi lúc này đây họ đã ý thức
1


được tính cấp thiết và bức bách cần phải xây dựng và phát triển một ngành
công nghiệp ô tô thực sự của riêng Việt Nam.

- Phạm vi không gian: Cáchthức thực hiện các chính sách phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2010 đến nay.
4. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về chính sách phát triển ngành
công nghiệp ô tô và bổ sung thêm một số lý luận về chính sách phát triển
ngành công nghiệp ô tô dưới góc độ địa phương.
- Bài học kinh nghiệm của một số nước về chính sách phát triển ngành
công nghiệp ô tô, từ đó rút ra một số bài học có thể vận dụng cho Việt Nam.
- Đánh giá tương đối toàn diện thực trạng các chính sách phát triển
ngành công nghiệp ô tô Việt Nam theo khung lý thuyết đã phân tích, đề xuất.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả các chính
sách phát triển ngành công nghiệp ô tô, làm cơ sở cho các nhà quản lý tham
khảo để đưa ra các quyết sách phù hợp về các chính sách.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham
khảo, luận văn có kết cấu gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về chính sách
phát triển ngành công nghiệp ô tô.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng các chính sách phát triển ngành công nghiệp ô tô
ở Việt Nam.

3


Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển
ngành công nghiệp ô tô ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

4

National Institute for Environmental Stuties, Sophia University, Tohoku
University, Japan. Các tác giả phân tích những quy định của chính phủ các
nước về vấn đề môi trường, đưa ra các thách thức và giải phát triển khai các
công nghệ để giải quyết các vướng mắc liên quan đến tác động của ngành
công nghiệp ô tô đến môi trường.
Các bài nghiên cứu của Kenichi Ohno “Ngành công nghiệp ô tô Việt
Nam, Những việc cần làm để triển khai thực hiện Quy hoạch
ngành”(2004)và“Xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam”(2007) là
những bài viết rất sắc sảo, thể hiện những đánh giá sâu sắc về ngành công
nghiệp ô tô Việt Nam cùng những chia sẻ kinh nghiệm hữu ích. Tuy nhiên, sự
thiếu phối hợp đồng bộ giữa các chính sách ở Việt Nam là nguyên nhân khiến
các khuyến nghị của Kenichi Ohno chưa có ý nghĩa thực tiễn.
Bài viết của tác giả Jeffrey K.Liker (1997),“Phƣơng thức Toyota”
,Nxb Tri thức, Hà Nội. Công trình nghiên cứu của tác giả về phương thức sản
xuất “tinh gọn” của Toyota-chìa khóa tạo nên thành công của công ty và ảnh
hưởng của nó đến toàn ngành công nghiệp ô tô Nhật Bản.
Bài viết của tác giả Nguyễn Bích Thủy (2008),“Industrial policy as
determinant localisation: the case of Vietnamese automobile industry” cung
cấp các số liệu điều tra thực tế về thực trạng nội địa hóa của các hãng xe tại
Việt Nam. Bài nghiên cứu đi đến kết luận rằng chính sách của chính phủ, thị
trường và công nghiệp hỗ trợ là ba yếu tố quyết định đến thành công của
chính sách nội địa hóa. Do vậy, chỉ khi tác động vào 3 yếu tố này mới phá vỡ
được sự yếu kém trong ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Tuy nhiên, trong
phạm vi nhằm cung cấp các số liệu sơ cấp về tỷ lệ nội địa hóa và tìm kiếm
6


nhân tố tác động mạnh nhất, bài viết chưa đưa ra các công cụ chính sách cụ
thể.
Nguyên nhân làm cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam không phát

1.2.1.1. Lịch sử phát triển ngành công nghiệp ô tô
* Lịch sử hình thành công nghiệp ô tô thế giới
Để có được một ngành công nghiệp ô tô phát triển rực rỡ như ngày
hôm nay, ngành công nghiệp này đã trải qua một thời gian dài phôi thai mà
những nền tảng đầu tiên chính là phát minh ra các loại động cơ. Năm 1887,
nhà bác học người Đức Nicolai Oto chế tạo thành công động cơ 4 kỳ và lắp
ráp thành công chiếc ô tô đầu tiên trên thế giới. Có thể nói ô tô ra đời là sự
kết tinh tất yếu của một thời kỳ nở rộ những phát minh trong cuộc cách mạng
khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại. Bởi ngay từ thế kỷ 13, nhà khoa
học, triết học người Anh-Roger Bacon đã tiên đoán rằng “Rồi con người có
thể chế tạo ra những chiếc xe có thể di chuyển bằng một loại sức kéo nhanh
không thể tin nổi, song tuyệt nhiên không phải dùng những con vật để
kéo”.Kể từ khi ra đời, ô tô đã dành được sự quan tâm của biết bao nhiêu nhà
khoa học, bác học vĩ đại. Họ miệt mài nghiên cứu ngày đêm để không ngừng
cải tiến nó về cả hình thức lẫn chất lượng: từ những chiếc xe thuở ban đầu thô
sơ, kồng kềnh và xấu xí ngày càng trở nên nhỏ nhẹ hơn và sang trọng hơn.
Không lâu sau ô tô trở nên phổ biến, với những ưu điểm nổi trội về tốc độ di
chuyển cao, cơ động, không tốn sức và vô số những tiện ích khác, ô tô đã trở
thành phương tiện hữu ích, không thể thiếu của người dân các nước công
nghiệp phát triển và là một sản phẩm công nghiệp có ý nghĩa kinh tế quan
trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Chính vì thế, theo lịch sử ngành công
nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm 1901, trên toàn thế giới
8


đã có 621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy, trong đó 112 ở Vương quốc Anh, 11
ở Italy, 35 ở Đức, 167 ở Pháp, 215 ở Mỹ và 11 nước khác. Tuy nhiên, mốc
thời gian đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp ô tô phải kể
đến năm 1910 khi ông Henry Ford-Người sáng lập ra tập đoàn Ford Motor
nổi tiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn. Vào những

Bên cạnh đó là tính cạnh tranh của các bộ phận chi tiết phụ tùng, số lượng các
khuyết tật tính trung bình trên 1 xe của Nhật là0,24 so với Mỹ là 0,33 và Tây
Âu là 0,62. Tuy nhiên sức cạnh tranh này gần đây đã giảm. Sản lượng ô tô
trên thế giới, từ năm 1960 đến nay, gần như ổn định quanh con số khoảng 5052 triệu xe/năm, tập trung vào 3 trung tâm công nghiệp lớn là Mỹ, Nhật Bản
và Tây Âu. Thị trường thế giới về ô tô vào khoảng 780 tỷ USD/năm. Riêng 6
tập đoàn lớn của công nghiệp ô tô năm 1999 đã sản xuất tới 82,5% tổng số ô
tô thế giới trong đó Mỹ có 3 tập đoàn, Nhật, Đức, Pháp mỗi nước một tập
đoàn.
1.2.1.2. Đặc điểm của ngành công nghiệp ô tô
* Ngành ô tô cần có sự đầu tư lớn, lâu dài
So với đầu tư vào đại bộ phận các ngành công nghiệp khác, vốn đầu tư
vào ngành công nghiệp ô tô là cao hơn rất nhiều vì mỗi ô tô có tới 20 nghìn
đến 30 nghìn chi tiết, bộ phận khác nhau. Các chi tiết, bộ phận lại được sản
xuất với những công nghệ có đặc điểm khác biệt; chi tiết phụ tùng của loại xe
này không thế sử dụng cho loại xe khác, do vậy, vốn đầu tư cho việc sản xuất
là rất cao.
Ở Việt Nam trong kế hoạch 5 năm 2001 – 2005, tổng vốn đầu tư phát
triển là 830.000 – 850.000 tỷ đồng và tăng hàng năm từ 11-12%. Ngành công
nghiệp nhận được khoảng 44% trong tổng số này và đầu tư cho ngành công
10


nghiệp ô tô giai đoạn 2001-2010 chiếm khoảng 2% tổng đầu tư phát triển, hay
44% đầu tư phát triển cho ngành công nghiệp. Theo bản quy hoạch ngành
công nghiệp ô tô Việt Nam giai đoạn 2001-2010 thì tổng nhu cầu vốn đầu tư
để thực hiện được bản quy hoạch này khoảng từ 16.000-18.000 tỷ đồng và
35.000-40.000 tỷ đồng giai đoạn 2010-2020.
* Ngành công nghiệp ô tô có sản phẩm mang giá trị rất cao
Đặc điểm nổi bật của ngành là sản phẩm mang giá trị rất cao. Chiếc ô
tô từ lâu đã không còn được coi chỉ là phương tiện đơn thuần mà các nhà chế

máy sản xuất và lắp ráp thực hiện chuyển giao của các nước khác nhau.
Để có thể sản xuất thành công một chiếc ô tô cần có tới hàng ngàn chi
tiết khác nhau. Bản thân một doanh nghiệp với giới hạn về quy mô và nguồn
lực không thể tự mình sản xuất tất cả các chi tiết. Muốn làm được điểu này,
cần có sự hỗ trợ của các doanh nghiệp khác nhau. Một chiếc xe hơi là hiện
thân của một chuỗi cung ứng khổng lồ của nhiều doanh nghiệp. Công nghiệp
phụ trợ là ngành công nghiệp đóng vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành
phần chính, ngành này rất đa dạng từ gia công cơ khí, chế tạo khuôn đúc, rèn,
nhiệt luyện, xử lý bề mặt, sản xuất những linh kiện phụ tùng, sản phẩm bao
bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm cho tới cả những sản phẩm trung gian, những
nguyên liệu sơ chế.
* Ngành công nghiệp ô tô cần mạng lưới tiêu thụ chuyên nghiệp và rộng
khắp
Do đặc tính của sản phẩm mang giá trị cao, cần thiết phải được hưởng
các dịch vụ chăm sóc sau bán hàng khá thường xuyên như bảo dưỡng, sửa
chữa. Chính vì thế, từ khi ra đời ngành công nghiệp ô tô đã chọn cách tiêu thụ
sản phẩm của mình thông qua các đại lý mà không bán trực tiếp. Chẳng hạn
12


như Ford có hơn 15.000 đại lý trên khắp thế giới và tất cả các giao dịch với
khách hàng đều không qua đại lý.
1.2.2. Các nhân tố tác động đến sự phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam
1.2.2.1. Nhân tố thị trƣờng
Muốn phát triển được ngành công nghiệp ô tô thì yếu tố đầu tiên và
tiên quyết đó là thị trường. Thị trường có lớn, có tiềm năng thì mới hứu hẹn
cơ hội cho ngành công nghiệp ô tô. Ở Việt Nam theo tính toán thì thị trường
ôtô rất tiềm năng với mức tiêu thụ có thể đạt 1 triệu xe/năm. Nhưng thị trường
vẫn chỉ ở dạng tiềm năng và không biết đến bao giờ mới thành hiện thực bởi
vì chúng ta đang đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô rất cao nhằm hạn chế tiêu

ngành có thể nói là một con số khổng lồ. Trong gần 20 năm qua có rất ít các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất linh kiện cũng như
chuyển giao công nghệ ôtô vào Việt Nam. Điều này rất khó khăn cho việc
phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Ví dụ như: tập đoàn Ford trong
năm 2004 đã tìm địa điểm để đầu tư 1 nhà máy sản xuất động cơ ôtô tại khu
vực Đông Nam Á với số vốn là 400 triệu USD họ đã khảo sát tại nhiều nước
trong đó có Việt Nam nhưng sau đó lại quyết định đầu tư tại Philipines. Mới
đây cũng tập đoàn này đã đầu tư 500 triệu USD để sản xuất xe cỡ nhỏ tại
Thái Lan chứ không phải là Việt Nam. Tại Việt Nam họ chỉ có 1 dây chuyền
lắp ráp công suất khoảng 10.000 xe/năm, đến nay có lẽ đã khấu hao hết. Họ
không chọn Việt Nam là vì chúng ta không hội đủ những điều kiện cần thiết.
Song không có gì là không thể, khi mà nguồn vốn đầu tư vào nước ta đang
ngày một tăng lên, hay nói cách khác là Việt Nam đang thành công trong việc
thu hút đầu tư từ nước ngoài, đặc biệt là vốn đổ vào ngành công nghiệp ô tô
ngày một tăng lên đáng kể. Trong bối cảnh như hiện nay, khi mà nền kinh tế
14


thế giới vừa trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, chúng ta
không thể tránh khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng đó, song chúng ta
đang dần dần hồi phục nền kinh tế. Với môi trường kinh doanh hấp dẫn
chúng ta vẫn cạnh tranh được với các nước khác trong khu vực; tiềm năng
phát triển trung và dài hạn của nền kinh tế nước ta vẫn tốt, thu phục được
lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài, vốn FDI vào Việt Nam tăng lên đáng
kể, năm 2008 chúng ta có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký là: 64 tỷ USD (gấp
hơn 3 lần so với năm 2007), cùng với nững chính sách ưu đãi từ chính phủ,
với sự ưu ái của ngân sách nhà nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương
lai tươi sáng cho ngành ô tô khi mà vấn đề quan trọng là vốn đã được giải
quyết.
1.2.2.4. Nhân tố khoa học công nghệ

- Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với sản phẩm chế thử trong thời
gian một năm kể từ khi sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường.
1.2.3.2. Các chính sách về thị trƣờng
- Bảo vệ thị trường:
+ Áp dụng các biện pháp hỗ trợ sản xuất trong nước phù hợp với tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
+ Ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với ô tô, phụ tùng ô tô để ngăn
chặn việc lưu thông những hàng hóa kém chất lượng, không an toàn, gây ô
nhiễm môi trường.
+ Xử lý nghiêm khắc hàng nhập lậu, hàng gian lận thương mại được
đưa vào thị trường Việt Nam.
- Mở rộng thị trường:

16


+ Đẩy mạnh đầu tư nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ trong cả
nước;
+ Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp xe ô tô sử dụng
động cơ, phụ tùng ô tô chế tạo trong nước;
+ Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong hoạt động tiếp thị và xúc
tiến thương mại nhằm mở rộng thị trường trong nước và vươn ra thị trường
nước ngoài.
1.2.3.3. Các chính sách về đầu tƣ
- Khuyến khích sự hợp tác, phân công sản xuất giữa các doanh nghiệp
trong nước với nhau và với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tận
dụng các công nghệ và thiết bị đã đầu tư, giảm chi phí đầu tư mới và tránh
đầu tư trùng lắp.
- Đầu tư mới từng bước nhưng tập trung, có trọng điểm và đầu tư nhanh
ở những khâu công nghệ cơ bản, quyết định chất lượng sản phẩm, phù hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status