Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2020 - Pdf 27

Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Chủ trương phát triển các KCN, KKT, KCX tập trung được Đảng khởi
xướng từ hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VI BCHTW năm 1994. Chủ trương này tiếp
tục được khẳng định tại văn kiện đại hội Đảng IX của Đảng về chiến lược phát triển
kinh tế- xã hội 2001- 2010. KCN, KCX ở nước ta được hình thành và phát triển từ
năm 1991và đã đạt được những thành tựu phát triển hết sức to lớn. Kết quả hoạt
động của các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng trưởng kinh
tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, đẩy nhanh
quá trình chuyển dịch cơ cầu kinh tế theo hướng CNH- HĐH. Sự phát triển của các
KCN đã góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đào tạo cán bộ
quản lý, công nhân lành nghề, tạo điều kiện xử lý các tác động của môi trường một
cách tập trung. Các KCN thực sự đóng vai trò tích cực trong công cuộc CNH- HĐH
đất nước. Hiện nay các KCN đang ngày càng phát triển và ngày càng có vai trò
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta. Đặc biệt kể từ
khi Việt Nam ra nhập WTO các KCN Việt Nam đã trở nên quá tải về số doanh
nghiệp tham gia vào KCN. Do đó xuất hiện nhu cầu thành lập thêm các KCN để
đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Để quản lý có hiệu quả các KCN và
thúc đẩy các KCN phát triển theo định hướng của Đảng và nhà nước thì đòi hỏi phải
có một quy hoạch phát triển các KCN hợp lý. Mặt khác quy hoạch KCN được xây
dựng và phê duyệt từ năm 1996 đã trở nên không phù hợp về các mục tiêu, định
hướng và xuất hiện nhiều mâu thuẫn với các quy hoạch khác trước sự phát triển
ngày cang cao của các KCN. Do đó vấn đề xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển
KCN trở thành một vấn đề bức thiết đặt ra nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển hơn
nữa của của các KCN nói riêng và nền kinh tế nói chung. Đề tài nghiên cứu: “ Quy
hoạch tổng thể phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2020” nhằm giải quyết
những vấn đề cấp thiểt đặt ra trên và tạo điều kiện cho để hoàn thiện công tác quản
lý của nhà nước.
2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng nội dung quy hoạch tổng thể phát triển khu công

- Phương pháp so sánh
- Phương pháp luận duy vật biện chứng
- Phương pháp luận duy vật lịch sử
7. Nội dung nghiên cứu
Gồm 3 phần
Chương 1: Cơ sở phương pháp luận của quy hoạch tổng thể phát triển khu công
nghiệp
Chương 2: Thực trạng quy hoạch khu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 3: Nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp ở Việt
8. Tổng quan về nghiên cứu
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
2
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Trong những năm vừa qua các KCN ở Việt Nam phát triển một cách nhanh
chóng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO. Hiện nay trên cả nước có tới
228 KCN hoạt động ở khắp 45 tỉnh thành trên cả nước. Hoạt động của các KCN,
KCX những năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và
Nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN. Sự bùng nổ
các khu công nghiệp, KCX ở Việt Nam thể hiện tính ưu thế của các KCN. Song,
chính sự bùng nổ các KCN lại dẫn tới đòi hỏi xây dựng quy hoạch phát triển một
cách hợp lý trên các vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, việc xây dựng quy hoạch phát triển
KCN cả về lý luận, thực tiễn và giải pháp cần phải được xem xét lại một cách
nghiêm túc hơn:
-Về cơ sở lý luận
Hiện đang có nhiều tranh cãi có tính học thuật về KCN. Có quan niệm cho
rằng, KCN là một vùng đất được phân chia theo hệ thống nhằm cung cấp mặt bằng
cho các ngành công nghiệp. Theo quan niệm này thì KCN không có các khu dân cư
sinh sống. Một số học giả khác có quan niệm rộng hơn coi KCN như một khu đô thị
công nghiệp hay thành phố công nghiệp, ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, tiện tích
công cộng, KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ hành chính, trường học,

ảnh hưởng tới công tác xây dựng quy hoạch do đó cần có một quan điểm thống nhất
đáp ứng cho nhu cầu phát triển của các KCN
-Về thực tiễn
Hiện nay nhiều học giả cho rằng việc quy hoạch các KCN, KCX ở Việt Nam
hiện đang dẫn tới tình trạng:
+ Thứ nhất là, Lãng phí nguồn lực: Vấn đề này hợp lý với thực tế hiện
nay. Nguồn lực ở đây, trước hết là đất đai, nguồn lực vật chất hữu hạn và cực kỳ
quan trọng của một quốc gia. Trong xu thế tất yếu của quá trình đô thị hóa và phát
triển các KCN, làm cho quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng ngày
càng thu hẹp. Nhiều KCN, có thể đặt tại những khu vực không phải là đất nông
nghiệp, song vì nhiều lý do khác nhau, các KCN lại được xây dựng trên những khu
vực đất canh tác (các KCN Hải Dương). Tiếp theo nữa có quá nhiều KCN, được
hình thành nhưng không được “lấp đầy”, và để “lấp đầy” (hình thức) các địa
phương sẵn sàng cho thuê với giá rất rẻ. Đã có nhiều doanh nghiệp thuê đất, sau
một thời gian lại cho doanh nghiệp khác thuê lại với giá cao hơn. Đây là nguyên
nhân dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, giữa các
KCN, gây lãng phí xã hội. Nhiều địa phương đã tự ý ban hành các chính sách ưu đãi
thái quá “mời chào” các nhà đầu tư vượt quá quy định chung của Chính phủ và các
bộ, ngành để thu hút đầu tư, chấp nhận dùng ngân sách địa phương bù lỗ, làm ảnh
hưởng tới ngân sách nhà nước.
+ Thứ hai là, Chưa kết hợp giữa quy hoạch ngành với quy hoạch lãnh
thổ: Cuộc chạy đua thành lập các KCN, KCX với mục đích là có KCN, KCX và hi
vọng hưởng lợi từ các KCN đang làm mất đi quy hoạch tổng thể, không gắn quy
hoạch KCN, KCX với quy hoạch ngành, vùng và quy hoạch lãnh thổ quốc gia,
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
4
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
không xem xét tất cả các yếu tố: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực vật chất,
tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, để quy hoạch KCN, KCX. Tình hình
đầu tư phát triển các KCN không theo quy hoạch tổng thể, thiếu sự phối hợp giữa

đang là vấn đề bức thiết đặt ra cho các nhà quản lý các cấp.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
5
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
- Về giải pháp thực hiện
+ Nhiều học giả đã đưa ra nhiều giả pháp để thực hiện các mục tiêu của quy
hoạch như các giải pháp thu hút vốn đầu tư, các giải pháp về chính sách, các giải
pháp về cung ứng nguồn lao động…Nhưng theo đánh giá của TS. Ngô Công Thành
Phó vụ trưởng Vụ Quản lý Quy hoạch- Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Các giải pháp đưa
ra đều rât chung chung chưa bám sát vào thực tế quy hoạch và một số nhiều các giải
pháp khó có thể thực hiện được; các giải pháp đưa ra không phù hợp với hoàn cảnh
mới, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO”. Có thể thấy rằng trong bối cảnh
thực tế thì các giải pháp đưa ra trong hoàn cảnh cũ là không phù hợp vì khi Việt
Nam ra nhập WTO thì bối cảnh kinh tế trong nước đã thay đổi nhiều. Do đó để thúc
đẩy sự phát triển các KCN thì cần đưa ra hệ thống giải pháp phù hợp với bối cảnh
mới.
+ Như vậy cả cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp của quy hoạch phát triển
các KCN hiện nay đều có nhiều hạn chế thiếu xót. Do đó cần có một quy hoạch mới
để làm rõ cơ sở lý luận của quy hoạch cũng như khắc phục những vấn đề còn tồn tại
trong thực tiễn của quy hoạch và đưa ra những giải pháp mới để mục tiêu của quy
hoạch có thể đạt được.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
6
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT
TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
I. Lý thuyết về khu công nghiệp và quy hoạch tổng thể phát triển khu công
nghiệp
1. Khu công nghiệp

1.2. Mục tiêu và đặc điểm của khu công nghiệp
 Mục tiêu
Sự hình thành và phát triển các KCN trên thế giới gắn liền với những mục tiêu
của các nước thành lập KCN và những mục tiêu của Nhà đầu tư nước ngoài.
- Mục tiêu của Nhà đầu tư nước ngoài :
+ Giảm chi phí sản xuất sản phẩm bằng cách tận dụng các yếu tố sản xuất rẻ ở
các nước đang phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nước phát triển, nhất là đầu
những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nước đó. Khi tại các
nước này, nguồn nhân công tiền lương thấp ngày một khan hiếm, giá lao động, chi
phí bảo hiểm xã hội ngày một tăng, đã thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia nhanh
chóng quyết định chuyển ngành công nghiệp có hàm lượng lao động sống cao sang
các bước đang phát triển. Thêm vào đó, giá đất ngày càng cao, sự phát triển của các
ngành dùng nhiều nguyên liệu, công nghiệp tiêu chuẩn hoá như ở cơ khí chế tạo, sản
xuất cấu kiện không đòi hỏi trình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ
ra không còn hiệu quả do các khoản chi phí vận chuyển nguyên liệu nhập khẩu từ bên
ngoài ngày càng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới.
Điều này có thể giúp chúng ta lý giải vì sao các công ty đa quốc gia lại thường đầu tư
vào các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến, lắp ráp; như dệt, may mặc, điện tử, sản xuất
kim khí hoá ở các KCN của các nước đang phát triển.
+ Tránh hàng rào thuế quan được Chính Phủ bảo hộ, mậu dịch của các nước
đang phát triển, tận dụng các chính sách ưu đãi về thuế, nhất là thuế và các ưu đãi
khác của các nước này, nhằm tăng cường lợi ích của các công ty xuyên quốc gia.
+ Bảo vệ môi trường của các nước phát triển. Sự phát triển ở đầu tư của các
ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp nhiều phế thải đã gây nên tình
trạng ô nhiễm môi trường không kiểm soát nổi ở các nước phát triển, làm cho chi phí
bảo vệ môi trường ngày càng tăng. Xu hướng chung của các công ty xuyên quốc gia
là muốn chuyển các ngành công nghiệp này sang các nước đang phát triển để bảo vệ
môi trường nước họ và giảm chi phí sản xuất.
+ Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triển lâu dài.

từ đó tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn là điều quan tâm nhất.
+ Tạo công ăn việc làm:
Khuyến khích toàn dụng lao động là những mục tiêu quan trọng của các nước
đang phát triển. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự bùng nổi dân số và tình trạng thất
nghiệp đã làm cho bức tranh kinh tế của các nước ngày càng trở nên ảm đạm. Trong
khi các nước mời dành được độc lập dư thừa sức lao động thì tình trạng thiếu người
lao động, đặc biệt là các lao động tiền lương thấp ở các nước tư bản phát triển, đặt các
nước này trước sự lựa chọn sử dụng nguồn lực lao động dồi dào trong đội quân thất
nghiệp khồng lồ ở các nước đang phát triển. Mở mang KCN để tạo ra nhiều hơn chỗ
làm việc là mục tiêu chung của các nước đang phát triển. Thực tiễn cho thấy, KCN là
công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lược lâu dài về toàn dụng lao động ở các nước đó.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
9
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
+ Du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý của
các công ty tư bản nước ngoài:
Vào những năm của thập kỷ 70 và 80 để tránh bị tụt hậu về kinh tế, đặc biệt là
trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thế giới, các
nước đang phát triển muốn mau chóng phát triển khoa học kỹ thuật của mình, nâng
cao trình độ kinh tế của đất nước. Xây dựng KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
từ đó tạo điều kiện nhập khẩu kỹ thuật, công nghệ của các Công ty tư bản nước ngoài,
học tập kinh nghiệm quản lý kinh tế của họ là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nước từng
áp dụng.
+ Làm cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới, thúc
đẩy sự phát triển kinh tế trong nước:
Trước hết hàng tiêu dùng từ các KCN cung cấp cho thị trường nội địa ở thành
thị và nông thôn đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhập lậu từ nước ngoài, đồng
thời góp phần tăng sản xuất hàng xuất khẩu. KCN cũng là một ngõ cửa khai thông
nền kinh tế trong nước với nền kinh tế khu vực và thế giới. Mặt khác, KCN là một bộ
phận cấu thành của kinh tế trong nước, tạo nên sức thu thút với Nhà đầu tư nước

công suất hạ tầng đảm nhiệm. Ở Việt Nam Công ty này là các doanh nghiệp liên
doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hiện.
Các Công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó
được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
- Về tổ chức quản lý:
Trên thực tế các KCN đều thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh,
Thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý Nhà
nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong KCN. Ngoài ra tham gia vào quản
lý tại các KCN còn có nhều Bộ như: Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Xây
dựng
1.3. Sự cần thiết và vai trò của khu công nghiệp đối với phát triển kinh tế
 Sự cần thiết, khách quan của việc thành lập các KCN.
Mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại giữ vai trò quan trọng đối với các nước
đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn
đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, các nguồn lực cần thiết
cho đầu tư phát triển là rất hạn chế. Chính vì vậy việc mở rộng hợp tác với nước
ngoài tạo cơ hội cho chúng ta thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên vấn đề đặt ra
là cần có môi trường đầu tư hấp dẫn để tạo ra động lực thu hút các nhà đầu tư. Trong
điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì chúng ta không thể cùng một lúc tạo ra
môi trường thuận lợi ở trên toàn quốc, nên việc tạo ra những khu vực có diện tích nhỏ
(KCN) để có điều kiện tập trung tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư, tạo khả
năng thu hút nguồn vốn nước ngoài. Bên cạnh đó việc hình thành các KCN cũng là
cơ hội để phát huy cao sức mạnh nội lực của đất nước trong quá trình CNH - HĐH.
Thực tế những năm vừa qua cho chúng ta thấy vai trò quan trọng trong việc phát huy
nội lực và tận dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
11
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
nền kinh tế. Vì vậy sự ra đời của các KCN là một bước đi đúng đắn cho chúng ta trên
con đường xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.

trường. Còn thực sự khi nền kinh tế đã hạn chế bớt đi các trói buộc phong kiến hành
chính thì đều có ý nghĩa hơn lại là một chính sách kỹ thuật và công nghệ khả thi đủ
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
12
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
hấp dẫn để thu hút được kỹ thuật và công nghệ mới của nước ngoài vào sự tái thiết
nền kinh tế nội địa. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng phải chú trọng vào công tác
đào tạo cán bộ công nhân cho phù hợp với kỹ thuật của máy móc cũng như phương
thức kinh doanh mới. Do vậy, trình độ của người lao động sẽ được nâng lên phù hợp
với tác phong lao động công nghiệp.
+ KCN tạo thêm việc làm cho người lao động:
Hầu hết các nước đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế đều gặp
phải tình huống khó xử. Nếu theo được mục tiêu toàn dụng lao động thì khó có thể
thực hiện được mục tiêu chống lạm phát, đồng thời các nước muốn nền sản xuất xã
hội đạt hiệu quả cao bằng cách du nhập các công nghệ tinh vi tức là ít sử dụng lao
động sống thì sẽ làm gia t ăng nạn thất nghiệp. Tuy chưa phải là giải pháp lý tưởng
nhưng việc thiết lập các KCN là một cơ hội quan trọng để giải quyết mâu thuẫn này,
theo WB cho đến nay số việc làm chỉ tính riêng trong KCN đã lên 4-5 triệu chỗ.
Trong đó châu á là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất, chiếm 76,59% tổng số chỗ.
1.4. Điều kiện hình thành và phát triển của khu công nghiệp
 Điều kiện hình thành KCN:
Các điều kiện quan trọng, quyết định khi xem xét thành lập các KCN là:
- Xác định được nhu cầu thành lập KCN và kế hoạch vận động các nhà đầu tư
trong và ngoài nước đầu tư vào KCN.
Thực tế cho thấy, một số KCN đã được thành lập, kể cả KCN liên doanh với
nước ngoài, đã xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đồng bộ và tương đối
hiện đại song đang gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư, dẫn đến việc không đạt
hiệu quả, mục tiêu đặt ra. Do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân xác định
không chính xác sự cần thiết và nhu cầu thành lập KCN. Do vậy, khi xem xét thành
lập KCN cần cân nhắc kỹ lưỡng nhu cầu thành lập KCN, khả năng kêu gọi các nhà

 Khái niệm: Quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp là một bản luận
chứng khoa học về kế hoạch phát triển khu công nghiệp và tổ chức không gian hợp lý
các khu công nghiệp theo lãnh thổ.
 Đặc điểm:
- Quy hoạch phát triển KCN là văn bản pháp lý: Sau khi được phê duyệt, các
văn bản quy hoạch tổng thể trở thành tài sản quý giá cho các nhà quản lý. Với góc
độ là một văn bản pháp lý, quy hoạch phát triển KCN được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền sử dụng vì nó có các đặc điểm sau:
+ Quy hoạch phát triển KCN đảm bảo tính ổn định và tốc độ phát triển của
ngành công nghiệp, đảm bảo tính cân đối phát triển giữa các doanh nghiệp trong
KCN.
+ Trong cơ chế thị trường thì quy hoạch là bộ khung cho các KCN phát triển
và tạo nên tính chủ động trong phát triển kinh tế thúc đẩy tính sáng tạo của các cấp
trong xây dựng các KCN
+ Quy hoạch đảm bảo sự phát triển theo đúng tốc độ được lựa chọn.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
14
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
+ Quy hoạch cũng chính là biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài, tạo niềm tin
và tâm lý ổn định cho các nhà đầu tư.
- Quy hoạch phát triển khu công nghiệp là một công cụ hữu hiệu của công
tác quản lý nhà nước.
Quy hoạch phát triển khu công nghiệp là một văn bản khoa học, là kết quả
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Đó là tập hợp những kiến thức được tích lũy
trong quá trình hoạt động và phát triển của KCN trong nhiều năm qua. Vì vậy quy
hoạch tổng thể phát triển KCN là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh cá định hướng
phát triển, các nội dung hoạt động, các giải pháp chủ yếu giúp cho các nhà lãnh đạo
các nhà quản lý và những người sản xuất kinh doanh thấy rõ những việc cần làm,
những hướng cần phát triển.
- Quy hoạch phát triển KCN có tính phản ánh và tính chỉ đạo: Quy hoạch

hợp lý, dài hạn
Quy hoạch phát triển KCN phải được nghiên cứu theo nhiều phương án. Mỗi
phương án mang đậm nét một điểm nổi trội của nghệ thuật kiến thiết lãnh thổ. Quy
hoạch phát triển KCN phải là kết quả của quá trình nghiên cứu đề xuất và lựa chọn
các giải pháp khác nhau, cho các nhiệm vụ khác nhau. Trong các phương án kiến
thiết lãnh thổ sẽ phải có phương án chủ và phương án dự phòng. Ngay trong các
phương án chủ cũng phải dành những lãnh thổ dự trữ, phải có thứ tự ưu tiên về lãnh
thổ, phải có những quy định rõ ràng về mức độ và phương thức sử dụng không gian.
- Quy hoạch phát triển KCN phải thể hiện sinh động phân công lao động
theo lãnh thổ một các đa dạng và linh hoạt.
Phân công lao động theo lãnh thổ phán ánh sự lựa chọn địa điểm của các nhà
đầu tư, của dân cư và của cộng đồng dân cư. Đó là biểu hiện sự lựa chọn của người
sản xuất trên cơ sở đạt được lợi ích cao nhất. Mọi sự gò ép chủ quan đối với xự lựa
chọn bố trí xí nghiệp đâu đó phải đi kèm với những điều kiên kinh tế cụ thể. Mệnh
lệnh hành chính không giải quyết vấn đề mà chỉ có thể kéo dài sự chờ đợi hoặc
mang đến sự thất bại. Quy hoạch KCN đòi hỏi phải đảm bảo và thể hiện sinh động
yêu cầu này nhằm tạo đà cho sự phát triển hơn nữa của các KCN.
- Quy hoạch phát triển KCN đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường, tiến bộ
khoa học công nghệ và phát triển nhanh, hiệu quả bền vững.
Trong phát triển KCN, tránh phát triển nôn nóng, tôn trọng phát triển hài hòa
và nhịp nhàng của toàn bộ hệ thống cũng như từng phần tử cấu thành lãnh thổ kinh
tế - xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường thì điều này nói thì dễ thực hiện thì rất
khó. Ai cũng muốn chớp thời gian để chiến thắng. Tình trạng đó dẫn đến phát triển
nhanh, song dễ dẫn đến phá vỡ hệ thống chung của xã hội, gây ra những hậu quả
xấu, khó lường.
2.3. Những nguyên tắc cơ bản của quy hoạch phát triển KCN
- Quy hoạch phát triển KCN phải thỏa mãn yêu cầu về khả năng tài nguyên
và nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích của cộng đồng và đạt hiệu quả kinh tế - xã
hội cao.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A

kết và hòa quyện vào nhau. Khi quy hoạch phát triển ba yếu tố hài hòa, hỗ trợ,
tương tác phải luôn được những nhà tổ chức thấm nhuần và coi như một nguyên tắc
cần nắm vững trong nghiên cứu các nội dung của quy hoạch phát triển.
- Sự phù hợp với trình độ nguồn nhân lực và trình độ khoa học công nghệ
Một quốc gia khi tiến hành xây dựng các phương án quy hoạch phát triển
KCN trong khi thiếu chuyên gia về lĩnh vực này họ đã phải thuê chuyên gia nước
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
17
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
ngoài để thực hiện nhiệm vụ đó. Đó cũng là một trong những cách đi tăt đón đầu
trong lĩnh vực tổ chức kinh tế- xã hội theo lãnh thổ thừa kế thành tựu của nhân loại
hướng tới hiện đại.
- Đảm bảo yêu cầu hiện đại và hội nhập khu vực, quốc tế
Quy hoạch phải tiếp thu được những tinh hoa của thế giới và lan tỏa nền văn
minh từ các đô thị tới các vùng xung quanh. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của từng vùng mà tổ chức quy hoạch theo các dạng khác nhau.
II. Các bước xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp
1. Sự cần thiết và các yếu tố ảnh hưởng đến quy hoạch tổng thể phát triển khu
công nghiêp
1.1. Sự cần thiết của việc lập quy hoạch
Để có thể phát triển KCN theo định hướng của Đảng và nhà nước thì cần
có Quy hoạch phát triển cụ thể, hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên hiện nay
quy hoạch phát triển KCN được xây dựng từ năm 1996 đã trở nên không phù hợp
với sự phát triển của các KCN nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Trong quy
hoạch phát triển còn tồn tại nhiều hạn chế thiếu xót chẳng hạn như quy hoạch còn
chồng chéo với các quy hoạch khác làm ảnh hưởng tới sự phát triển của các KCN.
Mặt khác kể từ khi Việt Nam ra nhập WTO luồng vốn đầu tư vào các KCN ngày
càng gia tăng dẫn đến sự phát triển nhanh về số lượng các KCN cũng như chất
lượng các KCN do đó xuất hiện nhiều KCN bị quá tải đòi hỏi phải xây dựng thêm
các KCN mới. Trong quá trình phát triển của các KCN đãn đến nhiều vấn đề xã hội

phí nhất định cho quá trình nghiên cứu, đặc biệt là chi phí cho nguồn nhân lực xây
dựng quy hoạch. Do đó đòi hỏi một ngân sách khá lớn cho việc xây dựng quy
hoạch. Cho nên trong công tác xây dựng quy hoạch nên đảm bảo tính hiệu quả tránh
lãng phí.
- Công tác tổ chức quản lý xây dựng quy hoạch: Quá trình quản lý của nhà
nước trong việc xây dựng quy hoạch là một hoạt động quan trọng đảm bảo các quy
hoạch phát triển các KCN, được xây dựng một các khách quan trên các điều kiện
kinh tế- xã hội của vùng. Quá trình đó sẽ tránh được các hiện tượng quy hoạch được
xây dựng theo chủ quan, duy ý trí gây ảnh hưởng đến sự phát triển của các KCN,
cũng như đảm bảo tính hiệu quả kinh tế cao, tránh lãng phí.
2. Cơ sở xây dựng và nội dung quy hoạch tổng thể phát triển khu công nghiệp
2.1. Cơ sở xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển các khu công nghiệp
 Cơ sở pháp lý
Quy hoạch được lập trên cơ sở:
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP của chính phủ ngày 28/10/2008 ban hành “
chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết Hội nghị lần 7 Ban
chấp hành trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”.
- Nghị định số 29/2008/ NĐ-CP của Chính phủ quy định về khu công
nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
19
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
- Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều lệ của luất Đầu tư.
- Những quy định pháp lý tại Nghị định 92/2006/NĐ- CP của Chính phủ về
lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Nghị định
số 04/2007/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ xung một số điều của Nghị định
92/2006/ NĐ- CP.
- Các luật và văn bản pháp quy dưới luật kiên quan đến hoạt động kinh tế -
xã hội

phát huy và những điểm cần khắc phục trong giai đoạn tới.
+ Những kết quả rút ra từ phân tích, đánh giá hiện trạng phát triển KCN phải
là một trong những cơ sở đề ra mục tiêu và phương hướng cần khắc phục và phát
huy trong giai đoạn tới.
- Nội dung cụ thể:
+ Đánh giá về quy mô, số lượng và mức độ phát triển KCN:
+ Đánh giá về trình độ và khả năng phát triển khoa học- công nghệ của KCN
+ Đánh giá về hoạt động đầu tư cho phát triển các KCN:
+ Nguồn nhân lực cho phát triển KCN:
+ Đánh giá về hiện trạng phân bố KCN trên các vùng và lãnh thổ:
 Luận chứng xây dựng quan điểm, mục tiêu phát triển cho các KCN
- Mục đích: Đưa ra được các quan điểm phát triển KCN cũng như mục tiêu
cấn đạt tới trong tương lai của quá trình phát triển của KCN qua đó xác định bộ
khung cho sự phát triển các KCN.
- Yêu cầu:
+ Nội dung của quan điểm phát triển KCN phải phù hợp với quan điểm phát
triển của ngành và toàn bộ nền kinh tế. Quan điểm phải thể hiện sự lựa chọn những
mũi nhọn và vấn đề ưu tiên cho phát triển KCN. Thể hiện quan điểm hội nhập trong
cơ chế thị trường.
+ Mục tiêu phải thể hiện được dự phát triển bền vững, trước tiên từ mục tiêu
hiệu quả, mục tiêu đáp ứng từ những nhu cầu xã hội và đảm bảo ổn định môi
trường. Mục tiêu cụ thể bao gồm các chỉ tiêu về số lượng về nhịp độ tăng trưởng,
doanh thu xuất khẩu, lao động, đầu tư của ngành…
+ Các phương án phát triển phải thể hiện được: Khả năng phát triển theo
hướng hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập, xác định rõ vai trò của nhà nước trong
quản lý KCN, hiệu quả kinh tế của các KCN.
- Nội dung.
+ Xây dựng quan điểm, mục tiêu cho phát triển ngành
+ Luận chứng các phương án phát triển KCN
+ Luận chứng các phương án phân bố các khu công nghiệp trên các vùng

- Đánh giá các yếu tố nguồn lực tác động đến phát triển của KCN như là nguồn
lực, vốn đầu tư, khoa học công nghệ… Đây là những yếu tố đóng vai trò then chốt
trong việc vạch ra các giải pháp và hoạch định các chính sách nhằm đạt được mục
tiêu phát triển trong tương lai.
- Đánh giá môi trường phát triển KCN: Môi trường pháp lý, hệ thống luật
pháp, điều hành quản lý nhà nước, các doanh nghiệp hoạt động thế nào. Điều quan
trọng là sau khi đánh giá thực trạng chúng ta có thể rút ra được các mặt mạnh, mặt
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
22
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
yếu kém của các KCN trên tất cả các khía cạnh , rút ra được xu hướng phát triển
của các KCN.
- Dựa vào đặc điểm các KCN ở trên có thể thấy xu hướng của các KCN là luôn
có sự biến động vì đây là lĩnh vực có công nghệ thay dổi nhanh và mang tính đa
dạng. Chính bởi lý do đó khi đánh giá xu hướng phát triển của các KCN cần phải
đánh giá được xu hướng công nghệ mới trên thế giới, xem công nghệ nào khả thi có
khả năng phổ biến trong tương lai, khả năng áp dụng ở Việt nam ra sao trên cơ sở
đó sẽ đánh giá xu hướng phát triển của các KCN
- Xu hướng phát triển phải mang tính thực tiễn cao không xa vời thực tế sẽ
gâp ảnh hưởng đến định hướng phát triển của các KCN. Ngoài ra sự phát triển của
các KCN phải mang tính linh động đi trước đón đầu phù hợp với lộ trình của nước
ta.
 Phương pháp xây dựng quan điểm, mục tiêu cho phát triển các khu công
nghiệp
Chính từ đánh giá thực trạng kết hợp với dự báo, các đánh giá xu hướng ở trên
lấy đó làm cơ sở để đưa ra các quan điểm, mục tiêu phát triển cho phát triển KCN.
- Về quan điểm để thực hiện được phải dựa trên quan điểm phát triển của toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, kết hợp với quan điểm đã có của chiến lược phát triển
KCN từ đó sẽ cân đối dựa trên đặc điểm, tình hình, các dự đoán tương lai của
nghành rồi sẽ đưa ra quan điểm phát triển của quy hoạch KCN.

dựng quy hoạch phải xem xét kỹ lưỡng các đặc điểm này để xây dựng quy hoạch
một cách phù hợp với từng vùng kinh tế.
1. Vùng Trung du miền núi phía bắc
 Vị trí địa lý:
- Nằm ở phía bắc của Tổ quốc, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam
giáp các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Phía bắc giáp nước CHND Trung
Hoa, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông nam giáp các tỉnh Hải Dương, Bắc
Ninh, Hà Nội, Vĩnh Phúc, phía tây giáp CHDCND Lào, phía nam giáp các tỉnh Hà
Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa. Đường biên giới dài hơn 1.300 km. Có 3 cửa khẩu
quốc tế và 10 cửa khẩu quốc gia.
- Gồm 14 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Hòa
Bình, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang,
Yên Bái.
- Diện tích: 95.064 km2, chiếm 28,87% diện tích cả nước.
 Điều kiện tự nhiên- khí hậu
- Địa hình: Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi
hoặc núi đất. Phía Đông thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung. Phía Tây Bắc
cao hơn, với các khối núi đá và dãy núi đá cao.
- Khoáng sản: Vùng trung du miền núi phía bắc rất giàu khoáng sản tạo điều
kiện cho ngành công nghiệp khai khoáng phát triển. Các loại khoáng sản bao gồm:
apatit, pyrit, graphit, đồng, đất hiếm, sắt, vàng, đá quý
- Khí hậu: Vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm , một năm có 2 mùa rõ ràng là mùa
mưa và mùa khô, và mùa đông thường chịu ảnh hưởng của gió mùa, độ ẩm cao vào
mùa mưa.
 Cơ sở vật chất hạ tầng:
- Đường giao thông:
Đinh Ngọc Quỳnh Kế hoạch 48A
25

Trích đoạn Vùng duyên hải miền trung Vùng Tây Nguyên Vùng Đông nam Bộ Vùng Đồng bằng Sông Cửu long Thành tựu trong sự phát triển
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status