Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
**************
LÊ THỊ HIÊN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ VAI TRÕ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Người hướng dẫn khoa học
Th.S: Trần Thị Hồng Loan
HÀ NỘI – 2012
Lê Thị Hiên
1
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
2
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
tế, xã hội phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại. Chính vì vậy, việc tìm hiểu vai trò của
HNKTQT đối với quá trình CNH, HĐH ở nước ta là một việc làm cần thiết.
Là một sinh viên năm cuối của khoa Giáo dục chính trị, với những kiến
thức lý luận đã được trang bị trong nhà trường và được tiếp xúc với thực tiễn
tôi chọn đề tài: “Hội nhập kinh tế quốc tế và vai trò của nó đối với quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay” góp phần tìm
hiểu những vai trò của HNKTQT trong việc tạo ra những tiền đề cho CNH,
HĐH nước ta hiện nay.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về vấn đề: “HNKTQT và vai trò của nó đối với quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay” trong thời gian qua chưa có nhiều công
trình nghiên cứu, nhưng tôi đã tìm hiểu được một số bài viết nhìn nhận ở
những góc độ khác nhau như:
- GS.TS Đỗ Thế Tùng (2003), “Tác động của toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam”, Nghiên
cứu kinh tế (Số 296), tr.32 – 37.
Bài viết này tác giả chủ yếu nghiên cứu những tác động tích cực của
HNKTQT , sau đó chỉ ra những hạn chế và những giải pháp khắc phục những
hạn chế ấy.
- GS.TS Nguyễn Mại, ( 2000), “Hội nhập kinh tế với thế giới: Vấn đề và
giải pháp”, Tạp chí Cộng sản (số 5), tr.17 – 23.
Tác giả chỉ ra hội nhập là vấn đề chung cho mỗi quốc gia, hội nhập có
quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của HNKTQT đối với quá trình CNH,
HĐH ở Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu vai trò của HNKTQT đối
với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam trong giai đoan hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp quy nạp - diễn dịch
- Phương pháp lôgic - lịch sử,…
Lê Thị Hiên
4
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
6. Ý nghĩa của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Làm sáng tỏ vai trò tích cực của HNKTQT và góp phần lý giải cơ sở
khoa học cho việc khẳng định vai trò tích cực của HNKTQT đối với quá trình
CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay.
- Tạo cơ sở cho việc nghiên cứu những vấn đề về HNKTQT.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn
Đánh giá đúng thực tiễn HNKQTQT của Việt Nam và đưa ra một số giải
pháp cơ bản mở rộng HNKTQT nhằm thúc đẩy quá trình CNH, HĐH ở Việt
này thì chúng ta sẽ không thể phân biệt được những tác động chung của toàn
cầu hóa kinh tế với những tác động rất cụ thể của HNKTQT tạo ra cho từng
quốc gia. Vậy thì HNKTQT là gì? Nó được quan niệm như thế nào?
Có khá nhiều định nghĩa về HNKTQT tùy theo những cách tiếp cận khác
nhau, song có thể đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu như:
“Hội nhập kinh tế quốc tế là sự tham gia của một nước vào quá trình
phân công lao động quốc tế, là một yêu cầu khách quan của quá trình phát
triển kinh tế dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ của khoa
học công nghệ” [3, tr.28].
PGS.TS.Đặng Văn Thanh định nghĩa:
“Hội nhập kinh tế quốc tế về thực chất là quá trình gắn kết nền kinh tế
thế giới trên cơ sở tự do hóa nền kinh tế và mở cửa thị trường trong nước”
[15,tr.22]
Lê Thị Hiên
6
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
Như vậy HNKTQT chính là quá trình liên kết kinh tế có mục tiêu, định
hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi
nước. Mỗi nước do những điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù sẽ có lộ trình và
những bước đi, các giải pháp hội nhập khác nhau.
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” C. Mác và P.Ănghen cũng đã
dự báo: Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường thế giới và thay cho tình trạng cô
lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung, tự cấp, ta thấy phát
triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Từ đó
có thỏa thuận song phương và đa phương về thuế quan (liên minh thuế quan)
và các điều kiện cả mức độ thể chế hóa có giới hạn.
Cấp độ thứ ba: Cấp độ này là sự thiết lập các hợp đồng dài hạn về ưu đãi
thuế quan và các điều kiện kinh doanh khác như hải quan.
Cấp độ thứ tư, đây là cấp độ cao nhất tính đến thời điểm này. Nó là liên
minh kinh tế và liên minh tiền tệ, hình thành đồng tiền chung, ngân hàng
Trung ương chung và có sự phối hợp các chính sách kinh tế với nhau. Ở cấp
độ này, trình độ thể chế hóa rất cao và thường xuyên được bổ sung hoàn
thiện, các quốc gia tham gia vào cộng đồng phải chia sẻ chủ quyền với cộng
đồng.
Tóm lại HNKTQT cũng là một quá trình phát triển tất yếu khách quan
của nền kinh tế thế giới, và theo đó HNKTQT là cách tiếp cận khác đi của
toàn cầu hóa kinh tế.
1.1.2. Sự cần thiết phải tham gia hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1.1.2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế - xu hướng tất yếu của thời đại
Cái quy định xu hướng tất yếu của thời đại ở đây trước hết cần phải nói
đó là sự phát triển như vũ bão của các công nghệ cao đang đưa loài người vào
nền kinh tế tri thức.
Thế giới ngày nay có những biến đổi rất sâu sắc và mạnh mẽ, trong
những thập niên vừa qua công nghệ phát triển nhanh chóng đặc biệt là công
nghệ cao như: Công nghệ thông tin, điện tử, phần mềm, công nghệ sinh học
mà điển hình là công nghệ gen, nhân bản vô tính,…đã tạo ra sự biến đổi trong
toàn bộ xã hội loài người và đưa con người bước vào thời đại kinh tế tri thức.
Nếu như trước đây khoa học công nghệ đóng vai trò tạo ra phương pháp
để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả
sản xuất thì bây giờ theo tiên đoán của C.Mác là hoàn toàn đúng. Khoa học
Lê Thị Hiên
8
phải là vấn đề riêng của một quốc gia nào mà là những vấn đề mang tính toàn
cầu. Các quốc gia cần phải có sự hợp tác để ngày càng có thể tạo dựng được
một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển
Lê Thị Hiên
9
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
1.1.2.2. Việt Nam có đầy đủ những tiền đề, cơ sở để tham gia HNKTQT
Về vị trí địa lý: Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, là vị trí trung
tâm của Châu Á với đường bờ biển kéo dài có tiềm năng về phát triển du lịch
biển, thủy sản. Do nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa nên nước ta có
một hệ sinh thái đa dạng, có nhiều danh lam thắng cảnh và nhiều khu di tích
có thế mạnh về du lịch. Đồng thời, là nơi án ngữ các đầu mối giao thông quan
trọng do đó chúng ta có điều kiện thông thương với nhiều quốc gia tên thế
giới, trong lục địa và hải đảo. Có nhiều cảng biển có vị trí quan trọng cả về
kinh tế lẫn quân sự, và hơn hết là nước ta lại có nguồn tài nguyên phong phú,
đây là điều kiện quan trọng để phát triển các ngành kinh tế khác nhau phục vụ
cho CNH, HĐH.
Về chính trị, xã hội: Ở nước ta có tình hình chính trị, xã hội tương đối ổn
định, là nơi đầu tư an toàn cho các quốc gia vào nước ta kinh doanh, là điểm
đến an toàn bởi chúng ta có một hệ thống chính trị ổn định, một Đảng vững
mạnh, một chính quyền luôn lấy lợi ích của nhân dân làm đầu, nhà nước ta là
nhà nước của dân do dân và vì dân. Ở nước ta không có các hiện tượng xung
đột vũ trang như một số khu vực như: Tây Á, Trung Đông,..gây lo ngại cho
các nước đi trước, học hỏi kinh nghiệm của họ, tranh thủ được những thời cơ
và tránh được những sai lầm, rút ngắn được CNH, HĐH trong thời kỳ quá độ.
Như vậy, những điều kiện trong nước nêu trên là những khả năng thực tế
do hiện thực sinh ra. Nó còn đang ở dạng tiềm thế, nó sẽ trở thành hiện thực
khi có điều kiện phù hợp tức là cần phải kết hợp với sức mạnh ngoại lực.
Không nên bỏ qua những cơ hội đó Việt Nam cần phải tham gia hội nhập với
nền kinh tế thế giới để tận dụng được những mặt tích cực của quá trình hội
nhập để đat được mục tiêu phát triển đất nước.
Nhận thấy được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của quá trình hội
nhập kinh tế, ngay từ Đại hội VI Đảng ta cho rằng: Gắn thị trường trong nước
và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa. Tại Đại hội VII đã đưa ra
luận điểm mang tính chỉ đạo tổng quát cho việc thực hiện chính sách mở cửa:
“Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì hòa
bình độc lập và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế với tất
cả các quốc gia, tất cả các tổ chức kinh tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập,
chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi” [5, tr.147]. Đại hội Đảng lần thứ VIII
(1996) cũng đã đưa ra và cụ thể hóa quan điểm của đại hội VII như sau: xây
Lê Thị Hiên
11
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất
khẩu,…điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội nhập
toàn cầu, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta và các đối tác. Chủ động tham gia
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
HĐH là quá trình tất yếu mà tất cả các quốc gia nếu như muốn đưa nền kinh
tế phát triển. Và ở mỗi nước CNH, HĐH đều có những đặc điểm riêng , thời
gian diễn ra khác nhau và cách thức, con đường riêng phù hợp với hoàn cảnh
và điều kiện cụ thể của quốc gia đó.
Tương tự vậy, ở Việt Nam sau khi nước nhà được thống nhất, cả nước đi
lên chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được bắt đầu.
Nhưng do hậu quả của nhiều năm do chiến tranh để lại, do cơ chế quản lý bộc
lộ nhiều yếu kém, đời sống kinh tế xã hội có nhiều bất ổn đã đẩy nền kinh tế
nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng kéo dài trong nhiều năm liền.
Để thoát khỏi tình trạng đó và với mục đích tạo ra những cơ hội và tiềm
năng cho việc phát triển đất nước chúng ta phải tiến hành CNH, HĐH.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những tri thức văn minh của nhân loại,
rút từ kinh nghiệm tiến hành CNH, HĐH và từ thực tiễn tiến hành công
nghiệp hóa ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương lần thứ bảy khóa VI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng
Cộng sản Việt Nam đã xác định:
“CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã
hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao
động xã hội cao” [2, tr.281].
CNH được đề ra từ đại hội Đảng III nhưng CNH, HĐH được chính thức
quan tâm và đề ra chủ trương từ Đại Hội VII, VIII. Thực chất khi công nghiệp
hóa gắn với hiện đại hóa ở nước ta, nó là quá trình tạo ra những tiền đề vật
làm cho nền kinh tế không phát triển được, khủng hoảng kinh tế kéo dài và
trầm trọng, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, tình hình đó đòi hỏi chúng ta
phải tiến hành CNH, HĐH đất nước. Sự nghiệp này sẽ là tiền đề, là cách thức,
là con đường để đạt tới một nền kinh tế phát triển, đồng thời chính sự nghiệp
đó sẽ xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật vững chắc để chúng ta tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
Mặt khác, do xuất phát điểm thấp lại là một nước nông nghiệp lạc hậu
chậm phát triển, cơ sở vật chất kĩ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản
xuất chưa phát triển, quan hệ sản xuất mới thiết lập nên chưa được hoàn thiện.
Lê Thị Hiên
14
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
Vì vậy CNH, HĐH là quá trình tất yếu khách quan để xây dựng cơ sở vật chất
kĩ thuật và hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đang phát triển mạnh mẽ như vũ
bão, xu thế giao lưu hội nhập ngày càng phát triển, nhu cầu ứng dụng và
chuyển giao công nghệ ngày càng nhiều. Khoa học - công nghệ mới ngày
càng tinh vi hơn, góp phần vào việc tìm kiếm các vật thể mới, nâng cao năng
lực quản lý và lao động của con người. Khoa học - công nghệ tham gia vào
yếu tố của lực lượng sản xuất góp phần làm phong phú thêm công nghệ sản
xuất, nâng cao kỹ năng sản xuất góp phần vào sự phát triển của sản xuất nói
riêng và xã hội nói chung. Vì thế Việt Nam tất yếu phải tiến hành CNH, HĐH
để có thể nắm bắt được những cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học - công
thống nhất.
CNH, HĐH có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển
cao trên cơ sở củng cố và phát triển khối liên minh công - nông - trí, góp phần
tăng cường sức mạnh quyền lực và hiệu quả bộ máy quản lý kinh tế của nhà
nước. Đồng thời CNH, HĐH còn là tiền đề để xây dựng và phát triển, hiện đại
hóa nền quốc phòng - an ninh.
1.3. Vai trò của hội nhập kinh tế quốc tế đối với quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
1.3.1. Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần khơi thông, huy động và phân
bổ có hiệu quả nguồn vốn từ nước ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước
Tiến hành CNH, HĐH đòi hỏi chúng ta phải có nguồn vốn lớn phục vụ
đầu tư. Khi tham gia vào quá trình hội nhập sẽ giúp cho nước ta sử dụng tốt
và có hiệu quả nguồn vốn trong nước, tăng cơ hội tiếp cận nhiều nguồn vốn
của nước ngoài,…Tuy nhiên, tiến lên chủ nghĩa xã từ một nền kinh tế nghèo
và lạc hậu làm cho việc tích lũy vốn từ nội bộ của nền kinh tế hết sức khó
khăn. Để thoát khỏi những khó khăn ngoài những nguồn vốn tích lũy từ nội
bộ nền kinh tế chúng ta cần phải tận dụng mọi khả năng để thu hút các nguồn
vốn từ bên ngoài bao gồm nguồn vốn trực tiếp và nguồn vốn gián tiếp.
Đối với nguồn vốn trực tiếp (FDI): FDI giữ vai trò trọng yếu trong CNH,
HĐH ở Việt Nam. Trước hết đây sẽ là nguồn vốn bù đắp vào tình trạng thiếu
vốn nghiêm trọng của Việt Nam khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa. Hơn
nữa, đây là dạng đầu tư an toàn không gây nợ, ít hậu quả tiêu cực do FDI là
dòng vốn dài hạn, không dễ bị rút ồ ạt trước thay đổi đột ngột về kinh tế và
Lê Thị Hiên
16
hụt cán cân thương mại, làm lành mạnh hóa cán cân thương mại nước ta
Lê Thị Hiên
17
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
Những điều đó cho thấy nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thành
một bộ phận quan trọng trong tổng đầu tư toàn xã hội ở nước ta. Mặc dầu
chiếm tỷ trọng không cao nhưng nó đã có đóng góp quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
Bên cạnh đó, FDI còn đóng góp một phần quan trọng vào việc tạo ra giá
trị công nghiệp, đẩy nhanh quá trình tăng sản lượng công nghiệp, góp phần
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa. Khu vực FDI đã có đóng góp tới gần
40% giá trị sản lượng công nghiệp giai đoạn (2001 - 2011), tức là tương
đương với giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực nhà nước. Đồng thời
khu vực FDI có tốc độ tăng giá trị sản lượng công nghiệp nhanh hơn nhiều
các khu vực khác của nền kinh tế. Khu vực này là động lực chính làm cho sản
lượng toàn ngành công nghiệp tăng hai chữ số trong đầu những năm 2000 khi
mà “luật doanh nghiệp” ra đời.
Mặt khác, do chủ thể của FDI là các công ty xuyên quốc gia nên sự hiện
diện của dòng vốn này đồng thời là quá trình đẩy nhanh sự phát triển của các
ngành dựa trên công nghệ tiên tiến, thúc đẩy quá trình hiện đại hóa và tạo
điều kiện cho công nghiệp hóa rút ngắn. Khi vào một thị trường mới, FDI
luôn gắn liền với áp dụng công nghệ mới, thực hiện chuyển giao công nghệ và
kỹ năng quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa để đảm
và bền vững, đây chính là việc làm đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH đó là cần
phải xây dựng được cơ sở hạ tầng kĩ thuật cho CNXH. Thực tế đã cho thấy
rằng phát triển hạ tầng cơ sở như: điện, đường, viễn thông, thông tin đã đóng
vai trò hết sức quan trọng cho phát triển kinh tế vùng, đặc biệt là các vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Phần lớn ODA vào Việt Nam đều sử dụng vào
phát triển kết cấu hạ tầng sản xuất và xã hội. Trong đó: Điện chiếm khoảng
26%, giao thông là 27%, tín dụng điều chỉnh cơ cấu kinh tế là 10% nông
nghiệp là 14,3%, cấp thoát nước là 7%, lĩnh vực xã hội (y tế, dân số, giáo
dục,...) là 6,8%, các ngành khác là 7, 2% [17, tr.161]. Nguồn vốn ODA cam
kết vào Việt Nam liên tục tăng từ sau khi mở cửa và đẩy mạnh hội nhập. Theo
báo Kinh doanh số ra ngày 3/12/2010 tổng gói cam kết viện trợ phát triển
chính thức mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam trong năm 2011 đạt 7,9 tỷ
USD. Các đối tác phát triển cam kết sẽ hỗ trợ cho sự phát triển của Việt Nam
với tư cách là nước có thu nhập trung bình. Trong số vốn ODA 7,9 tỷ USD
cam kết cho năm 2011, số vốn của các nhà tài trợ song phương là 3,3 tỷ USD,
Lê Thị Hiên
19
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
các nhà tài trợ đa phương là 4,6 tỷ USD. Trong số các nhà tài trợ song
phương, Nhật Bản đứng đầu về số vốn ODA cam kết, đạt 1,76 tỷ USD. Tiếp
theo là Hàn Quốc, Pháp, Đức lần lượt là 412 triệu USD; 221 triệu USD và
199 triệu USD,… Phía nhà tài trợ có tổ chức, Ngân hàng Thế giới (WB) là
nhà tài trợ đa phương đứng đầu với cam kết hỗ trợ vốn ODA trên 2,6 tỷ USD;
Khóa luận tốt nghiệp
mới chỉ chiếm 0,6% GDP, quy mô của thị trường ở Việt Nam chỉ bằng 0,4%
tổng quy mô của thị trường Inđônêsia, nhưng trong nhiều năm gần đây dòng
vốn này đang có xu hướng tăng trở lại.Tính từ đầu năm đến tháng 3/2012,
Việt Nam đã thu hút được số vốn trị giá hơn 30 triệu USD từ các quỹ ngoại,
nhiều hơn lượng vốn ròng chảy vào các thị trường khác trong khu vực. Tuy
nhiên trong thực tế thì việc thu hút đầu tư gián tiếp nước ngoài còn kém là do
nhiều lý do khác nhau. Mặc dù vậy trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay,
cơ hội để Việt Nam tiếp cận với luồng vốn gián tiếp còn là vô cùng lớn và đó
sẽ là những tiền đề quan trọng thể hiện nền kinh tế Việt Nam trong tương lai
sẽ thực sự là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế thị trường thế giới.
Tóm lại, việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới giúp chúng ta giải quyết
một phần bài toán về vốn cho quá trình CNH, HĐH đất nước. Nó đã thúc đẩy
việc tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, chống thất thoát, lãng phí
trong đầu tư, tăng cường công tác điều hành chính sách tài chính, tiền tệ,
khơi thông và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn khác nhau thúc đẩy quá
trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta.
1.3.2. Hội nhập kinh tế quốc tế giúp đào tạo và sử dụng tốt hơn nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
CNH, HĐH không chỉ đòi hỏi vốn, kĩ thuật, tài nguyên,…mà cần phải
phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những
phương tiện đó. Nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của CNH, HĐH bao gồm
những con người có đức có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo và làm việc
quên mình, vì độc lập và sự phồn vinh của Tổ quốc; được chuẩn bị tốt về kiến
thức văn hóa, thành thạo về kĩ năng nghề nghiệp, năng lực sản xuất kinh
doanh, trình độ khoa học kĩ thuật ngang tầm thế giới.
Để đáp ứng được những yêu cầu như trên, bên cạnh việc coi trọng đầu tư
cho giáo dục - đào tạo thì tham gia HNKTQT cũng là điều cần thiết để nâng
kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá
thể…Điều này đồng nghĩa với việc mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc
và tăng thu nhập cho một bộ phận lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn
nữa sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt
động trao đổi chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho lộ trình
chuyên môn kĩ thuật, hợp tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó
Lê Thị Hiên
22
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để có thể làm chủ công nghệ và
thiết bị tiên tiến trên thế giới.
Hội nhập kinh tế thế thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân
lực. Thông qua các dự án hợp tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào
Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn tài chính dồi dào hơn cho việc đổi mới công
nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động
theo định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao, trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được
cắt giảm. Điều này tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia
sâu hơn vào phân công và hợp tác lao động quốc tế, đây là nền móng cho việc
tạo việc làm một cách ổn định và bền vững.
Tham gia vào hội nhập người Việt Nam có điều kiện tiếp nhận với công
nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến, qua đó nâng cao năng suất lao
trong khu vực và trên thế giới trên một số lĩnh vực quan trọng. Muốn vậy cần
phải nhận thức được xu thế nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ,
và kinh tế tri thức trên thế giới. Chính vì thế khi tham gia hội nhập vào nền
kinh tế thế giới, mở rộng hợp tác khoa học công nghệ với các nước và các tổ
chức quốc tế, giúp chúng ta có thể tiếp cận, kế thừa những thành tựu khoa học
và công nghệ của thế giới, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế.
Tham gia HNKTQT đã tạo điều kiện để công nghệ hiện đại và tri thức
quản lý tiên tiến đi vào nước ta theo nhiều kênh: đầu tư trực tiếp, nhập khẩu
bằng phát minh hoặc mua giấy phép, nhập khẩu lao động có trình độ tay nghề
cao thông qua hợp tác giáo dục và đào tạo. Tất cả những điều đó sẽ giúp Việt
Nam tranh thủ được kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy
nhanh quá trình CNH, HĐH tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội. HNKTQT là con đường để khai thông thị trường nước ta với khu vực và
thế giới, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và có hiệu quả qua đó mà các kỹ
thuật công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nước ta. Đồng thời là cơ hội để
chúng ta lựa chọn công nghệ, kỹ thuật nước ngoài nhằm phát triển năng lực
kỹ thuật công nghệ quốc gia. Trong cạnh tranh quốc tế có thể công nghệ này
là cũ với một số nước phát triển nhưng lại hiệu quả tại một số nước đang phát
triển như Việt Nam. Trong những năm qua, cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật nhất là công nghệ thông tin và viễn thông phát triển mạnh làm thay đổi
Lê Thị Hiên
24
Khoa Giáo dục chính trị
Khóa luận tốt nghiệp
25