Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thưc hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa , hiện đại hóa ở việt nam hiện nay - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN VĂN MẠNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

HÀ NỘI - 2013


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

NGUYỄN VĂN MẠNH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG
ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị


Nguyễn Văn Mạnh


DANH MỤC MỘT SỐ CỤM TỪ VIẾT TẮT

1. CBTD

: Cán bộ tín dụng

2.

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3.

NHCS

: Ngân hàng chính sách

4.

NHNN

: Ngân hàng Nhà nước

5.

NHTM

: Ngân hàng thương mại

Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN
DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................ 23
2.1. Những thành tựu đạt được của việc thực hiện chính sách tín dụng để
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay .... 23
2.2. Những hạn chế của việc thực hiện chính sách tín dụng ở Việt Nam
hiện nay...................................................................................................... 35
Chương 3: NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH TÍN DỤNG ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA,
HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................ 45
3.1. Những định hướng chủ yếu của việc thực hiện chính sách tín dụng để
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay .... 45
3.2. Một số giải pháp giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực
hiện chính sách tín dụng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Việt Nam hiện nay ............................................................................ 51
KẾT LUẬN ................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 74


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chính sách tín dụng là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính
nói chung và chính sách tiền tệ nói riêng, đồng thời là công cụ quan trọng của
Nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh tế. Xây dựng và thực thi một
chính sách tín dụng phù hợp với cơ chế thị trường có ý nghĩa chiến lược phát
triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta.
Tuy nhiên, trên thực tế việc xây dựng và điều hành chính sách tín dụng
ở Việt Nam còn nhiều bất cập cả về nội dung chính sách, cơ chế quản lý và
phương thức tổ chức vận hành. Nguyên nhân của những bất cập đó, một phần

Hoát viết năm 1993. Luận án đã đề cập tới các luận điểm khoa học về bản
chất, vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trường; đánh giá tổng quát thực
trạng thể chế và hoạt động của tín dụng ngân hàng trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh.
“Đổi mới chính sách tiền tệ, tín dụng, ngân hàng trong giai đoạn
chuyển sang kinh tế thị trường ở nước ta” của Tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm được Nxb
Chính trị quốc gia xuất bản năm 1995 với nội dung: Vai trò tiền tệ - tín dụng
và ngân hàng trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ
mô của nhà nước. Hệ thống tiền tệ - tín dụng và ngân hàng Việt Nam trong
tiến trình đổi mới. Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới hệ thống chính
sách tiền tệ - tín dụng - ngân hàng ở Việt Nam.
Hay “Vai trò của các chính sách tín dụng và tiền tệ trong quá trình hội
nhập giai đoạn 2005- 2010” của tác giả Hà Kim Nga xuất bản năm 2005:
Trình bày thực trạng việc thực hiện chính sách tín dụng và tiền tệ ở Việt Nam
giai đoạn 2005 - 2010 và phân tích vai trò của chính sách tín dụng và tiền tệ
trong quá trình hội nhập kinh tế, cũng đưa ra những giải pháp mang tính định
hướng nhằm phát triển kinh tế trong thời gian tới.

2


Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Tăng cường sự gắn kết giữa đào tạo nguồn
nhân lực và hoạt động các tổ chức tín dụng ở Việt Nam” năm 2005 của Ngân
hàng Nhà nước - thường trực Hội đồng khoa học và công nghệ Ngân hàng:
Gồm các bài viết về đào tạo nguồn nhân lực và hoạt động của các tổ chức tín
dụng; xây dựng nguồn nhân lực - chìa khóa của sự thành công trong hoạt
động Ngân hàng; đào tào nguồn nhân lực cho hội nhập kinh tế nhìn từ cơ sở;
hoạt động nghiên cứu khoa học ngân hàng và giải pháp phát triển, đổi mới
phương thức liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo trong ngành với các tổ
chức tín dụng; nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho các tổ chức

Nam thời gian qua, phân tích những thành tựu đạt được cũng như phát hiện
những vấn đề bất cập của việc thực hiện chính sách tín dụng .
+ Đặt trong điều kiện mới, yêu cầu mới của quá trình phát triển kinh tế
ở nước ta, đặc biệt trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, từ đó đề xuất
những quan điểm có tính định hướng và kiến nghị những giải pháp vĩ mô chủ
yếu nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách tín dụng trong
những năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của khóa khóa luận tập trung vào các vấn đề về
chính sách tín dụng mang tính vĩ mô, chiến lược, có vai trò là công cụ quản lý
và điều hành hoạt động tín dụng trong nền kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu:
Khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu vào giai đoạn từ 1990 đến nay và
định hướng những năm tiếp theo trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế và
thực hiện chiến lược CNH, HĐH đất nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết
hợp với việc sử dụng phương pháp lôgic, thống kê, phương pháp diễn giải và
quy nạp để giải quyết các vấn đề.
4


Bên cạnh đó, cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các tài liệu, sách
báo có liên quan và sử dụng các số liệu, thông tin từ NHNN để làm sáng tỏ
thêm các quan điểm của khóa luận.
6. Đóng góp mới của đề tài
Luận giải một cách có hệ thống, có cơ sở lý luận và thực tiễn việc thực
hiện chính sách tín dụng.

nhất là các khoản cho vay ngắn hạn,… Việc một người có một khoản tín dụng
đồng nghĩa với việc anh ta có một phương tiện để mua hàng hóa mà không
phải trả ngay, hoặc có thể rút tiền từ một tổ chức cho vay nào đó. Trong môn
kinh tế tiền tệ, khái niệm “tín dụng” thường được dùng để chỉ các loại hình
cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ (khi sự gia tăng
mức cho vay của ngân hàng dẫn tới sự gia tăng của tiền gửi ngân hàng), hoặc
làm tăng các phương tiện thay thế tiền, chẳng hạn tín dụng thương mại. Mối
quan hệ giữa tiền và tín dụng này là mối quan hệ trực tiếp ở cấp kinh tế vĩ mô,

6


khi người ta phân tích sự thay đổi của cung ứng tiền trên phương diện mở
rộng tín dụng trong nước” [18, tr. 585].
Những quan điểm, tư tưởng cơ bản về lý thuyết tiền tệ, tín dụng, ngân
hàng trong học thuyết kinh tế của C.Mác cũng đã đề cập khá rõ nét theo một
trình tự khoa học, logic về sự ra đời, quá trình tồn tại và vai trò của tín dụng.
Trước hết là tín dụng thương mại gắn với việc thực hiện chức năng phương
tiện thanh toán của tiền tệ thông qua hành vi “mua bán chịu” hàng hóa giữa
những người sản xuất kinh doanh. C.Mác cho rằng “tín dụng thương mại là
cho vay bằng hàng hóa, tức là thực hiện bán hàng trước, trả tiền sau”, cho nên
“trong số tiền phải hoàn trả lại bao gồm cả khoản thù lao về việc sử dụng tư
bản và sự rủi ro có thể xảy ra trước khi đến kỳ hạn trả” [11, tr.491]. Sau đó là
sự ra đời của tín dụng ngân hàng trên cơ sở mở các nghiệp vụ “chiết khấu kỳ
hạn phiếu, tức là chuyển những kỳ phiếu đó thành tiền trước kỳ hạn của
chúng và bằng cách ứng tiền cho vay”[11, tr.488].
Các nhà kinh tế học cổ điển cũng như một số nhà kinh tế thị trường
trước đây, trong các thuyết về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng thường đề cập
nhiều đến các vấn đề về tiền tệ và ngân hàng, chứ chưa đề cập sâu đến vấn đề
tín dụng. Lúc đầu tín dụng chưa được đề cập mổ xẻ một cách độc lập, chỉ khi

nền kinh tế trên nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức” [1, tr.378].
Tín dụng là một phạm trù kinh tế thuộc về kinh tế hàng hóa, là mối
quan hệ kinh tế phát sinh giữa hai chủ thể, là những người hoặc các quốc gia
khác nhau về khả năng và nhu cầu tiền tệ, có nhu cầu chuyển nhượng giá trị
và chấp nhận giá trị. Tín dụng không chỉ là một hình thức vận động của vốn
tiền tệ (vốn vay) mà còn là một loại quan hệ xã hội, trước hết là lòng tin. Từ
xa xưa, tín dụng dựa trên lòng tin là chủ yếu, đến nay nó được bảo trợ của
pháp luật nhà nước. Song tín dụng không phản ánh mọi mối quan hệ xã hội,
mà chỉ những quan hệ xã hội biểu hiện các mối quan hệ vay mượn. Tín dụng

8


biểu hiện các mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lại vốn tiền
tệ theo nguyên tắc hoàn trả. Cơ sở vật chất của tín dụng là tiền tệ và hàng hóa.
1.1.2. Bản chất, chức năng và các hình thức tín dụng
Bản chất của tín dụng là: “Tính hoàn trả tiền vay là một trong những
dấu hiệu thể hiện bản chất của tín dụng. Khác với các hàng hóa khác, giá trị
và giá trị sử dụng của nó trong khi bán được chuyển từ người bán sang người
mua, còn vốn được chuyển giao thông qua tín dụng chỉ tạm thời chuyển
nhượng sử dụng. Trong quan hệ tín dụng, chỉ có giá trị sử dụng được chuyển
đến người chủ mới. Tính hoàn trả không tự nó xuất hiện mà dựa vào quá trình
vật chất, vào sự kết thúc tuần hoàn vốn và được bảo đảm bằng hiệu quả cụ thể
sau một chu kỳ sử dụng vốn của người vay cá biệt” [20, tr. 207]. Như vậy,
bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động của vốn tiền tệ
trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển, tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống cho người dân.
Trong nền kinh tế hàng hóa, tín dụng thực hiện 2 chức năng cơ bản:
Một là, tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả.
Thực hiện chức năng này, tín dụng thu hút đại bộ phận tiền tệ nhàn rỗi trong

- Căn cứ vào chủ thể tín dụng có: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân
hàng, tín dụng nhà nước.
- Khi các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng mở rộng thì hình thức tín
dụng quốc tế cũng ngày càng được phát triển.
1.1.3. Tính tất yếu khách quan của việc hình thành, phát triển tín dụng
Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, xã hội loài người cũng phát
triển theo các hình thái kinh tế khác nhau. Ở xã hội cộng sản nguyên thủy do
lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội không có của dư, sản phẩm do con
người làm ra chưa đủ tích lũy, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở cộng đồng,
mọi sản phẩm đều là của chung, con người hoàn toàn dựa vào nhau, chung
sống, tư hữu chưa ra đời. Do đó chưa xuất hiện quan hệ mua bán, trao đổi.

10


Sau đó, với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã tạo điều kiện tăng
năng suất lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, con người không chỉ
đủ tiêu dùng mà dần dần còn có tích lũy, dự trữ xuất hiện của dư. Cùng với sự
phát triển của phân công lao động xã hội, của công cụ lao động, chế độ tư hữu
dần dần xuất hiện, sự phân hoá giữa người giàu người nghèo và các tầng lớp,
giai cấp, các giai cấp cũng theo đó phát triển ngày càng rõ rệt. Quan hệ trao
đổi, mua bán, vay mượn cũng từng bước xuất hiện với nhiều hình thức đa
dạng phong phú. Tuy nhiên quan hệ vay mượn thời kỳ đầu chỉ là hình thức sơ
khai, phôi thai của tín dụng sau này.
Khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định, nhu cầu mua bán,
trao đổi, vay mượn tăng lên, xuất hiện tiền tệ (một loại hàng hoá đặc biệt, vật
trung gian trong trao đổi mua bán, một loại của cải để tích trữ...), xã hội dần
dần xuất hiện quan hệ tín dụng. Vì vậy, sự tồn tại và phát triển quan hệ tín
dụng do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là, trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự vận động của vốn

Bốn là, do yêu cầu của quá trình hạch toán kinh tế trong sản xuất, kinh
doanh rất chặt chẽ, cụ thể chi tiết nên các đơn vị, tổ chức kinh tế, các doanh
nghiệp phải luôn chủ động, thận trọng trong việc tính toán huy động, chuẩn bị
tạo nguồn vốn, nắm chắc nguồn vốn cũng như sử dụng vốn, kể cả vốn cố định
và lưu động. Cần tính toán, cân nhắc, xác định đúng nhu cầu vốn của mình
trong sản xuất kinh doanh để đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi. Chính việc đi
vay và cho vay thông qua quan hệ tín dụng, các đơn vị tổ chức kinh tế đã giải
quyết được vấn đề nhu cầu về vốn, sử dụng vốn.
Từ những vấn đề trình bày ở trên có thể đi đến khẳng định rằng sự hình
thành và phát triển của quan hệ tín dụng, hoạt động tín dụng trong quá trình
phát triển của sản xuất của nền kinh tế là một tất yếu khách quan, là vấn đề có
tính quy luật.
1.2. Chính sách tín dụng
1.2.1. Khái niệm chính sách tín dụng

12


Đứng trên góc độ quản lý vĩ mô nền kinh tế, chính sách tín dụng là một
bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính nói chung và chính sách tiền tệ nói
riêng, là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý và điều hành nền kinh
tế. Chính sách tín dụng là ý chí nguyện vọng, là sách lược và kế hoạch, là
phương thức và biện pháp của nhà nước nhằm đạt được mục tiêu khai thác tối
đa các nguồn vốn trong và ngoài nước, phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất
các nguồn vốn đó, đảm bảo các lợi ích tổng thể xã hội cũng như các lợi ích cá
biệt theo tính chất sở hữu các nguồn vốn. Trong nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường, người chịu trách nhiệm về xây dựng và thực thi chính sách tín
dụng là ngân hành trung ương.
Chính sách tín dụng là việc định hướng cho các hoạt động và quan hệ
tín dụng trong nền kinh tế, vừa thực hiện tốt vai trò quản lý của nhà nước

tín dụng nhất thiết phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - chính trị ở
từng thời kỳ nhất định của Nhà nước, đồng thời cũng phải phù hợp với quy
luật khách quan vận hành cung cầu vốn trong nền kinh tế. Chính sách tín dụng
phải thúc đẩy mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả vốn vay
và hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Một số công cụ để thực hiện chính sách tín dụng:
Hệ thống công cụ để thực hiện chính sách tín dụng bao gồm hai nhóm:
Nhóm 1: Các công cụ tác động trực tiếp.
1. Hạn mức tín dụng: NHTW ấn định một khối lượng cung ứng cho nền
kinh tế trong một giai đoạn nhất định và xác định phương thức cung ứng nó.
Đó là hạn mức tín dụng từ NHTW cấp cho các tổ chức tín dụng và hạn mức
từ các tổ chức tín dụng cho từng đơn vị kinh tế.
2. Tiêu chuẩn cấp tín dụng: Ngân hành Trung ương quy định các điều
kiện cấp tín dụng có tính chất hành lang pháp lý cho các tổ chức tín dụng thực
hiện. Đây là một công cụ mang tính hành chính bắt buộc, nhằm duy trì sự an
toàn và những trật tự ổn định trên thị trường tín dụng.
Nhóm 2: Các công cụ tác động gián tiếp.
14


1. Tái cấp vốn: Thực hiện vai trò là ngân hàng của các ngân hàng, Ngân
hàng Trung ương sẽ là người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng,
khi các tổ chức tín dụng đã sử dụng hết mọi khả năng vay vốn trong nền kinh tế
cũng như vay lẫn nhau mà vẫn cần đến tiền của Ngân hàng Trung ương.
2. Lãi suất điều tiết gián tiếp của Ngân hàng Trung ương: Thông qua
lãi suất tái chiết khấu và lãi suất giao dịch trên thị trường tiền tệ (nghiệp vụ thị
trường mở). Bằng công cụ lãi suất này Ngân hàng Trung ương thực hiện ý
định mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng cho nền kinh tế.
3. Dự trữ bắt buộc: Là công cụ khống chế khả năng tạo tiền của các tổ
chức tín dụng. Nó là tỷ lệ nhất định mà các tổ chức tín dụng đã huy động và

lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại
dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm
tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [1, tr. 281].
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên đây được Đảng ta xác
định rộng hơn những quan niệm trước đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất,
kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, được sử dụng bằng các
phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại cùng với kỹ thuật và công
nghệ cao. Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong
phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để
chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây.
Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể của đất
nước, CNH, HĐH ở nước ta hiện nay có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, CNH, HĐH ở nước ta vì mục tiêu xã hội chủ nghĩa, là quá
trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải biến một xã hội
nông nghiệp lạc hậu thành xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng
bước quan hệ sản xuất tiến bộ.
Thứ hai, CNH, HĐH ở một nước nông nghiệp lạc hậu, bình quân ruộng
đất/đầu người thấp, thu nhập quốc dân bình quân/đầu người thấp nên sức mua
hạn chế.

16


Thứ ba, CNH, HĐH trong điều kiện nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ tư, CNH, HĐH diễn ra trong điều kiện khoa học công nghệ phát
triển mạnh mẽ, trong xu thé quốc tế hóa nền kinh tế vì vậy CNH, HĐH ở
nước ta hiện nay tiến hành theo chiến lược kinh tế mở.
Thứ năm, CNH, HĐH trong bối cảnh thuận lợi và khó khăn, thời cơ và

chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Cơ sở vật chất - kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội cần phải xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất,
tiên tiến nhất của khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất - kỹ thuật đó phải tạo
ra một năng suất lao động xã hội cao. Công nghiệp hóa chính là quá trình tạo ra
nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ
sở vật chất - kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát
triển, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới được thiết lập, chưa được hoàn
thiện. Vì vậy, quá trình công nghiệp hóa chính là quá trình xây dựng cơ sở vật
chất - kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân. Mỗi bước tiến của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa là một bước tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và góp phần hoàn
thiện quan hệ xã hội chủ nghĩa.
Trong xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa về kinh tế đang phát triển
mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện
đại phát triển rất nhanh chóng, có nhiều thời cơ và cũng có nhiều nguy cơ,
vừa tạo ra vận hội mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan
xen với nhau, tác động lẫn nhau. Vì vậy, đất nước chúng ta phải chủ động
sáng tạo nắm lấy thời cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra thế và lực mới để vượt qua những khó
khăn, đẩy lùi nguy cơ, đưa nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững.

18


1.4. Vai trò của chính sách tín dụng đối với sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay
Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH
chính sách tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, không chỉ là một nhân tố
góp phần tác động và thúc đẩy phát triển kinh tế, mà còn là công cụ quản lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status