Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo vệ môi trường sinh thái ở việt nam hiện nay - Pdf 31

Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

ĐÀO THỊ TÂM

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
VÀO VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2013

K35 - GDCT

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====***=====

trường đã tạo điều kiện tốt nhất cho em được học tập và nghiên cứu tại trường.
Vì điều kiện thời gian có hạn, khóa luận còn nhiều thiếu sót, kính mong
quý thấy cô và mọi người chỉ bảo thêm và cho ý kiến đóng góp.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận

Đào Thị Tâm

K35 - GDCT

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn tận
tình của cô giáo - T.S. Trần Thị Hồng Loan.
Khóa luận với đề tài “Sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo
vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay” chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Nếu có gì sai phạm người viết sẽ chịu
mọi hình thức kỷ luật theo đúng quy định của việc nghiên cứu khoa học.

Hà Nội, tháng 05 năm 2013
Tác giả khóa luận

PTBV

Phát triển bền vững

TN - MT

Tài nguyên - môi trường

K35 - GDCT

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chương 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ MÔI
TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................... 7
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm toàn
diện ................................................................................................................ 7
1.2. Môi trường sinh thái .............................................................................. 15
1.3. Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo vệ môi trường
sinh thái ở Việt Nam hiện nay ...................................................................... 32
Chương 2: THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO
VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...... 41
2.1. Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay ........................................................... 41

khác, cũng đang bộc lộ tất cả các mâu thuẫn gay gắt chưa thể điều hòa được
giữa sự tiến bộ của khoa học và công nghệ với việc bảo vệ những điều kiện tự
nhiên cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Cùng với sự phát
triển nhanh chóng của kinh tế cũng là sự suy thoái trầm trọng về môi trường
sinh thái. Đó không còn là vấn đề của riêng quốc gia nào mà giờ đây, ô nhiễm
môi trường đã trở thành mối quan tâm, lo lắng của toàn nhân loại vì sự sống
còn của toàn thế giới.
Đây là yêu cầu chung đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, không
phân biệt trình độ phát triển hay chế độ xã hội vì tất cả mọi người trên trái đất
này đều sống chung trong một môi trường tự nhiên, đúng như tổng thống
Nam Phi T.Mơbeki đã phát biểu trong hội nghị này: Quả đất là ngôi nhà
chung của mọi người tất cả chúng ta phải nâng niu, phải chung sức bảo vệ sự
trong sạch và phát triển bền vững cho nó.
Để có thể đạt được sự phát triển bền vững thì các quốc gia đều phải thực
hiện phát triển kinh tế trong mối quan hệ phát triển chặt chẽ với đảm bảo công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Như vậy, bảo vệ môi trường sinh thái là
chúng ta đang bảo vệ chính bản thân mình, bảo vệ ngôi nhà của sự sống.
Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới, Việt Nam tuy mới
bước vào con đường phát triển kinh tế nhưng đã phải đối mặt với nhiều vấn
K35 - GDCT

1

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan


2

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của môi trường sinh thái đối với sự
tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người, bảo vệ môi trường đã
trở thành vấn đề chung của toàn cầu và là khẩu hiệu hành động của thời đại.
Chính vì vậy, nhiều cuộc hội nghị, hội thảo khoa học ở các cấp độ quốc tế,
khu vực và quốc gia về bảo vệ môi trường sinh thái đã được tiến hành; nhiều
tổ chức, các công ước quốc tế, nghị định thư và chương trình nghiên cứu môi
trường được xây dựng, triển khai hoạt động.
Ở Việt Nam vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng, Nhà nước và các nhà
khoa học đặc biệt quan tâm, nhất là kể từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi
mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với sự ra đời của Luật
Bảo vệ môi trường (năm 1993), hàng loạt các văn bản dưới luật liên quan đến
vấn đề này được ban hành và tổ chức thực hiện trong phạm vi cả nước. Đặc
biệt tại hội nghị khoa học toàn quốc về môi trường được tổ chức lần thứ nhất
vào năm 1998 và nhiều hội nghị, hội thảo cấp quốc gia khác, các nhà khoa
học và lãnh đạo Sở khoa học - Công nghệ - Môi trường các địa phương đã
phân tích khá chi tiết hiện trạng môi trường với những biểu hiện đa dạng của
nó; đề xuất những giải pháp nhằm ngăn chặn thảm họa môi trường có thể xảy
ra. Nhất là với chỉ thị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung
ương Đảng Cộng Sản Việt Nam tháng 6 năm 1998 đã góp phần tích cực vào

giải pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, chưa có một
công trình nghiên cứu nào đề cập tới việc Vận dụng quan điểm toàn diện vào
việc bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở kế thừa và
phát huy những kết quả đã thu đạt được của các công trình nghiên cứu kể
trên, tôi mạnh dạn nghiên cứu nội dung này, nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả của công tác bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích:
Làm rõ sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo vệ môi trường
sinh thái ở Việt Nam hiện nay và thực trạng của sự vận dụng đó; trên cơ sở
đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự vận dụng quan điểm
toàn diện vào bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận của quan điểm toàn diện trong triết học và
các quan niệm về môi trường sinh thái; trình bày nội dung sự vận dụng quan
điểm toàn diện vào việc bảo vệ môi trường sinh thái.

K35 - GDCT

4

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

- Làm rõ thực trạng của sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc bảo
vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay.

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

thực trạng đó và đề ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi
trường sinh thái.
- Khóa luận có thể làm tư liệu tham khảo cho những người quan tâm đến
vấn đề môi trường.
7. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
gồm 3 chương và 7 tiết.

K35 - GDCT

6

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

Chương 1
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ MÔI TRƯỜNG
SINH THÁI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức là hình thức thứ hai
trong lịch sử phép biện chứng, khởi đầu là I.Kant và người hoàn thiện là
Hêghen. Hêghen là nhà khoa học duy tâm khách quan, tư tưởng biện chứng
của ông thể hiện ở chỗ ông là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên,
lịch sử và tư duy dưới dạng một quá trình, nghĩa là trong sự vận động, biến
đổi và phát triển không ngừng. Tuy nhiên ông lại duy tâm khi coi “Ý niệm
tuyệt đối” tha hóa thành vận động của giới tự nhiên và xã hội cuối cùng trở về
với chính mình trong tinh thần thế giới. Thực chất của phép biện chứng duy
tâm khách quan của Hêghen là phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện
chứng của sự vật. Phép biện chứng cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào
sự phát triển của tư duy biện chứng nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên
một trình độ cao. Nhưng với hạn chế duy tâm, nó chưa thể trở thành cơ sở lí
luận của một thế giới quan khoa học.
Tới thế kỉ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh mẽ, nhiều phát minh
khoa học ra đời trở thành cơ sở cho sự ra đời triết học Mác. Triết học Mác là
triết học hoàn bị nhất với thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện
chứng. Đây là hình thức cao nhất của phép biện chứng. Phép biện chứng được
C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng, sau đó được V.I.Lênin phát triển. Các ông
đã gặt bỏ tính chất duy tâm, thần bí, kế thừa hạt nhân hợp lí trong phép biện
chứng cổ điển Đức (trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen). Trên cơ sở
những thành tựu lí luận, khoa học của nhân loại, trên cơ sở đúc kết từ thực
tiễn xã hội, các ông đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật, hình thức cao
nhất của phép biện chứng.
Trong triết học Mác - Lênin, thế giới quan duy vật biện chứng và
phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau. Phép biện

phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng
rẽ của thế giới.
Đối lập với quan điểm siêu hình, những người theo quan điểm biện
chứng cho rằng, các sự vật, hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại
độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau. Thế giới như
một chỉnh thể thống nhất, trong đó, các sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối
liên hệ phổ biến.
Để trả lời cho câu hỏi thứ hai, những người theo quan điểm chủ nghĩa
duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng, cái quy định
mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực
lượng tinh thần siêu tự nhiên hoặc cảm giác, ý thức của con người. Ví dụ như

K35 - GDCT

9

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Beccơli cho rằng: Cảm giác là nền
tảng mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, còn Hêghen xuất phát từ lập
trường duy tâm khách quan lại cho rằng: “Ý niệm tuyệt đối” là nền tảng của
mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng.
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định: tính thống
nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng
tạo thành thế giới. Tất cả những sự vật, hiện tượng đó chỉ là những dạng khác

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

+ Thứ hai, mối liên hệ thể hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể
tùy theo từng điều kiện nhất định. Song, dù dưới hình thức nào cũng chỉ là
biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Phép biện chứng duy vật
nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, bao quát nhất của thế giới. Bởi thế
Ăngghen viết: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những
quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài
người và của tư duy” [14, tr.181]. Cùng với lý do trên, triết học gọi mối liên
hệ đó là mối liên hệ phổ biến. Nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của các
mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới còn thấy rõ tính đa dạng,
phong phú nhiều vẻ của nó.
- Tính đa dạng: Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng thành từng
loại tùy theo tính chất: đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, độ nông
hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp. Mà có thể khái quát thành những mối
liên hệ khác nhau tùy theo từng cặp: mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên
ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và
mối liên hệ không bản chất. Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận
động và phát triển của bản thân các sự vật, hiện tượng quy định tính đa dạng
của các mối liên hệ. Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng:
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng.
+ Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng.
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức.
+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực.
Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận
động và phát triển của sự vật. Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự


1.1.2. Những nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến
 Quan điểm toàn diện
Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy
vật, rút ra quan điểm toàn diện. Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới
đều tồn tại trong mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ
rất đa dạng, phong phú. Do đó, khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta
phải có quan điểm toàn diện, tránh rơi vào quan điểm phiến diện. Trên cơ sở

K35 - GDCT

12

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn,
quan điểm toàn diện đặt ra yêu cầu sau:
- Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật
trong mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và
trong tác động giữa sự vật đó với sự vật khác. Cần tránh quan điểm phiến
diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một hoặc một vài mối liên hệ mà đã vội
vàng đi đến những kết luận về bản chất sự vật.
- Thứ hai, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng
mối liên hệ, biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối
liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ tất nhiên,… Để hiểu rõ bản


 Quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể có nghĩa là: Trong những điều kiện, hoàn
cảnh khác nhau thì mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng khác nhau.
Bản thân quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi trước hết chúng ta phải xem
xét phương pháp tư duy là tính lịch sử. Những phương pháp cơ bản của tư
duy biện chứng là kết quả của lịch sử nhận thức, của tư duy đã thể hiện ở việc
con người đi sâu nhận thức thế giới và vận dụng phép biện chứng vào quá
trình tư duy của con người. Phương pháp tư duy là sản phẩm của thời đại lịch
sử, nó được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Có thể phân chia sự phát triển của phương pháp tư duy của con người thành
những giai đoạn sau:
-Phương pháp tư duy nguyên thủy
-Phương pháp biện chứng chất phác thời cổ đại
-Phương pháp tư duy cận đại
-Phương pháp tư duy biện chứng hiện đại
Những phương pháp đó tạo thành một hệ thống phương pháp dựa vào
nhau và phân biệt với nhau. Tính lịch sử, tính thời đại của phương pháp tư
duy của con người chứng tỏ: không có tư duy lý luận vĩnh hằng, không có
phương pháp tư duy cứng nhắc không thay đổi. Trong lịch sử nhận thức, lịch
sử phát triển tư duy của con người phương pháp tư duy mới được hình thành
trên cơ sở khắc phục những mâu thuẫn của tư duy cũ.
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và
tác động vào sự vật phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môi
trường cụ thể trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển. Một
luận điểm nào đó trong điều kiện này là luận điểm khoa học nhưng sẽ không
phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Trong lịch sử triết học khi
xem xét các hệ thống triết học bao giờ ta cũng phải xem xét hoàn cảnh ra đời
và sự phát triển của các hệ thống đó.
K35 - GDCT

Nhân loại hiện đã và đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề cấp bách
mang tính toàn cầu. Một trong số đó là vấn đề môi trường sống. Những tình
trạng đáng báo động như nạn cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi
trường sống, suy giảm đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái,… đang đe
dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Vì
vậy, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nguyên thủ quốc gia và các nhà khoa học
trên khắp thế giới đã lên tiếng cảnh báo về mức độ nghiêm trọng, sự tiếp tục
gia tăng theo chiều hướng xấu của những vấn đề môi trường.
K35 - GDCT

15

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

Vậy, khái niệm môi trường là gì? Trước hết, cần phải khẳng định rằng,
đây là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp. Chính vì vậy, tùy thuộc vào
cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể (sinh thể) với các điều kiện xung
quanh và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu theo
nhiều nghĩa khác nhau:
Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự
đa dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan. Môi trường
hiểu theo nghĩa như vậy thường được gọi là môi trường toàn cầu, môi trường
trái đất và những điều kiện bao quanh trái đất. Nó bao gồm khí quyển, thủy
quyển và thạch quyển (địa quyển).
Thứ hai, môi trường được hiểu là môi trường sống, là phần của thế giới

sinh sản của các sinh vật”. Song, tác giả của các quan điểm trên cũng nhấn
mạnh rằng, đối với “môi trường của con người” thì cần phải được hiểu theo
nghĩa rộng hơn. Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và những gì do con
người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm và những hội
môi trường văn hóa,… trong đó con người sống và khai thác bằng lao động
của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn những
nhu cầu của con người [11, tr.6].
Tác giả khác, khi xác định nội dung của khái niệm môi trường, lại nhấn
mạnh đến mối quan hệ giữa môi trường và cơ thể sinh vật sống trong môi
trường đó. Theo ý kiến này, hiểu theo nghĩa rộng thì môi trường bao gồm tất
cả những gì ở xung quanh một đối tượng và có những mối quan hệ nhất định
với nó. Nếu đối tượng đó là một cơ thể sinh vật thì môi trường là tất cả những
gì trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn
tại của cơ thể đó. Vì vậy, cơ thể sống và môi trường có mối quan hệ qua lại
với nhau, tạo thành một thể thống nhất.
Dựa vào những cách hiểu trên và từ góc độ triết học , xã hội, theo chúng
tôi, có thể định nghĩa khái niệm môi trường như sau: “Môi trường là một khái
niệm dùng để chỉ toàn bộ những điều kiện bao quanh và thực thể luôn tồn tại
những mối quan hệ, ảnh hưởng và tác động lẫn nhau. Đối với con người và
xã hội loài người, các điều kiện bao quanh đó không chỉ là những điều kiện tự
nhiên mà còn bao gồm các điều kiện xã hội” [11, tr.5]. Như vậy, nói đến bảo
vệ môi trường là nói đến môi trường sinh thái nhân văn - môi trường sống của
con người và xã hội loài người. Con người ở đây phải được hiểu trên cả hai
mặt: là một thực thể tự nhiên có những nhu cầu sống như một sinh vật khác,
đồng thời là một thực thể xã hội, mà xã hội chính là một bộ phận không thể
tách rời của giới tự nhiên.
K35 - GDCT

17


hơn, phát triển hơn nhưng cũng có thể làm cho chúng bị suy thoái đi. Và lúc
đó, sự suy thoái này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới các sinh vật khác, đồng thời đe
dọa cuộc sống của chính con người. Như vậy, có thể khẳng định rằng, cách
thức tác động vào tự nhiên của con người là nhân tố quyết định tới sự sinh tồn

K35 - GDCT

18

Khóa luận tốt nghiệp - 2013


Đào Thị Tâm

GVHD: Trần Thị Hồng Loan

của bản thân con người nói riêng và của tất cả sự sống trên trái đất nói chung,
bởi vì:
Chỉ có con người mới đạt được đến chỗ in cái dấu của mình lên giới tự
nhiên, không chỉ bằng cách di chuyển các loài thực vật và động vật từ chỗ này
sang chỗ khác, mà còn làm biến đổi cả diện mạo, thậm chí còn làm biến đổi
cả cây cỏ và các thú vật tới một mức độ mà kết quả của hoạt động của họ chỉ
có thể biến mất, khi nào toàn bộ trái đất tiêu vong [16, tr.475].
Từ các khái niệm về môi trường, sinh thái và trên cơ sở kế thừa có chọn
lọc những quan niệm về môi trường sinh thái của các công trình đã công bố
và dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, theo chúng tôi, môi trường sinh
thái là một khái niệm rộng lớn, bao gồm tất cả những điều kiện xung quanh
có liên quan đến sự sống của sinh thể. Đối với con người, môi trường sinh
thái là tất cả những điều kiện tự nhiên, cả vô cơ và hữu cơ có liên quan đến
sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Như vậy, môi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status