1
Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa giáo dục thể chất
Nguyễn Thị Anh
Ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh
nhằm nâng cao thành tích học tập môn cầu
lông cho nữ học sinh khối 11 trường THPT
Cao Bá Quát - Gia Lâm
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hà Nội – 2010
2
lời cam đoan
Tên tôi là : Nguyễn Thị Anh
Sinh viên : Lớp K 32 – Khoa Giáo dục thể chất.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung
thực và độc lập với kết quả của tác giả khác.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2010
Sinh viên
Nguyễn Thị Anh
M
: Mét
Kg
: Kilogam
SL
: Số lần
CT/TW : Chỉ thị / Trung ương
QĐ
: Quyết định
NXB : Nhà xuất bản
4
danh mục bảng biểu
Tên bảng
Bảng 3.1 : Kết quả phỏng vấn về các loại sức mạnh được thể hiện
trong tập luyện và thi đấu cầu lông n = 20.
Bảng 3.2: Bảng đánh giá thành tích sức mạnh của nữ học sinh khối
11 trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm.
Bảng 3.3: Kết quả lựa chọn các test kiểm tra sức mạnh trong môn cầu
lông.
Trang
24
26
27
38
39
40
5
mục lục
Trang
Đặt vấn đề
1
Chương 1 : Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
5
1.1. Cơ sở lý luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
5
1.1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDTC trong
5
trường phổ thông
1.1.2. Mục tiêu của GDTC trong trường học
THPT
1.4. Đặc điểm huấn luyện thể lực chuyên môn trong cầu lông
13
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích môn cầu lông.
14
1.6. Khái niệm và phân loại sức mạnh.
16
Chương 2: Nhiệm vụ, phương pháp, tổ chức nghiên cứu
19
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
19
2.2. Phương pháp nghiên cứu
19
6
2.3. Tổ chức nghiên cứu
thành tích học tập môn cầu lông cho nữ học sinh đánh giá thực trạng
sức mạnh của nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá Quát- Gia
Lâm
3.2.1.1. Lựa chọn một số bài tập phát triển sức mạnh.
27
3.2.1.2. Tổ chức thực nghiệm
30
3.2.2. Đánh giá hiệu quả các bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng
35
cao thành tích học tập môn cầu lông cho nữ học sinh đánh giá thực
trạng sức mạnh của nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá QuátGia Lâm
Kết luận
41
Kiến nghị
42
Tài liệu tham khảo
43
Hoạt động và tập luyện TDTT có rất nhiều hình thức với nhiều môn thể
thao khác nhau: Cầu lông, Bóng rổ, Bóng chuyền, Bóng ném… có thể đáp
ứng những nhu cầu khác nhau, sở thích và điều kiện hoàn cảnh khác nhau của
mỗi người.
Cầu lông du nhập vào nước ta năm 1960. Tuy nó xuất hiện muộn so với
một số môn thể thao khác như: Điền kinh, Bóng đá, Bóng chuyền… song đã
nhanh chóng phát triển rộng khắp ở các tỉnh thành, ngành trên toàn quốc. Cầu
lông là môn thể thao được phát triển mạnh mẽ, phong trào cầu lông ở Việt
Nam có sự phát triển đáng kể. Sự phát triển môn cầu lông là phù hợp với tầm
vóc, tố chất thể lực, phẩm chất ý chí của người Việt Nam. Tuy nhiên, về thành
tích đỉnh cao của môn cầu lông nước ta hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu
và mục tiêu của ngành đề ra. Trong các cuộc thi đấu quốc tế, các vận động
viên cầu lông Việt Nam tham dự vẫn chỉ với mục đích chính là cọ sát, học hỏi
kinh nghiệm.
Cũng như các môn thể thao khác thi đấu cầu lông là một trong những
hoạt động đòi hỏi người tập sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực như:
Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động. Các
tố chất thể lực này có thể đáp ứng yêu cầu thực hiện kỹ thuật và vận dụng
nhiều chiến thuật nhằm đạt thành tích cao trong tập luyện và thi đấu cầu lông.
Các tố chất vận động như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, tính linh hoạt
trong thi đấu cực kì quan trọng và rất cần thiết, có ý nghĩa quyết định đến kết
quả trận đấu. Bởi vì đặc điểm của cầu lông là môn thi đấu gián tiếp với một
đến hai người trên sân. Người tập phải di chuyển liên tục với cường độ lớn
nên đòi hỏi mỗi người tập phải có trình độ thể lực toàn diện. Mặt khác, thi đấu
cầu lông người tập rất căng thẳng, với cường độ hoạt động tối đa liên tục và
phát huy hết mọi khả năng của cơ thể, tiêu hao nhiều năng lượng.
9
thể chất của trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm. Chính vì vậy chúng tôi
mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“ứng dụng một số bài tập phát triển sức mạnh nhằm nâng cao thành
tích học tập môn cầu lông cho nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá
Quát – Gia Lâm”.
* Mục đích nghiên cứu:
Lựa chọn được các bài tập nhằm nâng cao thành tích học tập môn cầu
lông cho nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm. Đồng
thời xác định mối tương quan của tố chất sức mạnh với thành tích học tập
môn cầu lông của nữ học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá Quát. Góp phần
định hướng cho công tác giảng dạy và huấn luyện thể lực nói chung cũng như
sức mạnh nói riêng trong quá trình tập luyện và thi đấu môn cầu lông cho nữ
học sinh khối 11 trường THPT Cao Bá Quát - Gia Lâm.
11
Chương 1
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1. Cơ sở lí luận xác định hướng nghiên cứu của đề tài
1.1.1. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDTC trong trường
phổ thông.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến mục tiêu giáo dục toàn diện
cho thế hệ trẻ, trong đó giáo dục về đức, trí, thể, mỹ được coi là vấn đề hệ
trọng nhằm giáo dục, hình thành nhân cách học sinh, sinh viên làm chủ
trương lai đất nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng IX và Chỉ thị
17/CT - TW ra ngày 23/10/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về: “Chiến
lược phát triển ngành Thể dục thể thao đến năm 2010” [2]. Vấn đề Giáo dục
thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ cần giáo dục toàn diện: “Đức dục, trí dục, thể
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Mục tiêu của GDTC trong trường học.
Giáo dục thể chất trong trường học góp phần nâng cao hiệu quả học
tập, lao động sẵn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. GDTC trong trường phổ
thông mục tiêu chính là nắm vững kiến thức cơ bản, kĩ năng cơ bản, nâng cao
ý thức và năng lực TDTT của học sinh hình thành phẩm chất đạo đức tốt, góp
13
phần phát triển hài hoà thể chất và hình thành con người mới phát triển toàn
diện về: “Đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục”.
1.1.3. Vai trò của GDTC trong trường học.
Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng trong việc rèn luỵyện học
sinh về thể lực để nâng cao sức khoẻ với mục tiêu “Khoẻ để học tập, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Khoẻ để chinh phục đỉnh cao tri thức”.
- GDTC trường học là cơ sở nền tảng của nền TDTT quốc dân.
- GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hoá tinh thần.
- GDTC trong trường học làm phong phú đời sống xã hội hiện tại.
- GDTC trường học là yếu tố cơ bản để chuẩn bị cho lao động sẵn sàng
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.4. Nội dung của công tác GDTC trong trường học.
- Thực hiện giờ học TDTT nội khóa tối thiểu 2 tiết/ tuần theo chương
trình quy định.
- Tổ chức tập luyện và kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa
tuổi mỗi năm một lần.
- Tổ chức tập luyện ngoại khoá cho câu lạc bộ thể thao tự chọn trong
trường học.
- ổn định hệ thống thi đấu thể thao của học sinh, sinh viên theo chu kì
tập luyện và thi đấu gắn liền với các phẩm chất tâm lí như năng lực phán
đoán, lòng dũng cảm và sự ổn định của hệ thần kinh.
Tâm lí con người rất phong phú và đa dạng, trong thể thao khi tham gia
các hoạt động tập luyện và thi đấu tâm lí của mỗi người cũng được biểu hiện
khác nhau. Người có tâm lí tốt, ổn định là điều kiện để thực hiện các hoạt
động theo ý muốn, đồng thời có kết quả thi đấu cao, ngược lại người có tâm lí
không tốt sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới thành tích thi đấu. Vì vậy, trong quá
15
trình giảng dạy, huấn luyện đòi hỏi người giáo viên, huấn luyện viên thể thao
phải nắm được các quy luật, đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh để có
những biện pháp điều chỉnh hợp lí.
Đối với học sinh THPT thì các em có những bước nhảy vọt về mặt thể
chất và tinh thần. Đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi lớn. Các em thích chứng tỏ
mình là người lớn, muốn người khác tôn trọng mình, đã có trình độ hiểu biết
nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp, ham hiểu biết, nhiều hoài bão
nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu kinh nghiệm trong cuộc sống. Bên cạnh
đó ở lứa tuổi này nếu không được giáo dục đúng các em dễ mắc phải những
thói hư tật xấu và dễ dàng mắc vào các tệ nạn xã hội.
ở giai đoạn này, sự phát triển của các em diễn ra khá phức tạp, đời sống
tâm lí có nhiều mâu thuẫn, nhiều thay đổi, thường biểu hiện ở tính linh hoạt
thần kinh trung ương cao. Đồng thời dưới sự tác động của nhiều yếu tố mà
khả năng tư duy của các em được phát triển nhanh, khả năng nắm bắt hoạt
động vận động tốt. Vì vậy các em có thể tiếp thu các động tác kĩ thuật nhanh
chóng. ở lứa tuổi này các em rất ham học hỏi, sáng tạo nhưng vẫn còn thiếu
tính kiên trì bền bỉ khi phải khắc phục những khó khăn trong quá trình tập
luyện nên thường xuyên nảy sinh tâm trạng chán nản. Do vậy những bài tập
đưa ra nhằm nâng cao và hoàn thiện kĩ năng các động tác kĩ thuật cần phải
Trong giai đoạn này hệ thần kinh phát triển mạnh và đi tới hoàn thiện.
Khả năng tư duy nhất là khả năng phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, phát
triển rất thuận lợi cho sự hình thành phản xạ có điều kiện. Do sự phát triển
mạnh của tuyến giáp, tuyến yên, tuyến sinh dục làm cho hưng phấn thần kinh
chiếm ưu thế hơn ức chế. Giữa hưng phấn và ức chế thần kinh không cân
bằng ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Vì vậy giáo viên cần sử dụng bài tập
thích hợp và thường xuyên quan sát phản ứng của cơ thể học sinh để giải
quyết kịp thời những hiện tượng sai lệch.
17
1.2.2.2. Hệ xương
Trong giai đoạn này hệ xương và các cơ lớn lên một cách đột ngột cả
về chiều dài và chiều rộng. Các tổ chức sụn được phát triển với tốc độ nhanh,
chiều dài cột sống tăng lên và có xu hướng cong vẹo.
1.2.2.3. Hệ cơ
ở giai đoạn này phát triển nhanh nhưng vẫn chậm so với hệ xương.
Khối lượng cơ tăng lên rất nhanh, đặc tính cơ tăng nhưng không đều chủ yếu
là phát triển cơ nhỏ và dài. Do đó khi hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi. Vì
sự phát triển thiếu cân đối nên khi tập luyện người giáo viên, hướng dẫn viên
cần phải chú ý đến phát triển cơ bắp cân đối cho học sinh.
1.2.2.4. Hệ tuần hoàn
Đang trên đà phát triển mạnh đáp ứng đầy đủ lượng oxy cho cơ thể.
Huyết áp ở lứa tuổi này thường tăng đột ngột, mạch máu không ổn định nếu
hoạt động trong thời gian dài sẽ dẫn đến mệt mỏi. Vì vậy trong giảng dạy phải
tuân theo nguyên tắc tăng dần khả năng thích hợp của cơ thể với khối lượng
vận động.
1.2.2.5. Hệ hô hấp
Hệ hô hấp đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, tuy nhiên các cơ hô hấp
toàn bộ quá trình giảng dạy và huấn luyện nhất là huấn luyện thể thao cho học
sinh THPT.
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho người
tập. Quá trình huấn luyện thể thao cho người tập là việc hướng dẫn củng cố
các hệ cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời
là việc phát triển mạnh các tố chất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, sức bền,
mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động).
Trong quá trình huấn luyện thể thao cần phải đặc biệt chú ý đến sự phù
hợp giữa lượng vận động và mức độ phát triển tâm lí. Lứa tuổi học sinh
19
THPT, cơ thể các em vẫn chưa hoàn thiện nếu tập luyện nóng vội, rút ngắn
giai đoạn, sử dụng các bài tập chuyên môn hạn hẹp cũng có thể gây ra những
ảnh hưởng không tốt. Vì vậy những bài tập phát triển toàn diện, có lượng vận
động tối ưu phải được ưu tiên sử dụng trong các chương trình giảng dạy cũng
như huấn luyện thể thao cho học sinh.
Khả năng vận động của cơ thể cũng tuân theo các đặc điểm lứa tuổi.
Trong quá trình tập luyện người tham gia tập luyện cần phải khởi động đầy
đủ, kĩ càng để đề phòng chấn thương và phát huy hết khả năng vận động của
cơ thể.
Quá trình mệt mỏi của học sinh cũng phụ thuộc vào đặc điểm lứa tuổi
và được thể hiện ở hai mặt:
Thứ nhất: Trong giai đoạn mệt mỏi khả năng vận động nói chung cũng
như các chỉ số( Tần số động tác, sức mạnh, độ chuẩn) giảm rõ rệt.
Thứ hai: Mệt mỏi của học sinh xuất hiện ngay cả khi môi trường bên
trong cơ thể có những biến đổi nhỏ.
Đặc điểm lứa tuổi cũng ảnh hưởng tới cả tính chất của quá trình hồi
phục sau vận động. Sau các bài tập yếm khí trong thời gian ngắn, sự hồi phục
lực vận động của người tập cầu lông và phụ thuộc trực tiếp vào các đặc điểm
kĩ, chiến thuật thi đấu, vào các chỉ số lượng vận động thi đấu, sự căng thẳng
tâm lí. Vì vậy chúng ta phải phát triển thể lực toàn diện cho người tập. Nó
luôn là cơ sở nền tảng cho sự phát triển thể lực chuyên môn mà chỉ phát triển
tốt thể lực chuyên môn thì việc nâng cao thành tích thể thao mới có được. Nếu
chỉ phát triển một tố chất thể lực thì không thể nâng cao thể lực chuyên môn
cho người tập.
1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thành tích học tập môn Cầu lông :
1.5.1. Các yếu tố về thể lực
21
Bên cạnh các yếu tố hiểu biết, đạo đức, ý chí, kĩ thuật, chiến thuật thể
lực là một trong những yếu tố quan trọng trong tập luyện và thi đấu cầu lông.
Thể lực là nền tảng cho việc thực hiện các kĩ thuật và mọi hành vi chiến thuật,
trình độ thể lực không cao sẽ không đáp ứng được quá trình thi đấu căng
thẳng liên tục trong thời gian dài.
Các môn thể thao tập thể hoặc cá nhân nói chung và môn cầu lông nói
riêng trong thi đấu phải thực hiện các kĩ thuật khác nhau trong thời gian dài
do vậy ở các hiệp thi đấu, trận đấu người chơi sẽ bị giảm sút về thể lực dẫn
đến việc thực hiện các kỹ thuật kém hiệu quả. Đặc biệt trong thi đấu đơn của
môn cầu lông thì thể lực có vai trò hết sức quan trọng nó quyết định nhiều đến
kết quả thi đấu của VĐV.
Như vậy, trong tập luyện và thi đấu môn cầu lông đòi hỏi cá nhân phải
có trình độ cao, muốn vậy luôn phải tạo được một nền móng thể lực chuyên
môn tốt để phục vụ cho việc phát triển các kĩ thuật, chiến thuật, tâm lý và
thành tích sau này.
1.5.2. Các yếu tố về kĩ thuật
Khi trình độ kỹ thuật thấp thì kỹ năng vận động thể hiện động tác phải
thể điều chỉnh được có khi xuất hiện trong thời gian dài mà người chơi chưa
điều chỉnh được. Tâm lý có ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích thi đấu. Trạng
thái tinh thần, đạo đức của một đội hoặc một cá nhân phụ thuộc trực tiếp vào
tính chất, mối quan hệ lẫn nhau trong đội. Do vậy tinh thần đoàn kết sự phối
hợp nhịp nhàng, khéo léo, ăn ý là mối quan hệ tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau.
Đối với những cá nhân trong các trận đánh đơn thì yêu cầu về sự nỗ lực ý chí
lòng quyết tâm còn phải cố gắng hơn rất nhiều và nó cũng chính là điều kiện
cần thiết của sự thành công.
1.6. Khái niệm và phân loại sức mạnh.
Để làm sáng tỏ tầm quan trọng của sức mạnh trong cầu lông ta cần tìm
hiểu các vấn đề sau:
23
Như chúng ta đã biết bất cứ một hoạt động nào đều cần phải có sức
mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực thể dục thể thao thì sức mạnh rất quan trọng. Nó
hầu như có mặt trong toàn bộ việc thực hiện các kĩ, chiến thuật trong tập
luyện và thi đấu của tất cả các môn thể thao. Cho nên có thể nói sức mạnh có
liên quan rất lớn đến thành tích của các môn thể thao.
Theo sinh lý thì sức mạnh là một khả năng của cơ thể được sử dụng để
thắng một trở lực nào đó. Trong thể dục thể thao nói chung và cầu lông nói
riêng, sức mạnh là một yếu tố rất quan trọng để đạt tới những thắng lợi. Mỗi
động tác của cầu lông đều cần đến sức mạnh, kể từ động tác đơn giản nhất
như di chuyển tới vị trí đánh cầu, những động tác phức tạp như: Đánh cầu,
đập cầu. Khi người tập thực hiện các động tác kĩ thuật trong thi đấu cầu lông
hầu như có sự tham gia của tất cả các nhóm cơ để tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Sức mạnh cơ và sức mạnh căng cơ phụ thuộc vào yếu tố chủ quan như: Khả
năng của sức mạnh, khéo léo, linh hoạt; yếu tố khách quan như sức cản của
không khí.
sử dụng sức mạnh tối đa có thể dành điểm trực tiếp hoặc làm cho đối tượng
lúng túng, bị động dễ tạo ra cơ hội dành điểm. Trong cầu lông sức mạnh tốc
độ được thể hiện trong các đường cầu tấn công như quả đập cầu, các đường
cầu cao sâu. Đặc biệt được thể hiện các đường di chuyển bật nhảy đập cầu,
các động tác bật nhảy đánh cầu liên tục trên cao.
Theo công thức: F = m.a
Ta thấy sức mạnh ở đây chủ yếu phụ thuộc vào m (khối lượng vật thể
bị động) và a là (gia tốc động tác). Như vậy thì nguyên lí trên để tăng sức
mạnh đánh cầu bằng hai cách:
+ Tăng vật di động (tăng sức mạnh).
+ Tăng độ co duỗi cơ (tốc độ động tác).
Song do đặc điểm cầu lông (luật quy định), đó là trọng lượng vợt, cầu
không thay đổi (m không thay đổi). Như vậy để tăng sức mạnh đánh cầu chủ
yếu phụ thuộc vào gia tốc động tác. Biên độ lớn hay nhỏ, gia tốc nhanh hay
25
chậm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đường bay và sức mạnh của cầu. Muốn có
sức mạnh phải tăng nhanh sức mạnh vung tay, ra sức cuối cùng, sử dụng chủ
yếu bằng nỗ lực cổ tay để tạo ra một lực bột phát lớn.
Từ những cơ sở lí luận trên cho chúng ta thấy được sức mạnh có vai trò
và ý nghĩa hết sức quan trọng trong cầu lông.
Chương 2
Nhiệm vụ - phương pháp - tổ chức nghiên cứu