Kinh nghiemm huong dan giai toan chuyen dong lop 5 - Pdf 31

Kinh nghiệm

hớng dẫn học sinh giảI toán chuển động

Tác giả: Đinh Thị Nhàn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trờng Tiểu học A Thọ Nghiệp
Đơn vị áp dụng kinh nghiệm: Trờng Tiểu học A Thọ Nghiệp
PHầN Thứ nhất
Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

I. ý nghĩa, tầm quan trọng:
- Việc giải toán nói chung và giải toán chuyển động nói riêng giúp học sinh
củng cố vận dụng và hiểu sâu sắc các kiến thức về số học, đo lờng, các yếu tố đại
số, các yếu tố hình học trong môn Toán ở Tiểu học.
- Thông qua nội dung thực tế nhiều hình, nhiều vẻ của các đề toán, học sinh
sẽ đợc cập nhật thêm những kiến thức phong phú của cuộc sống và có điều kiện
để rèn luyện khả năng áp dụng những kiến thức toán học vào cuộc sống, làm tốt
điều căn dặn của Bác Hồ: Học đi đôi với hành .
- Việc giải toán nói chung và giải toán chuyển động nói riêng giúp học sinh
phát triển trí thông minh, óc sáng tạo, thói quen làm việc khoa học, biết tập trung
vào cái bản chất của đề toán, biết gạt bỏ những cái thứ yếu, biết tìm ra đờng dây
liên hệ giữa các số liệu.
- Việc giải toán đòi hỏi học sinh phải biết tự mình xem xét vấn đề, tự mình
thực hiện các phép tính và kiểm tra kết quả... do đó, giải toán là một cách rất tốt
để rèn tính kiên trì, tự lực vợt khó, yêu thích tính chặt chẽ chính xác.
II. Lí do chọn đề tài:
- Ngày nay để có thể sống hoà nhập với cộng đồng, con ngời thực sự cần có
kỹ năng phân tích, tổng hợp, suy luận và phán đoán nhanh nhạy, chính xác bởi
vậy việc dạy toán cho học sinh nói chung và dạy toán về chuyển động cho học
sinh nói riêng là vô cùng quan trọng và cần thiết.

- Khả năng trình bày giải thích cha logic, cha chặt chẽ.
- Thờng thì khi tìm đợc một cách giải là học sinh đã thoả mãn, ít chịu tìm
tòi các cách khác.
II. Nội dung, biện pháp tiến hành:
Ví dụ 1: Hai ô tô bắt đầu đi cùng một lúc. Một xe đi từ A đến B với vận tốc
42km/giờ, một xe đi ngợc chiều từ B về A với vận tốc 40 km/giờ. Hai ô tô gặp
nhau sau khi đi đợc 3 giờ. Tính quãng đờng AB.
Tôi đã tiến hành nh sau:
Bớc 1: Học sinh đọc kĩ đề, xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm.
Hớng sự tập trung suy nghĩ vào những từ nh: Bắt đầu đi cùng một lúc , đi
ngợc chiều , gặp nhau sau khi đi đợc 3 giờ .
- ở đây khi khai thác dữ kiện: Hai ô tô bắt đầu đi cùng một lúc và gặp
nhau sau khi đi đợc 3 giờ. Học sinh phải thấy đợc từ lúc xuất phát đến lúc gặp
nhau, mỗi xe đều đã đi đợc 3 giờ. Kết hợp với dữ kiện: hai xe đi ngợc chiều
nhau. Học sinh phải hiểu đợc: đến lúc gặp nhau thì tổng quãng đờng mà hai xe
đã đi đợc (trong 3 giờ) chính là quãng đờng AB.
Bớc 2: Học sinh tóm tắt bài toán:
40km/giờ
42km/giờ
M
A
B
? km
Đặt M là điểm hai xe gặp nhau.
Bớc 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải .
Dựa vào bớc 1, bớc 2 học sinh có thể phân tích bài toán nh sau:
- Xác định yêu cầu: Bài yêu cầu tìm gì? (quãng đờng AB)
- Dựa vào bớc1: Quãng đờng AB chính bằng tổng quãng đờng mà hai xe đã
đi đợc trong 3 giờ, học sinh suy luận tiếp: Để biết đợc quãng đờng hai xe đi đợc
trong 3 giờ cần biết điều gì? (biết quãng đờng 2 xe đi đợc trong một giờ, tức tổng

chuyển động ngợc chiều nhau nhng thời gian xuất phát phải cùng nhau thì việc
giải bài toán trở nên dễ dàng. Học sinh sẽ giải bài toán nh sau:
Thời gian ngời thứ nhất đi trớc ngời thứ hai là:
7 giờ - 6 giờ = 1 giờ
Quãng đờng trong 1 giờ ngời thứ nhất đi đợc là:
30 x 1 = 30 (km)
Khi ngời thứ hai xuất phát thì ngời thứ nhất cách B là:
186 - 30 = 156 (km)
Tổng vận tốc của hai xe là:
30 + 35 = 65 (km/giờ)
Thời gian đi để hai ngời gặp nhau là:
2
156 : 65 = 2 (giờ) = 2 giờ 24 phút
5
Vậy hai ngời gặp nhau lúc:
7 giờ + 2 giờ 24 phút = 9 giờ 24 phút .
Chỗ hai ngời gặp nhau cách A là:
2
30 + 2 x 30 = 102 (km) .
5
Đáp số : 9 giờ 24 phút .
102 km.
- Khai thác bài toán: Qua bài toán này học sinh cần biết chỗ hai ngời gặp
nhau cách A là102 km, chính là quãng đờng đi đợc của ngời đi từ A.
Ví dụ 3: Một ngời đi bộ từ B với vận tốc 5 km/giờ, một ngời đi xe đạp từ A
cách B 18 km với vận tốc 14 km/giờ đuổi theo ngời đi bộ. Hai ngời bắt đầu đi
cùng một lúc. Hỏi sau mấy giờ thì ngời đi xe đạp đuổi kịp ngời đi bộ?
Cách tiến hành bài này nh sau:
3


thì: Thời gian đuổi kịp nhau = khoảng cách ban đầu : hiệu vận tốc
- Từ bài toán này tôi cho học sinh đọc các bài toán tơng tự khác và giải.
Ví dụ 4: Lúc 7 giờ một ô tô chở hàng đi từ A với vận tốc 40km/giờ. Đến 10
giờ một ô tô du lịch cũng đi từ A với vận tốc 60km/giờ và đi cùng chiều với ô tô
chở hàng. Hỏi đến mấy giờ thì ô tô du lịch đuổi kịp ô tô chở hàng?
- Tôi đã yêu cầu học sinh tiến hành các bớc tơng tự nh ở ví dụ 3:
- ở bớc phân tích đề toán để tìm cách giải, tôi cho học sinh nhận xét: Bài
này có gì giống với những dạng toán chuyển động đã giải? (có 2 động tử chuyển
động cùng chiều). Bài này khác với những bài toán chuyển động đã giải ở chỗ
nào? (không xuất phát cùng một lúc ở hai địa điểm khác nhau (nh ví dụ 3) mà lại
xuất phát cùng một địa điểm nhng ở 2 thời điểm khác nhau).
- Đến đây học sinh có thể hiểu bài toán nh sau: Lúc 10 giờ 2 xe bắt đầu
cùng đi, xe du lịch xuất phát từ A còn xe chở hàng xuất phát từ B (cách A một
đoạn bằng quãng đờng mà xe chở hàng đã đi trớc xe du lịch) và 2 xe đi cùng
chiều với nhau:
10 giờ
10 giờ
A
B
Xe du lịch
Xe chở hàng
4


- Đến đây bài toán đã đợc đa về dạng nh ở ví dụ 3.
- Học sinh giải bài toán nh sau:
Thời gian ô tô chở hàng đi trớc ô tô du lịch:
10 giờ 7 giờ = 3 giờ
Khi ô tô du lịch bắt đầu đi thì ô tô chở hàng đã đi đợc quãng đờng:
40 x 3 = 120 (km)

1=
( vòng/giờ)
12
12
Thời gian để hai kim ấy lại trùng nhau lần nữa là:
11
1
1:
= 1 (giờ)
12
11
Đáp số: 1

1
(giờ)
11

Khai thác bài toán: Qua ví dụ này học sinh thấy khi phân tích một bài toán
cần có thói quen tự hỏi mình xem:
- Loại toán này đã gặp lần nào cha?
- Có bài nào đã giải có nét giống với bài toán mới này không?
- Nếu câu trả lời là có thì công việc tiếp theo là từ bài toán cũ cố gắng liên
hệ để suy ra cách giải bài toán mới.
5


Phần thứ ba

Kết luận và kiến nghị


Ngời thực hiện

Đinh Thị Nhàn

6




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status