Nguồn lực phát triển kinh tế xã hội tỉnh điện biên - Pdf 31

Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

1. Nguồn lực thiên nhiên.
1.1. Vị trí địa lý.
Điện Biên là tỉnh được tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía nam sông Đà.
Địa hình Điện Biên có nhiều dãy núi chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam.
Lòng chảo Mường Thanh ở Điện Biên lớn nhất vùng Tây Bắc.

Page3

Điện Biên là một tỉnh nằm trong tọa
độ từ 102°01’ đến 103°01’ kinh độ Đông
và từ 20°54’ đến 22°33' vĩ độ Bắc. Tổng
diện tích tự nhiên toàn tỉnh hiện nay là
9.554.097 km2. Nằm ở vùng Tây Bắc,
cách thủ đô Hà Nội gần 504km về phía
Tây, miền Bắc Việt Nam.
Điện Biên nơi “gà gáy ba nước đều
nghe tiếng” phía Bắc giáp tỉnh Lai Châu,
phía Đông và Đông bắc giáp tỉnh Sơn
La, phía Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam –
Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp
với huyện Phongsaly và Luangprabang
nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào.
Đây là tỉnh duy nhất của Việt Nam có
chung đường biên giới với 2 quốc gia
Trung Quốc (chiều dài đường biên giới
38,5km) và Lào (chiều dài đường biên giới
360km). Địa hình chủ yếu là rừng, núi cao
và dốc, xen với nhiều thung lũng hẹp,
những cao nguyên nhỏ, sông suối.

Điện Biên có tổng diện tích tự nhiên là 955.409ha. Trong đó hầu hết đất đai có
độ dốc lớn, tầng canh tác mỏng. Hơn 70% quỹ đất của tỉnh có độ dốc trên 250, chỉ
thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, trồng và tái sinh rừng. Diện tích có độ dốc từ
15 - 250 chiếm 25%. Đất có độ dốc dưới 150 chỉ chiếm 4% quỹ đất của tỉnh, trong
đó khoảng 75% có tầng dày trên 50 cm.


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

- Quỹ đất thích hợp cho gieo trồng lúa nước chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng diện
tích tự nhiên, bao gồm các loại đất phân bố ở độ dốc dưới 80; chủ yếu là nhóm đất
phù sa.
- Quỹ đất thích hợp cho cây ngắn ngày khác (lúa nương, hoa màu, cây công
nghiệp ngắn ngày...) chiếm khoảng 1,6% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm các loại
đất có độ dốc 8 - 150, tầng dày trờn 70cm, chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng.
- Quỹ đất thích hợp cho phát triển cây dài ngày theo phương thức nông lâm kết
hợp chiếm khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên; gồm các loại đất phân bố ở độ dốc
dưới 150, tầng dày từ 50 - 70cm và ở độ dốc từ 15 - 250, tầng đất dày trên 70cm.
Chủ yếu là nhóm đất feralit đỏ vàng.
- Quỹ đất dành cho phát triển lâm nghiệp chiếm khoảng 75% tổng diện tích tự
nhiên, bao gồm các loại đất nằm ở độ dốc trên 250 và một phần đất ở độ dốc dưới
250 nhưng có tầng đất dày mỏng, chỉ dưới 50 cm.
Diện tích đất đang sử dụng vào sản xuất nông, lâm nghiệp của Điện Biên có
479.817ha, chiếm 50,2% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó đất sử dụng vào sản
xuất nông nghiệp là 111.749ha, chiếm 11,6% diện tích tự nhiên; đất sử dụng vào
sản xuất lâm nghiệp là 367.398 ha, chiếm 38,5% và mặt nước nuôi trồng thủy sản
là 670ha, chiếm 0,07% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đất chưa sử dụng của Điện Biên cũng rất lớn, tới 466.245ha, chiếm 48,8% tổng
diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là đất dốc chỉ có khả năng phát triển lâm
nghiệp.

diện tích lưu vực là 1.650 km2 với
các nhánh chính là sông Nậm Rốm,
Nậm Núa. Sông Nậm Rốm bắt
nguồn từ Bắc huyện Điện Biên qua
Sông Nậm Rốm ở tp.Điện Biên Phủ
thành phố Điện Biên Phủ - Pa Thơm
(huyện Điện Biên) rồi chảy sang Lào. Sông Nậm Núa bắt nguồn từ Mường Nhà
chảy theo hướng Nam - Bắc sau đó chuyển sang hướng Đông - Tây và gặp sông
Nậm Rốm ở lòng chảo Điện Biên rồi chảy sang Lào.
Đặc điểm chung của các sông suối trong tỉnh là có độ dốc lớn, lắm thác nhiều
ghềnh, nhất là các sông suối thuộc hệ thống sông Đà và sông Nậm Rốm. Chất
lượng nước tương đối cao, ít bị ô nhiễm.
Sông suối ở Điện Biên dốc, lắm thác nhiều ghềnh, có lượng dòng chảy lớn.
Lượng dòng chảy giảm dần từ phía Bắc đến phía Nam của tỉnh. Các huyện Mường
Chà và phía bắc Tuần Giáo có một dòng chảy từ 30 đến 40 l/s/km2; huyện Điện
Biên và phía nam Tuần Giáo chỉ còn 20 l/s/km2.
Sông suối ở Điện Biên nhiều, nguồn nước tương đối dồi dào. Tuy nhiên, do cấu
tạo địa chất cộng với địa hình cao, dốc nên khả năng giữ nước vào mùa khô rất
khó.
Nguồn nước ngầm của tỉnh Điện Biên được tập trung chủ yếu ở các thung lũng
lớn như Điện Biên, Tuần Giáo. Các thung lũng này có trữ lượng nước ngầm khá
lớn và hình thành túi đựng nước ở độ sâu từ 20 đến 200 m.
* Về tiềm năng thủy điện: Do nằm ở vùng núi cao, nhiều sông suối, lắm thác
ghềnh, lưu lượng dòng chảy mạnh... nên tỉnh Điện Biên có tiềm năng thuỷ điện rất
phong phú và đa dạng về quy mô. Theo khảo sát sơ bộ, tại Điện Biên có nhiều
điểm có khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện, trong đó đáng chú ý là các điểm:
Thuỷ điện Mùn Chung trên suối Nậm Pay, thuỷ điện Mường Pồn trên suối Nậm
Ty, thuỷ điện Nậm Mức trên sông Nậm Mức, thuỷ điện Nậm He trên suối Nậm He,
thuỷ điện Nậm Pồ, trên suối Nậm Pồ, hệ thống thuỷ điện trên sông Nậm Rốm, Nậm
Khẩu Hu...

- Sắt có phân bố rải rác ở các huyện Điện Biên, Tuần Giáo và Mường Chà với
quy mô nhỏ, chỉ ở mức điểm quặng và chưa xác định được trữ lượng.
- Chì - kẽm phân bố tập trung quanh huyện Điện Biên, Điện Biên Đông, Tủa
Chùa và thành phố Điện Biên Phủ. hiện nay có điểm quặng chì kẽm ở khu vực
Tuần Giáo đang hoạt động.
- Đồng qua khảo sát sơ bộ phát hiện mỏ đồng ở khu vực Chà Tở huyện Mường
Chà với trữ lượng khá lơn nhưng chưa được thăm dò đánh giá cụ thể.
- Nhôm và nhôm - sắt có triển vọng ở xã Phình Sáng huyện Tuần Giáo với trữ
lượng cấp P khoảng 40 - 50 triệu tấn.
2. Nguồn lực kinh tế - xã hội.

Page3

2.1. Dân cư – nguồn lực lao động.
Điện Biên Phủ có số dân khoảng
491.046 người (năm 2008). Trong đó tỉ
lệ dân cư sống ở thành thị là 96,55%, tỉ
lệ dân cư sống ở nông thôn là 3,45%.
Mật độ dân số 54 người/km². Cư dân
sống ở đây không chỉ có người
Kinh (~20%) mà còn có một số đông
là người Thái (~38%), người H'Mông
(~30%) , người Si La... Các dân tộc
thiểu số chiếm 1/3 dân số của thành
phố. Điện Biên Phủ cũng là thành phố
có dân số thấp nhất nước.


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3


Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Trung ương quản lý
Địa phương quản lý
Công nghiệp và xây dựng
Trung ương quản lý
Địa phương quản lý
Dịch vụ
Trung ương quản lý
Địa phương quản lý
6. Số lượt người được sắp xếp việc
làm:
Làm công viêc ổn định
Trong đó: Xuất khẩu lao động
7. Tỷ lệ LĐ thất nghiệp ở khu vực thành
thị
8. Tỷ lệ sử dụng thời gian LĐ ở KV nông
thôn
9. Tỷ lệ sinh thô của dân số
10. Tỷ lệ chết thô của dân số
11. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

Người
Người
Người
Người
Người
,,
,,
Người
"

468.282

477.371

101,94

225.914
224.024

235.256
233.026

239.907
237.464

101,98
101,90

75.700
374.238
449.938
47.057
13.986
46.072
37.036
43.446
107.278
103.937
51.126


97,80
102,45
103,16
101,69
102,40
102,37
101,12
102,04

279.885

102,06

Năm
B/c so
với năm
trước

Người

342.707

274.012

274.230

Người

237.021



192.947
191.929
1.018
14.211
6.025
8.186
29.863
21.321
528
0
690
3.202
718
2.484
17.591
1.767
15.824

194.548
193.472
1.076
15.192
6.632
8.560
32.908
22.408
426
0
426

9.213
44.632
26.911
300
0
300
2.172
752
1.420
24.439
2.728
21.711

100,14
100,13
102,50
101,97
101,93
101,99
111,86
107,58
104,17
104,17
99,72
102,59
98,27
108,39
105,94
108,70


%

5,0

5,1

4,6

4,5

-0,10

%

75,0

74,0

80,0

82,0

2,00




26,3
6,6


Đơn vị
tính

Thực
hiện
năm
2004


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

2.2. Cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng của địa phương.

Tỉnh Điện Biên nơi vừa có núi non hùng vĩ, vừa có cánh đồng rộng thẳng cánh
cò bay, cảnh yêu, người mếm có di tích lịch sử Điện Biên Phủ, khu chỉ huy chiến
dịch Mường Phăng…là tài sản vô cùng quý giá để khai thác phát triển du lịch và
nghiên cứu lịch sử, bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều điểm du lịch hấp dẫn như: hồ Pa
Khoang, suối khoáng nóng Hua Pe, hồ U Va, thác Mường Luân, thành Bản Phủ…
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 18 dân tộc anh em sinh sống với những nét văn
hoá đặc trưng riêng, gồm cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, rất thích hợp để
phát triển du lịch văn hoá.
Vì vậy, tỉnh Điện Biên rất chú trọng phát triển du lịch các di tích lịch sử:

Tượng đài chiến thắng Điện Biên Phủ

Page3

Hầm Đờ-Cát-Tơ-Ri



Đặc sản rượu sâu chít

Page3

Đền Hoàng Công Chất


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

Xôi nếp nương

Thịt trâu xông khói

Để phục vụ cho phát triển thăm quan du lịch. Tỉnh Điện Biên cũng chú trọng
xây dựng các dịch vụ đời sống cho du khách:

Phương tiện giao thông

Page3

Trung tâm mua sắm


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

Khách sạn, nhà hàng
2.3. Đường lối phát triển kinh tế xã hội của Điện Biên
Để kinh tế xã hội Điện Biên phát triển hơn nữa, vận dụng sáng tạo, linh hoạt
đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương, với phương châm:"Phát
triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt". Tỉnh Điện Biên tập trung

Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

trên 100% số học sinh phổ thông được hướng nghiệp dạy nghề tại các trung tâm
vào năm 2020.
Hoàn thiện mạng lưới y tế từ tỉnh đến xã, bản. Đến năm 2020, đạt 10 bác
sĩ/1vạn dân, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 10% và
100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.
Đến năm 2015, toàn bộ hệ thống đường tỉnh, huyện và đường đến trung tâm xã,
cụm xã được rải nhựa hoặc bê tông: trên 50% số thôn bản có đường ô tô, 100% dân
số được dùng điện, 100% dân số được xem truyền hình. Đến năm 2020, trên 95%
số thôn bản có đường ô tô đi lại được cả 2 mùa.
 bảo vệ môi trường:
Nâng tỷ lệ che phủ của rừng năm 2020 nhằm bảo đảm chức năng phòng hộ đầu
nguồn và đóng góp lớn vào nền kinh tế.
Đến năm 2013, tất cả các đô thị trong tỉnh có công trình thu gom và xử lý chất
thải tập trung; 60% dân số đô thị được cấp nước sinh hoạt sạch và 80% dân số nông
thôn được cấp nước sinh hoạt, khoảng 70% số hộ nông thôn có công trình vệ sinh
hợp quy cách. Đến năm 2020, 100% dân số đô thị được cấp nước sinh hoạt sạch và
100% dân số nông thôn được cấp nước sinh hoạt, trong đó trên 80% được cấp nước
sạch; 100% số hộ nông thôn có công trình vệ sinh hợp quy cách.
3. Kết luận chung.
 Thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội tại Điện Biên
Điện Biên có lợi thế lớn về tiềm năng đất đai, đặc biệt là diện tích đất chưa sử
dụng còn rất lớn (trên 500.000 ha, chiếm 55% tổng diện tích tự nhiên). Đây chính
là tiềm năng lợi thế lớn để tỉnh đầu tư phát triển lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp,
chăn nuôi đại gia súc… Ngoài ra cánh đồng Điện Biên rộng lớn với đất đai màu
mỡ, được coi là vựa lúa của vùng Tây Bắc, nếu được đầu tư thoả đáng và áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật thì sẽ trở thành nơi sản xuất lúa gạo chất lượng cao của
cả nước để xuất khẩu. Tại các vùng Mường Nhé, Si Pa Thìn, Điện Biên có rất
nhiều thuận lợi để tập trung phát triển chăn nuôi các loại gia súc theo hướng kinh tế

thống cùng với quần thể di tích lịch sử và các danh thắng hấp dẫn thì du lịch cộng
đồng của Điện Biên vẫn chưa phát triển xứng tầm.
Cả tỉnh hiện có 8 bản văn hóa du lịch thì lại tập trung hầu hết ở khu vực lòng
chảo Điện Biên nên đã hạn chế sự lựa chọn tìm hiểu, trải nghiệm, khám phá của du
khách; sản phẩm lưu niệm nghèo nàn, đơn điệu, bản sắc văn hóa truyền thống các
dân tộc có chiều hướng mai một...


Ngô Yến Ngọc – ĐH2QĐ3

Nguồn:

Page3




/> /> /> />



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status