TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CSII)
KHOA QUẢN LÝ LAO ĐỘNG
TIỂU LUẬN HẾT MÔN
TỔNG QUAN QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
ĐỀ TÀI:
Giải pháp nâng cao khả năng tự nghiên cứu của sinh viên
ngành Quản trị nhân lực trường đại học Lao động – Xã hội
(CSII)
GVHD:
SVTH:
Lớp:
Mã SV:
STT:
Th.s Phùng Tín Trung
Võ Thị Quyên
Đ13NL1
1313404041057
66
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 09 năm 2015
MỤC LỤC
1.1. Lý do chọn đề tài
trạng và đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp sinh viên ngành Quản trị nhân lực trường đại
học Lao động - Xã hội (CSII) có được một phương học tập, nghiên cứu hiệu quả.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
3
Đề tài đi làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề khả năng tự nghiên cứu, tìm
hiểu thực trạng tự nghiên cứu của sinh viên ngành Quản trị nhân lực trường đại học Lao
động - Xã hội (CSII). Đưa ra một số khuyến nghị để sinh viên ngành Quản trị nhân lực
trường đại học Lao động - Xã hội (CSII) nắm vững phương pháp tự nghiên cứu đúng đắn
và áp dụng có hiệu quả.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Khoa Quản lý lao động trường đại học Lao động – Xã hội (CSII).
- Phạm vi thời gian: tháng 09/2015
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng khă năng tự nghiên cứu của sinh viên ngành Quản
trị nhân lực trường đại học Lao động – Xã hội (CSII) và đưa ra một số khuyến nghị.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu: Tổng quan các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, phân tích,
tập hợp, xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu về vấn đề khả năng tự nghiên cứu của
sinh viên.
- Điều tra bảng hỏi: Khảo sát 200 sinh viên khoa Quản lý lao động trong đó 60 sinh
viên K12, 80 sinh viên K13 và 60 sinh viên K14.
- Phân tích số liệu từ điều tra bảng hỏi.
1.5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài góp phần làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề tự nghiên cứu của
sinh viên, giúp sinh viên định hình được phương pháp học tập đúng đắn mà trong đó
phương pháp tự nghiên cứu là quan trong nhất. Đề tài nói lên được thực trạng khả năng tự
nghiên cứu của sinh viên ngành Quản trị nhân lực trường đại học Lao động – Xã hội (CSII)
và đưa ra một số khuyến nghị thực tiễn để sinh viên thực hiện việc tự nghiên cứu tốt hơn.
chức: “Động lực của con người là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm
việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” (Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy
Hương, 2011).
2.1.2. Vai trò của việc tự nghiên cứu
Ở trung học phổ thông, học sinh chỉ cần vững kiến thức thầy cô dạy trên lớp và làm
bài tập được giao, giáo viên liên tục có những bài kiểm tra, đánh giá dành cho học sinh. Tuy
nhiên khi học lên đại học thì yêu cầu hoạt động học tập của sinh viên đã khác hẳn, với môi
trường tự do không bị gia đình quản lý chặt chẽ như trước, sinh viên có xu hướng lơ là việc
học. Để nâng cao kết quả học tập của sinh viên có rất nhiều phương pháp như chú ý nghe
giảng; đặt nhiều câu hỏi cho giảng viên và cùng nhau giải quyết; giải quyết các bài tập, vấn
đề ngay trên giảng đường; tự nghiên cứu bài trước... Trong đó tự nghiên cứu là phương pháp,
cách thức cơ bản mà sinh viên phải thực hiện thường xuyên. Đối với sinh viên đại học, tự
nghiên cứu là phương pháp học tập vô cùng quan trọng. Giảng viên đóng vai trò là người
6
hướng dẫn, cung cấp tài liệu, hướng dẫn đề tài, sinh viên phải tự biết cách sắp xếp thời gian
và trình tự nghiên cứu những kiến thức cơ bản và mở rộng tìm hiểu những vấn đề liên quan.
Thêm vào đó, không còn sự giám sát gắt gao của giảng viên, sinh viên phải tự nỗ lực để có
thể đạt hiệu quả cao trong kì thi kết thúc môn học.
Tự nghiên cứu giúp sinh viên nâng cao năng lực tư duy, tìm tòi khám phá ra những
vấn đề mới, nó giúp sinh viên hiểu rõ bản chất của vấn đề một cách sâu sắc nhất, một người
sinh viên tuy có đầy đủ mọi điều kiện để học tập (người thầy giỏi, tài liệu hay, điều kiện học
tập tốt…) vẫn không thể thành công được nếu như không tự mình đào sâu suy nghĩ. Việc tự
nghiên cứu mang lại cho sinh viên:
-
Phát triển tính tự giác, tích cực và tính độc lập nhận thức, khắc phục tính thụ động, ỷ lại vào
-
tiêu cực gọi là Thuyết X và một quan điểm tích cực cơ bản gọi là Thuyết Y. Sau khi quan sát
các nhà quản lý cư xử với nhân viên của mình, Douglas McGregor kết luận rằng quan điểm
của một nhà quản lý về bản chất con người dựa vào một nhóm các giả thuyết nhất định và
nhà quản lý đó thường có những biện pháp quản lý của mình cho cấp dưới tương ứng theo
những giả thuyết đó.
Theo thuyết X, các nhà quản lý thường có bốn giả thuyết sau đây:
-
Nhìn chung, con người không muốn làm việc, lười biếng, máy móc và vô tổ chức.
Chỉ thích vật chất, cái họ làm không quan trọng bằng cái họ kiếm được.
Chỉ làm việc cầm chừng khi bị bắt phải làm việc, luôn né tránh công việc, không thích những
công việc đòi hỏi tính sáng tạo hay sáng kiến, tự quản và tự kiểm.
Theo thuyết Y, các nhà quản lý thường có bốn giả thuyết trái ngược nhau như sau:
-
Con người muốn được nhìn nhận, muốn cảm thấy mình có ích, muốn khẳng định mình.
Con người có những khả năng tiềm ẩn, biết sáng tạo và làm việc tốt.
Khi được quan tâm khích lệ họ thường tích cực làm việc, muốn tham gia vào các công việc
chung, chia sẻ trách nhiệm và có tinh thần trách nhiệm.
Thuyết X cho rằng các nhu cầu có thứ bậc thấp hơn thường chế ngự các cá nhân.
Thuyết Y cho rằng các nhu cầu có thứ bậc cao hơn sẽ chế ngự các cá nhân. Bản thân
McGregor lại tin rằng các giả thuyết của Thuyết Y hợp lý hơn các giả thuyết của Thuyết X.
Tuy nhiên trên thực tế thì dù là Thuyết X hay Thuyết Y cũng chỉ phù hợp trong tình huống
nhất định nào đó (Lê Thanh Hà, 2009, 21-22).
Xét rằng nếu bản thân sinh viên được tôn trọng và được mọi người lắng nghe, họ sẽ
có động lực trong việc học tập. Họ luôn tìm mọi cách để hoàn thiện bản thân, hoàn thiện
phương pháp học tập, phát huy tính sáng tạo, tư duy. Còn nếu họ bị áp đặt, bắt buộc, tinh tần
làm việc không cao. Họ không được tôn trọng, không được lắng nghe dẫn đến việc họ làm
Vấn đề tự nghiên cứu là rất quan trọng
84
2
Tự nghiên cứu là hình thức học cá nhân
66
3
Giảng viên có vai trò quan trọng trong vấn đề tự nghiên cứu
58
4
Nguồn học liệu rất quan trọng
88
Hầu hết sinh viên đều nhận thức rằng vấn đề tự nghiên cứu là quan trọng (84%), tuy
nhiên việc tự nghiên cứu này đồng nghĩa với hình thức học cá nhân (66%), không phụ thuộc
vào người khác và không cần sự cộng tác của bạn bè. Sinh viên cho rằng đây là yêu cầu tối
thiểu của một sinh viên. Bên cạnh đó, 58% sinh viên cho rằng giảng viên có vai trò quan
9
trọng trong việc tự nghiên cứu của sinh viên. Giảng viên là công cụ cung cấp tri thức sống
mình bị chi phối thời gian tự nghiên cứu bởi các yếu tố: mạng xã hội, điện tử, tivi, tình cảm…
26% sinh viên bị chi phối vì thời gian tìm nguồn học liệu và 5% sinh viên có lý do khác. Các
bạn thường bị mất tập trung bởi các yếu tố môi trường, để lấy lại sự tập trung cũng mất một
khoản thời gian khiến việc tự nghiên cứu không đạt hiệu quả cao.
Đánh giá về nguồn tư liệu và sách tham khảo chuyên môn ở thư viện trường đại học
Lao Động – Xã hội (CSII), số liệu thống kê cho thấy có 53% sinh viên không rõ được nguồn
sách ở thư viện và hoàn toàn không biết có đủ hay không. Có 46% sinh viên cho rằng nguồn
tư liệu và sách chuyên môn ở thư viện còn thiếu chưa đáp ứng cho việc học tập của sinh viên.
Tuy nhiên con số thống kê này chưa nói lên được thực trạng khảo sát vì có đến 63% sinh viên
10
rất ít đến thư viện trường. Điều này phản ánh thực trạng là sinh viên không đến hoặc rất ít
đến những nơi kể trên và như thế thiếu thông tin khi trả lời các câu hỏi đề ra.
Việc đầu tư nghiên cứu để chuẩn bị cho buổi học kế tiếp thường không được quan
tâm đúng mức, có đến 53% số lượng sinh viên không có thói quen xem bài trước khi lên lớp.
Điều này nói lên sự quá tải trong quá trình học, với khối lượng kiến thức không đổi giữa hệ
niên chế và hệ tín chỉ nhưng thời gian nghiên cứu tại lớp của hệ tín chỉ bị rút ngắn hơn yêu
cầu sinh viên phải tự nghiên cứu nhiều hơn. Khi nghe giảng trên lớp có 74% số lượng sinh
viên ghi chép ý chính, chủ yếu dựa vào nội dung giáo trình hoặc bài giảng in sẵn để theo dõi.
2.2.2.2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng tự nghiên cứu của sinh viên
Các nguyên nhân chính được tổng hợp trong bảng sau:
11
Bảng 2. Nguyên nhân dẫn đến khả năng tự nghiên cứu của sinh viên
STT Nguyên nhân
Tỷ lệ(%)
6
Sinh viên chưa có ý thức tự nghiên cứu
42
Để dễ so sánh theo dõi biểu đồ sau:
Biểu đồ 2. Biểu đồ nguyên nhân dẫn đến thực trạng khả năng tự nghiên cứu của sinh
viên:
Qua các nguyên nhân đã tổng hợp qua khảo sát, tác giả phân tích rõ các nguyên nhân
sau:
-
Phương pháp học tập chưa phù hợp, thiếu kỹ năng: Khoản 2, Điều 5, Luật giáo dục 2005 đã
khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng
say mê học tập và ý chí vươn lên”. Tuy nhiên hầu hết giảng viên và sinh viên trong khoa đều
vẫn áp dụng phương pháp dạy và học theo truyền thống, chưa sử dụng rộng rãi và hiệu quả
các phương pháp thúc đẩy tư duy của sinh viên như: học nhóm, tự học, tự nghiên cứu, đặt vấn
đề... Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến sinh viên cảm thấy nhàm chán, không
chủ động linh hoạt trong học tập đồng thời cũng không phát huy được tư duy, sáng tạo của
-
sinh viên.
Điều kiện cơ sở vật chất của trường lớp chưa được tốt: Thiếu phòng học, thiếu phòng tự học,
phòng chật hẹp, nóng nực, máy chiếu cũ, mờ, loa nghe không rõ, tài liệu thư viện còn hạn
chế… Hiện tại trường chưa có phòng tự học với trang thiết bị đầy đủ. Sinh viên muốn nghiên
tài liệu chuyên môn ngoại ngữ. Do yêu cầu học tập nên đòi hỏi sinh viên phải có khả năng
ngoại ngữ để tra cứu thông tin, nghiên cứu tài liệu. Tuy nhiên, trình độ ngoại ngữ của sinh
viên còn nhiều hạn chế nên rất khó để tiếp cận với các nguồn tài liệu nước ngoài. Học phí cho
sinh viên khi đăng ký học ngoại ngữ tại trung tâm ngoại ngữ còn cao nên những sinh viên có
hoàn cảnh khó khăn không đủ điều kiện kinh tế để được học.
2.3. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tự nghiên cứu của sinh viên ngành
Quản trị nhân lực
Hiện nay, xã hội đặt ra cho giáo dục và đào tạo ngày càng khắt khe, đòi hỏi các
trường đại học không chỉ đào tạo ra nguồn nhân lực thông thạo về lý thuyết mà còn phải biết
vận dụng, ứng dụng những kiến thức đó vào thực tiễn đời sống. Để đáp ứng yêu cầu đó, các
trường đại học đã phát động đổi mới phương pháp học tập. Tuy các đội ngũ giảng viên đã
tiến hành ứng dụng nhưng chuyển biến về chất lượng trong giờ dạy chưa thật sự có kết quả
cao. Bởi sinh viên quen với việc thụ động trong việc tiếp nhận, áp đặt ngay từ bậc học sơ sở.
Trong bài giảng của giảng viên đều có phần định hướng, tổ chức nghiên cứu cho sinh viên
13
nhưng nhiều khi sinh viên chỉ thực hiện một cách sơ sài, chiếu lệ, chưa tạo được hứng thú,
niềm đam mê. Như vậy, việc tự nghiên cứu của sinh viên được đặt ra như một nhu cầu bức
thiết. Nhằm đáp ứng nhu cầu đó và với mong muốn sinh viên ngành Quản trị nhân lực trường
đại học Lao động – Xã hội (CSII) có được khả năng tự nghiên cứu tốt hơn, đạt kết quả tốt
hơn trong học tập.
2.3.1 Đối với sinh viên
•
Thay đổi nhận thức về việc học ở bậc đại học.
Sinh viên cần nhận thấy rằng môi trường học tập ở bậc đại học khác xa với môi
trường học tập ở bậc phổ thông trung học. Xác định phương pháp học tập đúng đắn và phù
hợp sẽ giúp sinh viên thấy được đích đến của mình và cố gắng hết mình để đạt được đích đến
viên khác. Các bạn cần bố trí thời gian làm việc hợp lý để đảm bảo thời gian học ở lớp cũng
như thời gian nghiên cứu ở nhà.
Sinh viên nên lập một kế hoạch học tập rõ ràng, đề ra các mục tiêu ngắn hạn và dài
hạn cần đạt được, đó là phương pháp đánh giá kết quả học tập khoa học. Khi đã lập được kế
hoạch học tập phù hợp, sinh viên có thể dựa vào bản kế họach đó để từng bước nỗ lực học
tập. Xây dựng thời gian biểu khoa học, cân bằng giữa học và giải trí góp phần tạo thói quen
và kỹ năng sống. Sau khi biết kết quả học tập, sinh viên đối chiếu mục tiêu xem xét đã hoàn
thành mục tiêu nào và còn mục tiêu nào chưa đạt được để định ra mục tiêu cho kỳ học tiếp
theo.
•
Tăng cường hoạt động theo nhóm, trao đổi thông tin, học liệu.
Đối với học tập, học theo nhóm là một cách học đòi hỏi mỗi thành viên trong nhóm
cùng thực hiện một cam kết làm việc nhất định không có sự hướng dẫn trực tiếp của giảng
viên mà dựa trên sự hợp tác và phân công công việc hợp lý trong nhóm, cùng nhau nghiên
cứu, phân tích vấn đề.
Nếu học theo nhóm được tổ chức và điều khiển một cách khoa học và hợp lý sẽ đem
lại rất nhiều lợi ích như: Làm việc theo nhóm sẽ góp phần xây dựng tinh thần đồng đội, mối
quan hệ tương tác hỗ trợ giữa các thành viên trong nhóm đồng thời tạo nên sự gắn kết trong
một cộng đồng nhằm hướng đến một mục tiêu chung. Học nhóm khuyến khích tính độc lập tự
chủ trong học tập. Nếu trong phương pháp thuyết trình cơ hội cho người học trao đổi với nhau
rất ít thì học tập theo nhóm mọi thành viên được tự do phát biểu quan điểm của mình về chủ
đề thảo luận, từ đó phát triển tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm. Học tập theo
nhóm sẽ tăng khả năng hòa nhập, có thêm tinh thần học hỏi, biết lắng nghe người khác cũng
như khả năng phản biện thông qua phần trình bày của mình và sự phản hồi của những người
xung quanh. Học tập theo nhóm sẽ tạo cơ hội cho mọi thành viên rèn luyện các kỹ năng như:
kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng thuyết trình trước đám đông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
tổ chức… Đây là những kỹ năng rất quan trọng, cần thiết cho quá trình làm việc sau này, vì
giá tài liệu đó có giúp ích cho quá trình nghiên cứu không.
Đặt câu hỏi: Ghi chú lại bất kỳ câu hỏi nào mà bạn nghĩ đến hoặc quan tâm đặc biệt sau khi
qua bước nhìn tổng quát. Có thể đọc lướt lại nếu bạn thấy có chỗ nào đáng lưu ý. Những câu
hỏi này gần như là mục tiêu nghiên cứu của bạn, việc trả lời các câu hỏi đó giúp bạn sắp xếp
-
cấu trúc trong đầu mình.
Đọc: Đọc một cách chi tiết những phần mà bạn cho là hữu ích. Hãy hiểu cặn kẽ tất cả những
vấn đề có liên quan, nên đọc chậm nếu thông tin quá nhiều và phức tạp, nên vừa đọc vừa hình
-
thành sơ đồ tư duy trong đầu.
Xem lại: Một khi bạn đã đọc các phần mà bạn thấy thích hợp trong tài liệu, hãy nghĩ đi nghĩ
lại nhiều lần về chúng, lọc ra những dữ liệu cốt lõi hay tiến trình cần thiết đằng sau chủ đề,
-
sau đó xem các thông tin khác liên quan đến chúng như thế nào.
Ghi nhớ: Khi bạn xem đi xem lại chúng nhiều lần, bạn sẽ nhớ chúng dễ dàng. Để củng cố lại,
bạn nên thảo luận cùng mọi người về vấn đề đó.
2.3.2. Đối với giảng viên
• Giảng viên cần đổi mới phương pháp dạy học.
Đi đôi với việc xây dựng đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng giáo trình
là yêu cầu đổi mới cơ bản phương pháp dạy - học. Định hướng cơ bản trong đổi mới phương
pháp giảng dạy theo học chế tín chỉ là tích cực chuyển từ lối truyền đạt kiến thức một chiều
từ phía giảng viên sang việc tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cho sinh viên, phát
huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, bồi dưỡng năng lực tự
học, tự nghiên cứu cho sinh viên.
Giáo viên nên tăng cường các hình thức dạy học nhóm, trao đổi thảo luận, đặt vấn đề
cho sinh viên giải quyết, cho sinh viên nêu lên chính kiến của mình... Điều này sẽ khiến cho
sinh viên phải nghiên cứu tài liệu, phân tích, mổ xẻ các vấn đề trên nhiều khía cạnh khác
nhau để có thể tham gia đóng góp hoặc tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình.
Để định hướng cho sinh viên vạch ra kế hoạch tự nghên cứu, giảng viên cần đề ra kế
hoạch dạy học cụ thể toàn bộ học phần hoặc từng chương, cung cấp trước bài giảng và đề
cương môn học cho sinh viên nghiên cứu để biết mình sẽ làm gì và làm như thế nào trong quá
trình học tập bộ môn. Khi bắt đầu một môn học, giảng viên cần giới thiệu tổng quan và cung
cấp đề cương, tài liệu tham khảo có liên quan đến môn học. Nội dung đề cương bao gồm:
17
Mục đích và mục tiêu của môn học, nội dung quan trọng của môn học (nên tóm gọn ý chính),
hình thức tổ chức và phương pháp dạy, hình thức kiểm tra đánh giá hoạt động, các yêu cầu
của giảng viên…
Qua đó sinh viên có thể chủ động lập kế hoạch tự học, tự nghiên cứu, chủ động thời gian
nghiên cứu ở nhà, từ đó sinh viên có thể đạt được các mục tiêu của môn học. Giảng viên và
sinh viên phải nghiêm túc thực hiện theo đúng kế hoạch trong đề cương, như vậy mới phát
huy hết tác dụng của đề cương và rèn luyện phương pháp làm việc khoa học.
•
Giảng viên cần định hướng về nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
Đây là việc làm đòi hỏi sự tập trung cao nhất của sinh viên, thế nhưng đề tài nghiên
cứu khoa học sinh viên rất ít khi tự mình đề xuất được mà phần lớn do giảng viên giao. Vì
vậy giảng viên phải lựa chọn nội dung, vấn đề và chỉ rõ mục đích, yêu cầu nghiên cứu, gợi ý
cách thức thực hiện cho sinh viên. Giảng viên phải công khai các tiêu chí đánh giá, thời hạn
hoàn thành, cung cấp tài liệu hoặc địa chỉ tài liệu tối thiểu cho sinh viên, hướng dẫn cách thức
tìm kiếm, thu thập, xử lý thông tin, kiểm soát và sẵn sàng giúp đỡ khi sinh viên gặp khó khăn
hoặc sinh viên yêu cầu. Giảng viên cũng phải có các phương án điều chỉnh khi cần thiết và
ích, khoa học cho sinh viên.
Có kế hoạch đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá học tập, bởi đây là công đoạn
quyết định chất lượng của quá trình giảng dạy và học tập. Đây là tiền đề để điều
chỉnh chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy và học tập cũng như ra quyết định về
-
kết quả học tập của sinh viên.
Có kế hoạch xây dựng chương trình chi tiết môn học để xây dựng chương trình và
tổ chức đào tạo, để thanh kiểm tra chất lượng giảng dạy của giảng viên và chất
lượng học tập của sinh viên, đây là công cụ để đảm bảo chất lượng đào tạo, bố trí
-
thời khóa biểu học tập, thi cử hợp lý đủ thời gian cho sinh viên ôn tập, nghiên cứu.
Nhà trường cần có chế tài quản lý theo hướng khuyến khích giảng viên đổi mới
phương pháp giảng dạy, thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực sư phạm cho lực
lượng giảng viên thông qua bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ và học tập kinh nghiệm
trong và ngoài nước.
Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét các điều kiện phục vụ hoạt động
học tập, các nhà quản lý cũng cần quan tâm tới các điều kiện phục vụ, thái độ phục vụ sinh
viên của các bộ phận chuyên trách, các chính sách hỗ trợ của nhà trường để tạo cho sinh
viên một môi trường học tập tốt nhất. Lực lượng cán bộ quản lý đóng vai trò quan trọng
trong tiến trình đào tạo theo phương thức tín chỉ. Ngoài việc nắm rõ mục tiêu và nội dung
chương trình đào tạo, còn phải nắm vững phương pháp dạy và phương pháp học nhằm phục
vụ cho công tác tổ chức và quản lý đào tạo ngày một hiệu quả hơn.
Vai trò của nhà quản lý khá quan trọng trong công tác tổ chức cho việc dạy và học,
chính vì thế cần phải tổ chức định kỳ các cuộc hội thảo về phương pháp giảng dạy cho giảng
cận vấn đề, phương pháp nghiên cứu phù hợp, giới thiệu nguồn tài liệu tham khảo,
đánh giá các hoạt động nghiên cứu của sinh viên. Nhà trường tạo các cuộc thi học
thuật, chuyên đề nghiên cứu, hỗ trợ cơ sở vật chất như phòng máy tính công, nguồn
học liệu, phòng tự học…
Cuộc sống luôn đặt ra trước mỗi con người những thách thức mới - những thử thách
để con người trưởng thành và khẳng định mình trong cuộc sống chỉ khi chúng ta nhìn nhận
về vấn đề này một cách đúng đắn, và có những hành động thiết thực thì mới mong được sự
thay đổi nào đó. Chúng ta nên chấp nhận phải trả giá một cái gì đó để mong một sự thay đổi
tốt đẹp hơn là điều cần thiết để không bị những sai lầm đáng tiếc trong nền giáo dục hiện
đại. Việc thay đổi nhận thức về khả năng nghiên cứu hay lao động của xã hội nói chung và
sinh viên nói riêng góp phần vào sự phát triển mạnh và bền vững của toàn xã hội. Chính vì
vậy, tác giả cho rằng, các cấp, ngành cần quan tâm một cách đúng mức đến công tác giáo
dục tư tưởng, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên. Tác giả hy vọng những suy nghĩ,
những vấn đề mà tác giả nêu trên có thể tác động một phần nào đó đến việc thay đổi nhận
thức học tập đúng đắn của sinh viên để từ đó xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh,
phát triển cùng với hệ thống giáo dục trên thế giới.
20
PHẦN 3: THAM KHẢO
3.1. Tài liệu tham khảo
1. Lê Thanh Hà, 2009. Quản trị nhân lực tập I. Hà Nội: NXB: Lao động – Xã hội.
2. Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương, 2011. Hành vi tổ chức. NXB: Đại học Kinh tế
quốc dân.
3. Bộ luật Giáo dục, 2005, khoản 2, điều 5.
4. Nghị quyết Trung ương 2, Luật Giáo dục, 2005.
5. Phương pháp đọc nhanh SQ3R. <http://www.studygs.net/vietnamese/texred2.htm>.
[Ngày truy cập: 17 tháng 9 năm 2015].
6. Khó khăn của sinh viên khi tham gia nghiên cứu khoa học.
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
Theo anh/chị, tự nghiên cứu là hình thức học cá nhân:
1) Không
8.
2) Tín chỉ
Anh/chị đã nghiên cứu khoa học lần nào chưa:
1) Không
7.
4) Tư
Anh/chị thấy khả năng tự nghiên cứu của bản thân ở mức độ nào:
9.
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
Giảng viên hướng dẫn anh chị nghiên cứu như thế nào:
1) Không
2) Một ít
3) Nhiều
22
4) Rất nhiều
10.
Nguồn học liệu quan trọng thế nào trong việc nghiên cứu:
1) Không
11.
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
Lý do:
……………………………………………………………………………………….
14.
Anh/chị có xem bài trước khi lên lớp không:
1) Không
15.
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
2) Một ít
3) Nhiều
Anh/chị có thường xuyên ghi chép bài trên lớp không:
1) Không
16.
2) Một ít
2) Một ít
3) Nhiều
4) Rất nhiều
Theo anh/chị lý do nào làm hạn chế khả năng tự nghiên cứu của sinh viên ( anh/chị có
thể chọn nhiều hơn một đáp án)
1)
2)
3)
4)
Cơ sở vật chất không đáp ứng.
Sinh viên không có phương pháp, hỹ năng nghiên cứu.
Hướng dẫn của giảng viên.
Sinh viên chưa có ý thức tự nghiên cứu.
23
2
3
4
1
46
154
2
0
60
80
60
3
60
140
4
68
23
78
31
8
84
26
47
43
9
12
38
72
78
10
64
31
77
28
14
106
57
29
8
15
52
28
88
32
16
92
46
36
26
20
88
72
104
136
5
6
Câu hỏi
25
4
78