Tìm hiểu nội dungcủa chế độ khoán chi hành chính và khả năng áp dựng phương thức này ở Bộ tưpháp trong giai đoạn hiện nay - Pdf 31

Mục lục
Trang
Lời mở đầu

2

Nội dung

2

I.

Chế độ khoán chi hành chính

2

1. Nguồn gốc của chế độ khoán chi hành chính

2

2. Khái niệm

3

3. Nội dung

4

4. Ưu, nhược điểm

6

pháp trong giai đoạn hiện nay”

NỘI DUNG
I.

Chế độ khoán chi hành chính

1 )Nguồn gốc chế độ khoán chi hành chính
Có nhiều phương thức quản lý chi ngân sách Nhà nước nhưng phổ biến hiện
nay là phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào và phương thức quản lý
ngân sách theo kết quả đầu ra.
Phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào:
Những năm đầu thế kỷ XX, mô hình quản lý ngân sách ở các nước trên thế
giới chủ yếu sử dụng mô hình quản lý theo yếu tố đầu vào. Theo phương thức
này, mỗi cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước hoặc thuộc khu vực Nhà nước
nói chung, muốn tồn tại và hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của
mình, cần phải có nguồn lực nhất định như con người, cơ sở vật chất, tài chính
ngân sách,… Các nguồn lực này được gọi là yếu tố đầu vào. Hoạt động quản lý chi
ngân sách Nhà nước được phân loại bởi hình thức tổ chức và theo các mục chi cụ
thể để kiểm soát nguồn lực, các mục chi được phân loại chi tiết, cơ quan trung
ương phân định các khoản chi cụ thể cho hoạt động của các cơ quan địa phương,
đồng thời các khoản chi được phân định chi tiêu rõ ràng theo những nguyên tắc
nhất định và thường không có sự chuyển đổi các khoản chi với nhau. Do đó,
phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu vào cứng nhắc, kém linh hoạt nên
dễ gây ra tình trạng sử dụng nguồn lực không hiệu quả, thụ động, việc phân chia
các mục chi đôi khi không đáp ứng được nhu cầu thực tế của các địa phương, gây
khó khăn trong hoạt động quản lý ngân sách.
Phương thức quản lý ngân sách theo yếu tố đầu ra
1


thế nào phải căn cứ vào quy chế phân phối do đơn vị sử dụng ngân sách xây dựng
trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc công khai, dân chủ.
Khoán chi hành chính thực chất là hoạt động chi ngân sách Nhà nước cho
các đơn vi hành chính theo phương thức giao khoán, cấp cho các đơn vi một khoản
kinh phí cụ thể và trao quyền chủ động sử dụng khoản kinh phí đó vào các mục
đích khác nhau phù hợp với các hoạt động của cơ quan đơn vị hành chính.

1


Chế độ khoán chi hành chính là tổng hợp các quy định của pháp luật về việc
cấp phát, sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách sách Nhà nước cho các đơn vị hành
chính.
b) Đặc điểm
Khoán chi ngân sách Nhà nước là một phương thức chi ngân sách Nhà nước
nhưng đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng của phương thức khoán. Vì vậy
có thể thấy một số đặc điểm của khoán chi như sau:
Thứ nhất, thông qua hoạt động khoán chi mà Nhà nước có thể phân phối
nguồn lực quốc gia hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra mà các
cơ quan Nhà nước cần đảm nhận thực hiện trong một thời kỳ nhất định.
Thứ hai, hoạt động khoán chi ngân sách Nhà nước thực hiện theo hướng trao
quyền hạn và trách nhiệm nhiều hơn cho cơ quan Nhà nước các cấp. Vì vậy để sử
dụng ngân sách hiệu quả, các cơ quan Nhà nước cần có sự phân tích, tính toán cẩn
thận trên nhiều khía cạnh trước khi đưa ra các quyết định chi tiêu, tránh lãng phí
không cần thiết, nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, nội dung, cơ cấu và mức độ khoán chi gắn liền với cơ cấu tổ chức
bộ máy Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa công cộng. Việc tổ chức bộ máy
hành chính Nhà nước tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt cũng giúp thực hiện tốt các chức
năng, nhiệm vụ, đồng thời giúp cho việc sử dụng ngân sách hiệu quả và tiết kiệm,
nâng cao năng suất làm việc của cán bộ công nhân viên.

sửa chữa tài sản.
Sử dụng khoản tiết kiệm: kinh phí tiết kiệm được từ khoản chênh lệch thu lớn
hơn chi được dùng để chi trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, chi khen
thưởng cho tập thể cá nhân trong và ngoài đơn vị, chi phúc lợi trợ cấp khó khăn
đột xuất cho người lao động, chi tăng cường cơ sở vật chất của đơn vị, hoặc có thể
lập quỹ dự phòng ổn định thu nhập.
b. Theo Nghị định 130/2005:
Đối tượng: Nghị định quy định chế độ tự chủ tự chịu trách nhiệm về sử dụng
biên chế và kinh phí quản lí hành chính đối với các cơ quan nhà nước có tài khoản
và con dấu riêng.
Tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính : Khi sử dụng nguồn kinh phí mà
được sử dụng theo chế độ tự chủ, Căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ được
giao, Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ tự quyết định bố trí số kinh phí
được giao vào các mục chi cho phù hợp; được quyền điều chỉnh giữa các mục chi
nếu xét thấy cần thiết. Cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được vận dụng các chế độ
chi tiêu tài chính hiện hành để thực hiện, nhưng không được vượt quá mức chi tối
đa do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Khi có phát sinh các yếu tố làm thay đổi mức kinh phí đã giao, cơ quan thực
hiện chế độ tự chủ có văn bản đề nghị bổ sung, điều chỉnh dự toán kinh phí, giải
trình chi tiết các yếu tố làm tăng, giảm dự toán kinh phí gửi cơ quan quản lý cấp trên
1


trực tiếp. Cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp (trường hợp không phải là đơn vị dự
toán cấp I) xem xét, tổng hợp dự toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc gửi đơn vị
dự toán cấp I. Cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương (đơn vị dự toán cấp I)
xem xét dự toán do các đơn vị trực thuộc lập, tổng hợp và lập dự toán chi ngân sách
thuộc phạm vi quản lý gửi cơ quan tài chính cùng cấp để trình cấp có thẩm quyền
quyết định.
Các đơn vị thực hiện chế độ tự chủ phải có trách nhiệm trong hoạt động của


+ Tinh giản bộ máy để nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, hiệu quả công
việc: Thông qua đó để phát huy tiềm năng về cơ sở vật chất, lao động sáng tạo của
mỗi cán bộ, công chức, viên chức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giảm những
khoản chi không cần thiết, tăng thu nhập chính đáng cho cán bộ, công chức, viên
chức.
+ Xóa bỏ sự bình quân chủ nghĩa, thiên vị trong quá trình phân bổ ngân sách.
Các cơ quan được giao quyền tự chủ trong công tác điều hành tổ chức công việc,
tự chủ trong việc sử dụng ngân sách nhà nước dành cho đơn vị mình, đồng thời tự chịu
trách nhiệm đối với các quyết định chi tiêu của mình. Thực hiện khoán chi hành chính
còn có tác dụng sắp xếp lại cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn, đa ngành, đa lĩnh vực
gắn với cải cách thủ tục hành chính, do đó, không chỉ tinh giản biên chế mà còn nâng
cao chất lượng và hiệu quả công việc.
b. Hạn chế:
Thứ nhất: Nếu trong các đơn vị không có nguồn thu nào khác ngoài nguồn thu từ
ngân sách nhà nước cấp hoặc nguồn các thu đó không đủ, thì vấn đề đặt ra các đơn vị
đành phải tự chủ. Vậy tự chủ phải được thực hiện như thế nào cho hợp lý, vấn đề này
gây khó khăn cho các đơn vị, có thể dẫn đến chi trả không đủ gây nhiều khó khăn.
Thứ hai: Nếu trong các đơn vị người đứng đầu kém sáng tạo, thì khoán chi cho rồi
mà lại không phân bổ đúng, phân bổ vào những khoản không cần thiết, không hợp lý
thì cũng dẫn đến tình trạng ngân sách chi trả trong đơn vị thiếu thốn, lãng phí.

II. Khả năng áp dụng của Bộ Tư Pháp
Trong quá trình thực hiện tự chủ tài chính thì Bộ tư pháp phải tuân theo các
nguyên tắc nhất định. Các nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 Nghị định 130
như sau:
“1. Bảo đảm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
2. Không tăng biên chế và kinh phí quản lý hành chính được giao, trừ trường hợp
quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9 của Nghị định này.
3. Thực hiện công khai, dân chủ và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của cán bộ, công

của Bộ.
Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu, ngạch, bậc lương và các khoản
trích theo lương, Bộ tư pháp phải sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả
lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, công chức và người lao động của
đơn vị theo chính sách của Nhà nước. Nếu như chi vào các khoản này mà còn thiếu
nguồn kinh phí thì ngân sách nhà nước cấp bổ sung phần kinh phí còn thiếu.
Trên cơ sở tổng nguồn kinh phí được phép chi trên đây, cơ quan thực hiện chế
độ tự chủ quyết định phương án chi trả thu nhập tăng thêm cho từng cán bộ, công
chức (hoặc cho từng bộ phận trực thuộc) theo nguyên tắc phải gắn với hiệu quả,
kết quả công việc của từng người (hoặc của từng bộ phận trực thuộc);
Khi xét thấy khả năng tiết kiệm kinh phí không ổn định, cơ quan thực hiện chế
độ tự chủ có thể trích lập quỹ dự phòng để ổn định thu nhập cho cán bộ, công chức.
Số kinh phí tiết kiệm được, cuối năm chưa sử dụng hết được chuyển sang năm sau
tiếp tục sử dụng.
Bộ trưởng bộ tư pháp thực hiện chế độ tự chủ quyết định phương án sử dụng
kinh phí tiết kiệm nêu trên sau khi thống nhất ý kiến bằng văn bản với tổ chức
1


Công đoàn cơ quan. Kết thúc năm ngân sách, sau khi đã hoàn thành các nhiệm vụ
được giao, bộ Tư pháp thực hiện chế độ tự chủ có số chi thực tế thấp hơn dự toán
kinh phí quản lý hành chính được giao để thực hiện chế độ tự chủ thì phần chênh
lệch này được xác định là kinh phí quản lý hành chính tiết kiệm được.
Qua đây ta thấy đối với bất cứ khoản chi nào thì Bộ tư pháp cũng phải đảm bảo
tính công khai, minh bạch, đúng mục đích và dân chủ. Mức độ tự chủ của Bộ phụ
thuộc vào nội dung chi, tùy thuộc vào từng khoản chi mà Bộ tư pháp tự chủ được
đến đâu.

III. Giải pháp
a. Các giải pháp chung

nhiên, việc chuyển sang thực hiện theo phương pháp này cần phải được thực hiện
theo lộ trình từng bước, phù hợp với tình hình thực tế và năng lực của các cơ quan
Nhà nước.
Đồng thời hoàn thiện hệ thống định mức làm căn cứ cho việc phân bổ và lập
dự toán. Căn cứ xây dựng dự toán và phân bổ ngân sách của các cơ quan Nhà nước
cần được xác định trên cơ sở các nhiệm vụ của năm kế hoạch, số thực hiện của các
năm trước liền kề... Hiện nay, căn cứ phân bổ dự toán của Nhà nước chủ yếu theo
biên chế, trong khi đó đối với các cơ quan nhà nước vẫn chưa có một căn cứ xác
đáng để quy định tỉ lệ giữa khối lượng công việc chuyên môn của mỗi cơ quan so
với số lượng biên chế. Trên cơ sở thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với cơ quan
nhà nước trong giai đoạn vừa qua cần đánh giá, tổng kết định mức phân bổ ngân
sách và chi tiêu ngân sách ở từng cơ quan trên cơ sở mức ngân sách tự chủ để hình
thành hệ thống định mức phân bổ và lập dự toán ngân sách nhà nước.
Thứ ba, nghiên cứu áp dụng phương thức lập dự toán ngân sách theo
khuôn khổ tài khoá trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn
Việc lập ngân sách theo khuôn khổ trung hạn sẽ tạo điều kiện cho các cơ
quan đơn vị có được các thông tin sơ bộ về các nguồn lực tài chính của cơ quan
đơn vị mình trong một giai đoạn nhiều năm. Lợi ích của phương pháp này là cho
phép người đứng đầu các cơ quan đơn vị trong việc đưa ra các quyết định chi tiêu
của mình theo một trình tự ưu tiên gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Thực hiện theo cách này sẽ tạo điều kiện mở rộng diện áp dụng cơ chế tự chủ tài
chính trong các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, ví dụ như vấn đề mua sắm
tài sản cố định.
Thứ tư, nâng cao tính công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý tài
chính các cơ quan đơn vị hành chính
Công khai thông tin và minh bạch tài chính đóng vai trò quan trọng để đảm
bảo bền vững tài chính. Thực hiện công khai minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều
kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính,
hạn chế những thất thoát và bảo đảm tính hiệu quả. Minh bạch tài chính sẽ góp
phần nâng cao trách nhiệm giải trình của những cơ quan đơn vị thụ hưởng ngân

Xuất phát từ những bất cập trong việc phân định chưa rõ ràng kinh phí quản
lý hành chính thực hiện cơ chế tự chủ và kinh phí quản lý hành chính không thực
hiện tự chủ, cùng với giới hạn về nội dung chi kinh phí thực hiện cơ chế tự chủ đã
dẫn tới những khó khăn trong thực hiện và quản lý kinh phí của đơn vị thực hiện
cơ chế tự chủ. Do đó, cần xác định rõ và mở rộng nội dung chi thực hiện cơ chế tự
chủ.
Hai là, đổi mới các căn cứ xác định kinh phí để giao thực hiện chế độ tự
chủ
Căn cứ để xác định mức kinh phí thực hiện cơ chế tự chủ cần dựa vào quy
mô, số lượng và chất lượng từng loại dịch vụ công mà đơn vị thực hiện cơ chế tự
chủ cung cấp trong một thời gian nhất định chứ không chỉ dựa vào biên chế và
định mức phân bổ ngân sách. Số lượng biên chế của đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ
được tính toán và xác định một cách khoa học, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ

1


của đơn vị, yêu cầu về số lượng, quy mô và chất lượng dịch vụ công mà đơn vị
phải đảm nhận để từ đó xác định nhu cầu về số lượng, chất lượng cán bộ phù hợp.
Ba là, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lý tài chính
đối với thủ trưởng đơn vị
Một trong những mục tiêu cơ bản của chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
sử dụng kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước là thực hiện
quyền tự chủ đồng thời gắn với trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị. Tuy nhiên thực
tế thực hiện ở Việt Nam vẫn không đem lại kết quả như kỳ vọng. Các nguyên nhân
có thể chỉ ra là: việc xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan vẫn phải căn cứ
chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
ban hành và không được vượt quá chế độ, định mức, tiêu chuẩn do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền ban hành. Trong sử dụng, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ
được vận dụng các chế độ chi tiêu tài chính hiện hành để thực hiện, nhưng lại bị

nhà nước, tiêu chí phản ánh các yếu tố cấu thành đầu vào của cơ quan hành chính
(hạ tầng cơ sở, nhân sự hành chính, yêu cầu của khách hàng,..), tiêu chí về giải
quyết công việc cho người dân (như vấn đề dân chủ và công bằng trong tiếp cận
thông tin, sự cư xử thân thiện, thời gian giải quyết công việc,…), tiêu chí phản ánh
đầu ra của dịch vụ hành chính (kết quả trả cho người dân có kịp thời không,
khoảng thời gian giải quyết công việc, các văn bản giấy tờ giải quyết công việc cho
người dân có chính xác không,…), tiêu chí đánh giá kết quả của đầu ra (có đạt
được mục tiêu của quản lý không, kết quả dịch vụ có tác dụng gì đối với người
dân,..)
Sáu là, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình
Thực hiện đổi mới các cơ chế liên quan để tăng quyền hạn và trách nhiệm
trong công tác quản lý ngân sách ở các cấp, các đơn vị sử dụng NSNN, đi đôi với
việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát thực hiện, hoàn chỉnh hệ thống báo cáo, các
chỉ tiêu đánh giá về kết quả thực hiện công việc. Có cơ chế để nâng cao tính minh
bạch, trách nhiệm giải trình trong công tác quản lý ngân sách Nhà nước, từng bước
xoá bỏ cơ chế cơ quan tài chính phải giải trình thay các cơ quan khác trong việc sử
dụng nguồn lực ngân sách. Các cơ quan, đơn vị phải có trách nhiệm giải trình với
Quốc hội, với người dân đối với các quyết định chi tiêu ngân sách của mình, đảm
bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trên cơ sở quy mô nguồn lực được phân bổ

KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính công nói chung, cơ chế quản
lý tài chính của các cơ quan hành chính ở trung ương và địa phương trong hơn một
thập kỷ qua đã có nhiều bước thay đổi quan trọng. Khởi đầu bởi cơ chế khoán chi
hành chính thực hiện thí điểm ở thành phố Hồ Chí Minh những năm 1999-2000,
sau đó được mở rộng thí điểm ở nhiều bộ, ngành trung ương và địa phương khác
và đến năm 2005 khái niệm “khoán chi” hành chính đã được thay thế bởi “cơ chế
tự chủ” tài chính có phạm vi bao quát hơn.

1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status