LỜI MỞ ĐẦU
1. Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay,bất kỳ một quốc gia nào trên
thế
giới cũng coi mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng cần đạt
được. Nhưng để đạt được mục tiêu quan trọng đó đòi hỏi chính phủ phải có
những chính sách, chiến lược phù hợp và hiệu quả để sử dụng tối đa những
nguồn lực hiện có của đất nước mình, đồng thời phải kế thừa và phát triển
những tinh hoa của thế giới. Trong nền kinh tế thị trường thì thị trường tài
chính đóng vai trò hết sức quan trọng, sự lớn mạnh của thị trường tài chính nó
ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của một quốc gia và của cả thế giới. Chủ
thể quan trọng của thị trường tài chính là Ngân hàng,nó có mặt trong tất cả
các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Vì thế muốn một nền
kinh tế ổn định và phát triển thì đòi hỏi bản thân hệ thống Ngân hàng cũng
phải ổn định và phát triển bởi nếu nó không ổn định thì nó sẽ phá vỡ sự ổn
định trong các mối quan hệ kinh tế từ đó dẫn đến làm suy giảm nền kinh
tế.Đối với NH thì vốn là tiền đề quan trọng nhất trong mọi hoạt động của
NHTM.
Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề vốn đang là đòi hỏi cấp bách trong sự nghiệp
CNH, HĐH của nước ta. Nó đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và
phát triển kinh tế của đất nước. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế,
nước ta cần phải có các biện pháp, chính sách nhằm huy động tối đa nguồn
vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Như vậy công tác huy động vốn của ngân
hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động
của ngân hàng nói riêng.
Sau một thời gian thực tập tại PGD Chợ Hôm – chi nhánh NHNo&PTNT
Hà Nội, em đã nghiên cứu, tìm hiểu về công tác huy động vốn và chọn đề tài :
“Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại phòng giao dịch Chợ Hômchi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Hà Nội”làm
báo cáo tốt nghiệp cho mình.
1
I. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động huy động vốn của NHTM.
1.Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của NHTM.
1.1. Định nghĩa và đặc trưng của NHTM.
♦ Tại điều 4 khoản 3 theo Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 1-12011 do Quốc Hội ban hành, thì : Ngân hàng thương mạilà loại hình ngân
hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh
doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Tại điều 4 khoản 12 :
Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một trong
các nghiệp vụ sau đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cấp tín dụng;
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
♦ Đặc trưng của NHTM
Đặc trưng của NHTM được thể hiện thông qua 3 chức năng sau:
* Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của công chúng, các doanh
nghiệp và các tổ chức, giữ tiền cho khách hàng của mình, đáp ứng nhu cầu rút
tiền và chi tiền của họ.
Chức năng này đã có ngay trong thời kỳ sơ khai của hoạt động NH xuất phát
từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị
của công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội. Ban đầu NH là người giữ
hộ tài sản và khách hàng phải trả cho NH một khoản phí.Về sau NH đã sử
dụng khoản tiền gửi của khách hàng để cho vay, và thay cho việc khách hàng
phải trả thù lao cho NH, NH lại trả cho khách hàng lợi tức tiền gửi.
Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập ngày càng cao, tích
lũy của doanh nghiệp và cá nhân ngày càng lớn cộng thêm nhu cầu bảo vệ tài
3
NHTM thu phí thanh toán. Thêm nữa, nó lại làm tăng nguồn vốn cho vay của
ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng.
* Chức năng làm trung gian tín dụng
Ngân hàng làm trung gian tín dụng khi nó là “ cầu nối” giữa người có vốn dư
thừa và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, NH vừa đóng vai trò là
người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay.
Thông qua chức năng này NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
trong quan hệ là người gửi tiền , NH và người đi vay và đảm bảo lợi ích của
nề kinh tế:
- Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới
hình thức lãi tiền gửi mà NH trả cho họ. Hơn nữa NH còn đảm bảo cho họ sự
an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
- Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh chi
tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc
tìm kiếm những nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp.
- Bản thân NHTM sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho
vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Lợi nhuận này chính là cơ sở
để tồn tại và phát triển của NHTM.
ầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng
quy mô sản xuất.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
NHTM.
Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán NHTM có khả
năng tạo tiền ghi sổ thể hiện trên tiền gửi thanh toán của khách hàng tại
NHTM.
Các NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn từ một tài khoản tiền
gửi ban đầu, hoặc từ khoản tiền nhận được từ NHTƯ thông qua việc cấp tín
dụng cho các khách hàng là các tổ chức phi NH. Bất kỳ NH nào được phép
đảm bảo cho ngân hàng có thể hoạt động một cách bình thường. Quá trình
huy động vốn của NHTM chủ yếu dưới các hình thức sau:
a) Tiền gửi của tổ chức kinh tế và cá nhân.
6
b)
c)
d)
e)
Tiền gửi tiết kiệm.
Phát hành các giấy tờ có giá.
Vốn vay NHNN,vay các TCTD khác trong và ngoài nước.
Các hình thức huy động vốn khác
Tóm lại: Mỗi loại nguồn vốn của NHTM đều có tầm quan trọng riêng và
không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Song nguồn
vốn huy động có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng nói
riêng và với nền kinh tế nói chung.
3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn của NH
Điểmkhácnhaucơbảntrongnguồnvốncủa N HT M vớicác D N phitàichínhlà:
NHTM
kinhdoanhchủyếubằngnguồnvốnhuyđộngtừnềnkinhtếcòncác
DN
khác hoạtđộng dựatrên vốntựcólàchính.Vìvậyđánhgiáhiệuquảcôngtáchuy
độngvốnlàcôngtáckhôngthểthiếutrongnghiêncứunguồnvốncủacác NH.
gia tăng nguồn vốn biểu hiện qua nghiệp vụ huy động vốn. Nếu huy động
vốn có hiệu quả sẽ làm tăng nguồn vốn kinh doanh, tăng doanh số cho vay,
tăng lợi nhuận. Điều đó cũng có nghĩa là nguồn vốn của NH được bổ sung
như thế nào tuỳ thuộc chủ yếu vào hoạt động huy động vốn của NH đó.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng được coi là có chất lượng tốt khi hoạt
động này phải đảo bảo được sự tăng trưởng ổn định và bền vững. Sự tăng
trưởng ổn định và bền vững đó được thể hiện trên hai khía cạnh:
Thứ nhất: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động.
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả của việc huy động vốn.
Việc tính toán chỉ tiêu này rất đơn giản, ta chỉ cần tính toán số chênh lệch
giữa vốn huy động tháng này so với tháng trước, năm này so với năm trước
theo công thức:
VHĐCL = VHĐ1 – VHĐ0
Hoặc ta cũng có thể tính tỷ lệ tăng, giảm vốn huy động của kỳ này so
với kỳ trước theo công thức:
%VHĐCL =
VHĐ1- VHĐ0
VHĐ0
Trong đó VHĐ1 là VHĐ kỳ này.
8
x 100%
VHĐ0 là VHĐ kỳ trước.
%VHĐCL là tỷ lệ tăng (giảm) VHĐ kỳ này so với kỳ trước.
Chỉ tiêu này càng cao thì quy mô vốn của ngân hàng càng mở rộng, đây
là tiền đề cho sự phát triển của ngân hàng. Ngược lại, khi chỉ tiêu này thấp thì
9
chế rủi ro có thể gặp phải và tối thiểu hoá chi phí đầu vào.
Chúng ta sẽ so sánh những khoản vốn có tính thời hạn dài so với các khoản
vốn có tính thời hạn thấp để xem xét sự ổn định của nguồn vốn huy động. Từ
đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp để tăng các khoản huy động có thời hạn
dài. Chi phí huy động là vấn đề mà các ngân hàng đều quan tâm. Để có được
chi phí đầu vào hợp lý, có lợi cho ngân hàng thì các ngân hàng phải xem xét
khoản mục nào có tỷ trọng lớn nhất. Trong thực tế các khoản huy động từ các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có tính ổn định tương đối cao, chi phí vừa phải
rất có lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Cho nên để đẩy mạnh
hiệu quả công tác huy động vốn thì các ngân hàng phải tìm cách nâng cao tỷ
trọng của nhóm này lên hơn nữa trong cơ cấu vốn huy động của mình. Bên
cạnh đó các khoản vốn huy động từ khu vực dân cư rất tiềm tàng giúp Ngân
hàng mở rộng kinh doanh tín dụng tiêu dùng, thực hiện thanh toán không
dùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông có lợi cho nền kinh tế.
Cụ thể hơn:
Tỷ lệ tiền gửi
tiết kiệm
=
Số dư tiền gửi tiết kiệm
Tổng vốn huy động
Đây là loại hình huy động vốn quan trọng của các ngân hàng thương mại. Tỉ
lệ này càng cao thì càng chứng tỏ tính lỏng của nguồn vốn ngân hàng thương
mại . Có thể xem xét kỹ hơn với các chỉ tiêu khác nhau trong tổng lượng tiền
gửi tiết kiệm. Ngân hàng Thương mại nào càng có tỉ lệ tiền gửi trên 12 tháng
hạn
=
Vốn ngắn hạn
Tổng vốn huy động
Vốn ngắn hạn chủ yếu là những loại tiền gửi kỳ hạn nhỏ hay tiền gửi trong
thanh toán của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Như vậy chỉ tiêu này càng
nhỏ thì lượng vốn huy động được của các NH cũng nhỏ nhưng có thể lại tạo
được nguồn vốn chất lượng hơn cho các NHTM. Những nguồn có thời hạn
ngắn thường có chi phí nguồn thấp và tính ổn định thấp, ngược lại những
nguồn có thời hạn càng dài thì chi phí cao hơn nhưng ổn định hơn. Nên để
hoạch định chiến lược kinh doanh cho mỗi giai đoạn, căn cứ vào chi phí phải
trả cho mỗi nguồn thì các NH cần đưa ra các sách lược huy động vốn phù hợp
nhằm mục tiêu mở rộng kinh doanh dư nợ cho vay, đầu tư đồng thời bảo đảm
lãi suất được ấn định giá bù đắp được chi phí nguồn và đem lại doanh lợi
mong muốn mà không ảnh hưởng đến khả năng thanh toán.
* Tỉ lệ vốn trung và dài hạn
Tỷ lệ vốn trung
và dài hạn
=
Vốn trung và dài hạn
Tổng vốn huy động
Vốn trung hạn và dài hạn là nguồn vốn luôn được các ngân hàng ưa thích vì
nó có tính lỏng cao, thuận lợi cho việc tài trợ dự án trung và dài hạn của ngân
hàng. Tỉ lệ náy càng cao thì càng mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng.
Tổng vốn huy động + Vốn vay
Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng vốn mà NH huy động và vay được thì
NH phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí trả lãi bình quân. Tỷ lệ này càng cao
chứng tỏ chi phí trả lãi cho vốn huy động được và vốn vay là cao. Tỷ lệ này
càng thấp càng tốt vì thấp thì chi phí mà NH phải bỏ ra là thấp.
12
Theo phương pháp tập trung nguồn vốn:
Tỷ lệ chi phí bình
quân gia quyền
= ∑
Rk*ik
A*rk
Trong đó:
- Rk số vốn huy động được từ nguồn k
- Ik Tỷ lệ chi phí trả lãi và ngoài lãi
- A Tổng nguồn vốn
- rk Hệ số sử dụng vốn
rk = 1- tỷ lệ dự trữ bắt buộc và số dư dự trữ tối thiểu.
Theo phương pháp xác định chi phí cận biên
Chi phí cận biên là chi phí tăng thêm mà NH phải trả để huy động thêm
vốn.
Tỷ lệ chi phí
cận biên
mới
-
NV
tại
mứcLS cũ
Chỉ tiêu này cho biết tron 100 đồng vốn NH huy động thêm thì NH phải bỏ ra
bao nhiêu chi phí. Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt.
* Các nguồn vốn huy động phi tiền gửi NH có thể huy động từ thị trường quỹ
liên bang, vay từ NH dự trữ liên bang khu vực, phát hành các chứng chỉ tiền
gửi có thể chuyển nhượng…
Với nguồn vốn này, có thể dùng các chỉ tiêu sau
13
Tỷ lệ chi phí
thực tế
=
Chi phí trả lãi + chi phí ngoài lãi
Số vốn thuần huy động có thể đầu tư
* 100%
Chi phí trả lãi = Lãi suất hiện hành * Số tiền vay
Chi phí ngoài lãi = Tỷ lệ chi phí dự tính * Số tiền vay
Tổng tài sản theo tỷ lệ rủi ro
>= 9%
Thứ 2 So sánh nguồn vốn huy động và việc sử dung vốn:
Nếu một Ngân hàng Thương mại có nguồn sử dụng vốn tương xứng với
nguồn vốn huy động, chứng tỏ nguồn vốn huy động đã được sử dụng có hiệu
quả và công tác huy động vốn của ngân hàng đã thành công. Bởi vì phần lớn
thu nhập từ hoạt động sử dụng vốn sẽ bù đắp phần nào chi phí huy động và
14
đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Hơn nữa việc sử dụng vốn tốt sẽ
thúc đẩy hoạt động huy động vốn. Cho nên khi đánh giá hiệu quả hoạt
độngcủa công tác huy động vốn người ta thường xem xét đến công tác sử
dụng vốn của ngân hàng đó.
Hiệu quả sử dụng vốn (HQSDV)
Tổng dư nợ
HQSDV=
Tổng nguồn vốn huyđộng
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh mối quan hệ giữa đồng vốn vào
và đồng vốn ra của NH. Chỉ tiêu này cho biết NH sư dụng vốn có hiệu quả
hay không. Chỉ tiêu này càng cao thì càng tốt bởi NH càng sử dụng vốn
một cách triệt để. Ngược lại khi chỉ tiêu này là thấp thì số vốn dùng để cho
vay và đầu tư là vẫn còn hạn chế, nên hiệu quả sử dụng vốn là không cao.
Vậy nên, trên cơ sở lý thuyết và thực tế thì các NHTM đều luôn tìm kiếm
những giải pháp nhằm nâng cao chỉ tiêu này
* Thứ 3 chi phí khác
Đa dạng về số lượng các công cụ là chưa đủ , mà ngân hàng phải đa dạng
về kỳ hạn huy động, loại tiền sử dụng nữa . Đó là khả năng huy động vốn với
các kỳ hạn khác nhau trong đó có cả nội tệ, ngoại tệ và với mức lãi suất khác
biệt tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý.
Do vậy, để công tác huy động vốn của ngân hàng thực sự đạt được hiệu quả
cao, ngân hàng cần phải tính toán, nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của thị
trường, trên cơ sở năng lực bản thân đưa ra các hình thức huy động đa dạng
về kỳ hạn, loại tiền. Nếu những ngân hàng có quan hệ quốc tế rộng thì nguồn
vốn huy động bằng ngoại tệ phải lớn, hay nếu có chiến lược sử dụng vốn để
cho vay dài hạn thì cần tăng cường huy động vốntrung và dài hạn.
3.4 Một số chỉ tiêu khác
Ngoài các chỉ tiêu chính trên, chất lượng công tác huy động vốn còn
đượcđánh giá qua một số chỉ tiêu :
• Mức độ thuận tiện khách hàng : Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền,rút
16
tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng …nhằm tiết kiệm được thời gian và
chi phí cho khách hàng .
• Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định .
• Một số chỉ tiêu khác như : số lượng vốn bị rút ra trước thời hạn , kỳ hạn
thực tế của nguồn vốn…
17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
PHÒNG GIAO DỊCH CHỢ HÔM - CHI NHÁNH NHNO&PTNT HÀ
NỘI.
I. Giới thiệu về PGD Chợ Hôm – chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội.
for agriculture and Rural
Development.
Tênviếttắt:VBARD
Trụsởchính:Số2LángHạ-ĐốngĐa-HàNội.
Ngày 15 tháng 10 năm 1996, Ngân hàng Nông nghiệp đổi tên thành Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng Nông
nghiệp Hà Nội cũng được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hà Nội
* Một vài nét về PGD Chợ Hôm.
18
Chi nhánh ngân hàng No Chợ Hôm được thành lập theo mô hình chi
nhánh cấp 2 loại 5 theo
quyết định 107/QĐ/HĐQT-TCCB cấp ngày
12/5/2003 và được điều chỉnh thành Phòng Giao Dịch Chợ Hôm theo quyết
định 138/QĐ/NHNo-TCCB cấp ngày 31/01/2008.
Địa chỉ: kiốt 14-15-16 Trần Xuân Soạn, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
2. Cơ cấu tổ chức của PGD Chợ Hôm – chi nhánh NHNo&PTNT Hà Nội.
Sơ đồ mô hình tổ chức.
Giám đốc
Phó giám đốc
Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn.
♦ Tổ kế toán- Ngân quỹ: đảm nhiệm kế toán nội bộ và kế toán giao dịch.
* Kế toán nội bộ:
- Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiêu nội bộ như: chi trả lương
cho cán bộ công nhân viên, chi phí và công tác hành chính.
- Báo cáo tổng hợp thu, chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban Giám
đốc.
* Kế toán giao dịch:
- Xử lý các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế và cá nhân.
- Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toán cho khách hàng.
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như: Uỷ nhiệm
thu, uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoản, L/C, chuyển tiền, cung cấp dịch vụ
phone banking, dịch vụ WESTERN UNION.
- Tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng
nghiệp vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn.
- Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên hàng.
- Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý và cả năm.
- Hàng tháng tổng hợp báo cáo gửi lên Ngân hàng cấp trên.
* Tổ kinh doanh
20
- Chủ yếu đảm nhiệm nghiệp vụ tín dụng, có chức năng quản lý điều hành
chỉ đạo thực hiện các chủ trương về công tác tín dụng.
- Trực tiếp đi thẩm định các dự án có quy mô sản xuất vừa và lớn, tập trung
các thông tin đã thu thập được để từ đó phân tích, đưa ra những phương
hướng thực hiện công tác tín dụng tháng tới, cả năm và năm tới.
- Đề xuất ý kiến cho vay hay không cho vay đối với các dự án thuộc quyền
vốn tương đối góp phần cho sự phát triển của chi nhánh NHNo&PTNT Hà
Nội nói riêng và NHNo&PTNT Việt Nam nói chung. Về kết quả huy động
vốn sẽ được làm rõ trong phần thực trạng huy động vốn.
3.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Nếu như hoạt động huy động vốn là nguồn đầu vào quan trọng đáp ứng nhu
cầu hoạt động của Ngân hàng thì hoạt động sử dụng vốn là hoạt động cơ bản
để tạo ra lợi nhuận cho Ngân hàng, bù đắp các chi phí chung và chi phí đầu
vào của Ngân hàng và một phần lợi nhuận dư ra mà Ngân hàng thu được. Mục
tiêu kinh doanh mà PGD Chợ Hôm đã đặt ra là: kinh tế phát triển, an toàn vốn,
tôn trọng pháp luật, lợi nhuận hợp lý.
♦ Hoạt động tín dụng
Bảng 1 : Thống kê dư nợ của PGD Chợ Hôm giai đoạn 2010 – 2011
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
2010
2011
Chỉ tiêu
SS 11/10
Tuyệt
Tương
đối
đối (%)
Tổng Dư nợ
138938
22
là do dư nợ ngắn hạn giảm 113979 triệu đồng tương ứng giảm 82,6%, dư nợ
trung và dài hạn giảm 536 triệu đồng, tương ứng giảm 58,26 %.
3.3 Hoạt động khác.
Ngoài hoạt động huy động vốn và sử sụng vốn PGD Chợ Hôm, còn có các
hoạt động khác như: bảo lãnh, chuyển tiền điện tử, phát hành thẻ…..
Năm 2010 :
- Thu bảo lãnh: 116,72 triệu đồng
Trong đó: + Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán: 3 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh thực hiện hợp đồng: 37 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu: 28 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh đảm bảo chất lượng: 41 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh hoàn thanh toán: 7 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh khác: 0,72 triệu đồng
- Thu dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước: 590 triệu đồng
- Thu phí phát hành, phí phát hành lại thẻ: 3,7 triệu
- Thu phí kiều hối, Western Union: 33 triệu đồng.
Năm 2011 :
- Thu bảo lãnh: 127 triệu đồng
Trong đó: + Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán: 31 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh thực hiện hợp đồng: 42 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh dự thầu: 2 triệu đồng
+ Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh đảm bảo chất lượng: 21 triệu đồng
- Thu dịch vụ chuyển tiền trong và ngoài nước: 468 triệu đồng
- Thu phí phát hành, phí phát hành lại thẻ: 18 triệu
- Thu phí kiều hối, Western Union: 28 triệu đồng.
Thuphí kiều hối, Western Union năm 2011 giảm so với năm 2010
24
4.1Qui mô nguồn vốn huy động ( Tốc độ tăng trưởng)
Bảng 2: Tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 2010 - 2011
Đơn vị: triệu đồng
Năm
2010
Chỉ tiêu
Tổng
nguồn
vốn huy động
171620
2011
188993
SS 11/10
Tuyệt
Tương
đối
đối(%)
17373
10,1