Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
MỞ BÀI
Người Việt Nam được thế giới biết đến là những con người thân thiện. Họ
đến Việt Nam không chỉ nước ta đẹp về những cảnh quan du lịch. Mà còn vì con
người đẹp về nhân cách.Những nét đẹp đó vốn có trong mỗi con người Việt. Nó
trở thành một điều gì đó mà mối chúng ta không thể phủ nhận.Có lúc đó còn là
truyền thống. Bên cạnh những nét tính cách tốt đẹp của người Việt Nam thì cũng
có không ít hạn chế. Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin trình bày đề : “Phân tích
những phẩm chất nổi trội trong tính cách người Việt Nam. Chỉ ra những điểm
còn hạn chế và giải pháp khắc phục những hạn chế đó trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay?”.
NỘI DUNG
I - KHÁI QUÁT CHUNG
1. Cơ sở hình thành
a. Giải thích thuật ngữ
Nhân cách là những yếu tố quyết định đến những trạng thái, tính chất, xu
hướng bên trong của từng cá nhân. Đó là thế giới của cái “tôi” do tác động tổng
hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân đó có
thể tồn tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội.
Phẩm chất là các yếu tố làm nên giá trị của con người hay vật.
Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức tạp bao gồm hệ thống thái độ và
hành vi quen thuộc mang tính đạo đức của cá nhân đối với hiện thực.
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành những phẩm chất nổi
trội trong tính cách người Việt Nam
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến văn hoá nói chung và phẩm chất của
người Việt Nam nói riêng. Việt Nam nằm trong khu vực có đới khí hậu nhiệt đới
gió mùa, nhiệt độ, độ ẩm cao ( lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa là đặc
trung địa lý cố hữu ở đây. Điều kiện tự nhiên này quy định cho loại hình văn hoá
gắn liền với nông nghiệp với những đặc điểm : trồng lúa nước, sống định cư và
1
2
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
đánh giá về người Việt: Cần cù lao động song dễ thoả mãn nên tâm lý hưởng thụ
còn nặng; thông minh, sáng tạo song chỉ có tính chất đối phó, thiếu tầm tư duy
dài hạn, chủ động; khéo léo, song không duy trì đến cùng (ít quan tâm đến sự
hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm); vừa thực tế, vừa mơ mộng, song không có ý
thức nâng lên thành lý luận; ham học hỏi, tiếp thu nhanh, song ít khi học "đến
đầu đến đuôi" nên kiến thức mất hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không
phải là mục tiêu tự thân của mỗi người Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn lên
học vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí, đam mê); xởi lởi, chiều
khách, song không bền; tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu vô
bổ (sĩ diện, khoe khoang, thích hơn đời); có tinh thần đoàn kết, tương thân,
tương ái, song hầu như chỉ trong trường hợp khó khăn, bần hàn. Còn trong điều
kiện tốt hơn, tinh thần này ít khi xuất hiện; yêu hoà bình, nhẫn nhịn song nhiều
khi lại hiếu chiến vì những lý do tự ái, lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập,
song lại thiếu đoàn kết để làm nên sức mạnh (cùng 1 việc, 1 người làm thì tốt, 3
người làm thì kém, 7 người làm thì bất đồng quan điểm). Như vậy, Viện nghiên
cứu Mỹ đã nhận định một cách hết sức khách quan về các phẩm chất của con
người Việt Nam.
2. Những phẩm chất nổi trội
a, Ưu điểm
Thứ nhất là, khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối ứng xử
mềm dẻo.
Một trong số các giá trị tinh thần của di sản văn hoá dân tộc “phi vật thể”đã
trở thành hành trang cần thiết và đặc biệt của người Viêt Nam trong cuộc sống
hiện tại, chính là truyền thống ứng xử xã hội đã được kết tinh từ đời này qua đời
khác của dân tộc Việt Nam. Trong cuộc sống hằng ngày, người Việt Nam luôn
quan tâm đến vấn đề giao tiếp. Khi giao tiếp, người Việt đề cao ngôn ngữ để đảm
Nhắc đến người Việt là nhắc đến cái giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét
cầu kì xa hoa.Tà áo dài của người phụ nữ, hay chiếc áo bà ba của người dân Nam
Bộ là nét đặc trưng cho sự giản dị, toát lên vẻ đẹp thuần khiết ở đó. Xuất phát từ
văn hóa gốc nông nghiệp, nghề nông phụ thuộc nhiều vào tự nhiên. Đời sống bấp
4
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
bênh, thiên tai xảy ra thường xuyên và khó lường trước. Làm việc vất vả nhưng
năng suất lao động lại thấp nên con người Việt Nam đã quen với cuộc sống giản
dị, tiết kiệm, ưa đơn giản, không cầu kỳ , xa hoa.
Thứ tư là tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn.
Chúng ta bắt gặp trong những tác phẩm thơ,văn là cái tôi trữ tình, đầy lãng
mạn, người nghệ sỹ gửi gắm trong đó tất cả niềm đam mê, tình yêu, cảm xúc, sự
nhiệt huyết,. . . vào trong trong từng câu từ. Người dân quen với cuộc sống gắn
liền với thiên nhiên, hòa mình vào với thiên nhiên, nên tâm hồn của họ đôi lúc
cũng bay bổng, lãng mạn. Một số ca dao, tục ngữ , tác phẩm thơ văn,.. là minh
chứng rõ nhất cho điều này : “ Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô nở múc ánh
trăng vàng đổ đi” hay “ Tôi muốn tắt nắng đi/ Cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn
buộc gió lại/ Cho hương đừng bay đi” hay câu thơ đầy tính tượng hình của Xuân
Diệu “ Tháng riêng ngon như một cặp môi gần”.
Thứ năm là cần cù, chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ
Cần cù, chịu thương chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ là một đức tính
quan trọng của người Việt Nam và đã trở thành giá trị văn hoá Việt Nam. Đức
tính cần cù hay chịu thương chịu đựng gian khổ có ngay từ khi loài người xuất
hiện, các yếu tố lao động đã chứa đựng trong nó đặc tính cần cù và chịu đựng
gian khó của con người : “Những dấu hiệu khác biệt của con người như một loài
sinh học, chung quy chỉ là đi bằng hai chân gắn liền với việc giải phóng đôi tay
khỏi chức năng đi lại và tiến tới phát triển đại não. Cả hai đặc điểm ấy không
cong nghi ngờ gì nữa, nằm trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động lao động” (
nghiệp nên có rất nhiều yếu tố tác động đến mùa màng, nên người dân cần rất
nhiều kinh nghiệm để giúp phòng tránh những rủi ro. Mà những người càng
nhiều tuổi thì kinh nghiệm của họ sẽ nhiều hơn.
Thứ bảy là nhân ái, vị tha và rộng lượng.
Lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam sớm được hình thành ngay từ buổi đầu
dựng nước, từ thời các vua Hùng đến thời đại Hồ Chí Minh. Truyền thống văn
hoá tinh thần tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, lòng nhân ái của người Việt Nam là
yêu thương con người, là “ thương người như thể thương thân”, là đối xử với con
6
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
người theo lẽ phải. Truyền thống này của dân tộc Việt Nam xuất phát từ cuộc
sống của người Việt cổ và phát triển theo lịch sử của dân tộc, thể hiện rõ nét
trong lao động, học tập và chiến đấu.
Khoan dung là rộng lương tha thứ hay là vị tha và rộng lượng – là một biểu
hiện của lòng nhân đạo, một giá trị cao đẹp của tình yêu thương con người, tinh
thần hướng thiện và yêu chuộng hoà bình… đã được đúc kết trong hàng ngàn
năm lịch sử, với lớp lớp các thế hệ xây dựng và vun đắp nay đã trở thành một
truyền thống quý báu, một giá trị hằng xuyên trong lịch sử văn hoá Việt
Nam.Cuộc chiến tranh mà bọn xâm lược gây ra cho nước ta đã để lại bao thương
đau: cảnh con mất cha, vợ mất chồng,. . . nhà cửa, làng mạc bị tàn phá. Ấy vây
mà,sau khi dành thắng lợi con người Việt Nam có thể từ bỏ qua tất cả, vượt lên
nỗi đau, thả hết tù binh chiến tranh.Tất cả các nước trên thế giới đều phải thốt
lên: Việt Nam nhân ái, vị tha và rộng lượng.
b, Hạn chế
Thứ nhất là tập tính kém hạch toán, không quen lường tính xa.
Do xuất phát từ một nước nông nghiệp, đặc biệt là nền văn minh lúa nước.
Tính mùa vụ của lúa nước đem đến cho con người Việt tập tính kém hạch toán vì
không quen lường xa, chi phối tâm tưởng người Việt ta là sự hám danh và kém
có thời cơ, vận hội lớn, vừa đứng trước nguy cơ, thách thức nghiêm trọng. Chính
trong bối cảnh như vậy. Thực chất của tư tưởng trung bình chủ nghĩa là chủ nghĩa
cơ hội hữu khuynh. Trong quan hệ xã hội, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh biểu hiện
thành nhóm trung gian, nhóm trung bình chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, hoàn cảnh xuất hiện tư tưởng trung bình chủ nghĩa có nét đặc
thù. Theo Hồ Chí Minh, trước hết đó là sự đồng cam cộng khổ trong kháng chiến
chống Pháp. Đồng cam cộng khổ là một tinh thần cần phải có để kháng chiến
thắng lợi. Trong điều kiện xây dựng hoà bình, vẫn cần đồng cam cộng khổ.
Nhưng theo Hồ Chí Minh, không được lẫn lộn giữa đồng cam cộng khổ và bình
quân chủ nghĩa. “Bình quân chủ nghĩa là gì? Là ai cũng như ai, bằng nhau hết.
8
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
Ví dụ: như Bác yếu chỉ ăn ba bát cơm, chú khoẻ cần nhiều hơn mà cũng ăn ba
bát, chú lùn cũng đòi may áo dài, Bác cao hơn cũng mặc áo dài như chú”.
Thứ tư là nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười ( cơ sở của chủ nghĩa thân
tộc – một người làm quan cả họ được nhờ )
Lối ứng xử trọng tình nhẹ lý trở thành nguyên tắc cơ bản chi phối, điều tiết
các mối quan hệ cũng khiến cho việc hành xử thường nặng tính chủ quan, tùy
tiện, thiếu tính nguyên tắc. Đặc điểm này cũng được đúc kết và lưu truyền trong
dân gian qua các câu thành ngữ quen thuộc như: “Một bồ cái lý không bằng một
tí cái tình” ; “Yêu nhau cau sáu bổ ba, ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười”; “Yêu
nhau mọi việc chẳng nề, dẫu trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”; “Yêu nhau củ ấu
cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo"…
Việc xử lý các quan hệ theo tình cảm sẽ dẫn đến thiếu tôn trọng tính
nguyên tắc, tùy tiện là một điều tất yếu. Truyền thống duy tình đã làm cho người
ta có thể có nhiều cách xử sự khác nhau trong cùng một hoàn cảnh, trong khi đó
pháp luật lại phải là chuẩn mực chung để điều tiết các mối quan hệ một cách
nghiêm khắc dựa trên tiêu chí khách quan và thống nhất.
Thứ sáu tư tưởng bảo thủ đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu thị.
Người dân Việt Nam ta không thích nói đến thất bại.Có người nói:” Hình
như phải nói thẳng, nói thật về sự thất bại, sai lầm, nhược điểm của mình, phải
thừa nhận “ tôi sai” là việc khiến người Việt Nam rất đau khổ. Ngược lại, khi có
dịp nói về thành công sự tài giỏi, trí tuệ họ lại rất hân hoan.” Thói xấu ấy của
người Việt càng bộc lộ rõ hơn trong thời buổi ngày nay.Họ sợ thua kém hơn
người khác, không chịu nhận rằng mình kém cỏi.Không chịu đào thải cái xấu để
hoàn thiện mình. Như câu ca dao “Ta về ta tắm ao ta/Dù trong dù đục ao nhà vẫn
hơn”.
III - GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ ĐÓ TRONG
BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA HIỆN NAY
Những hạn chế nêu trên gồm 6 hạn chế làtập tính kém hạch toán, không
quen lường tính xa; tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ; tâm lý bình quân
10
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
chủ nghĩa; nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười ( cơ sở của chủ nghĩa thân tộc –
một người làm quan cả họ được nhờ); tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ
nghĩa kinh nghiệm; tư tưởng bảo thủ đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu
thị. Để khắc phục những hạn chế đó trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay thì
chúng ta cần có các giải pháp là:
Thứ nhất, Thực hiện phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp, nông thôn, kết hợp tốt phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hóa
nông thôn, áp dụng khoa học công nghệ vào nông thôn. Thực tiễn này đòi hỏi
chúng ta phải đổi mới, sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm để nắm bắt cơ hội,
vượt qua thử thách, khó khăn, khắc phục sự lạc hậu về kinh tế, văn hóa, xã hội ở
khu vực nông thôn. Người dân cần có cái nhìn bao quát, hạch toán kỹ lưỡng và
lường tính xa hơn. Cần phải xã hội hóa khu vực nông thôn và nông dân, mở rộng
quan hệ giao lưu của họ với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác, nhất là với công
phối, trong đó lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế - xã hội là
chủ yếu, để tạo cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực
của mình.
Thứ tư,xây dựng môi trường văn hóa tiến bộ, lành mạnh nhằm khắc phục
và loại bỏ những mặt tiêu cực của tâm lý sản xuất nhỏ, những tập quán lạc hậu,
các tệ nạn xã hội và hủ tục mê tín dị đoan trong nhân dân. Môi trường văn hóa là
nơi thể hiện sự thống nhất trong đa dạng, vừa có yếu tố của truyền thống vừa có
yếu tố của hiện đại, do đó vừa là điều kiện để giữ gìn, phát triển, nuôi dưỡng, vun
trồng tính người, những giá trị chân, thiện, mỹ, vừa là điều kiện để khắc phục,
loại bỏ những gì trái với bản chất tốt đẹp của con người, những tính xấu, sự thấp
hèn…, Bao trùm nhất là xây dựng môi trường văn hóa với nội dung là kỷ cương
– tình thương – trách nhiệm của mỗi cá nhân, tập thể và toàn xã hội. Xây dựng
môi trường văn hóa phải đi từ cái gốc, từ cơ sở - đó là văn hóa làng xã, văn hóa
gia đình Việt Nam.
Thư năm,Cần có chính sách đảm bảo và khuyến khích người lao động, nhất
là lao động trẻ, như chính sách lương phù hợp, chính sách nhà ở, bảo hiểm xã
hội, chính sách khen thưởng những người có sáng kiến, cải tiến đóng góp lớn cho
12
Bài tập lớn môn Đại cương về văn hóa Việt Nam – N04 – TL1
sự phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế. Các chính sách
kinh tế – xã hội phải hướng vào phát huy tiềm năng sáng tạo của con người; điều
chỉnh lợi ích theo hướng “ kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi
ích xã hội”, tạo sự công bằng trong xã hội. Tạo mọi điều kiện để mọi người dân,
mọi thành phần kinh tế phát huy hết khả năng đóng góp xây dựng đất nước, tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh, làm giàu chính đáng, từ đó thúc đẩy tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ sáu, làm giàu các giá trị đạo đức truyền thống thông qua giao lưu, học
hỏi và hội nhập.Trên thế giới, sự phát triển các nền văn minh nhân loại cho thấy
Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2014.
2. GS,TS.Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), Giá trị văn hoá Việt Nam truyền thống
và biến đổi, NXB chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2014.
3. TS. Phạm Thái Việt (Chủ biên), Đại cương về văn hoá Việt Nam, NXB
văn hoá – thông tin , Hà Nội, 2004.
4. />option=com_content&view=article&id=10360:s-kcb-nckh&catid=309:skcb-nckh&Itemid=357
/>comp=tacpham&action=detail&id=4104
5. />
14