Tìm hiểu mối liên kết kinh tế trong sản xuất và tiêu thụ ngô tại xã Vĩnh ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 31

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Cây ngô (Zea mays. L) là một trong ba cây ngũ cốc có tiềm năng năng
suất cao, được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và có nhiều hình thức
sử dụng khác nhau. Trong tổng sản lượng ngô toàn cầu, có khoảng 66% được
sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm thủy sản, khoảng 21% được dùng
làm lương thực cho người. Ngoài ra, ngô còn được dùng trong công nghiệp
chế biến. Ước tính nhu cầu ngô năm 2020 của toàn thế giới là 837 triệu tấn.
Việt Nam, với dân số trên 80 triệu người và diện tích dành cho sản xuất
nông nghiệp ngày càng bi thu hẹp, bình quân 1.1381 m2 trên đầu người vào
năm 1984 dự kiến chỉ còn 793 m 2 vào năm 2020 do sự phát triển mạnh mẽ
của các ngành công nghiệp, các đô thị. Trong khi đó nhu cầu ngô làm lương
thực và thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và ngành công nghiệp chế biến ngày
càng tăng.
Bước vào nền kinh tế thị trường trong thời kỳ hội nhập có những đòi
hỏi khắt khe từ phía người phân phối sản phẩm. Đến lượt nhà phân phối đòi
hỏi người sản xuất cũng rất gắt gao để đáp ứng đúng mức đòi hỏi của thị
trường. Hiện nay, hàng hóa nông nghiệp của nước ta dồi dào và đa dạng
nhưng: chất lượng thấp, mẫu mã bao bì không hấp dẫn, ít có thương hiệu và
không đồng đều. Hàng hóa nhiều nhưng sản xuất không đồng loạt, mạnh ai
nấy làm, hàng nông sản cứ luẩn quẩn trong vòng vây giá cao thì nông dân hết
hàng, khi dư hàng thì rớt giá. Nếu cứ lặp lại tình trạng ấy thì đa số nông dân
nghèo ngày càng nghèo thêm so với nông dân các nước. Để đáp ứng đòi hỏi
của kinh tế thị trường, nông dân không có sự lựa chọn nào khác là phải tự
nguyện liên kết, hợp tác với nhau từ khâu sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản

1


phẩm để tạo ra khối lượng lớn, chất lượng cao từng mặt hàng, cạnh tranh

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất và
tiêu thụ ngô tại xã Vĩnh Ninh- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất các giải
pháp khắc phục những hạn chế, góp phần phát triển mối liên kết kinh tế trong
sản xuất - tiêu thụ ngô có hiệu quả hơn.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa các vấn đề về lý luận cơ bản và thực tiễn liên kết
sản xuất và tiêu thụ ngô.
- Đánh giá thực trạng mối liên kết kinh tế trong sản xuất – tiêu thụ ngô.
- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến liên kết kinh tế trong sản xuấttiêu thụ ngô.
- Đề xuất khuyến nghị một số giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế và
góp phần phát triển mối liên kết kinh tế trong sản xuất- tiêu thụ ngô trên địa
bàn xã Vĩnh Ninh - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tác nhân tham gia vào mối liên kết kinh tế
trong sản xuất- tiêu thụ ngô trên địa bàn xã đó là: Nhà nước, Nhà khoa học,
Doanh nghiệp/người thu gom, Nhà nông và tác nhân là nhà nông không tham gia
vào mối liên kết để đánh giá thực trạng và từ đó đưa ra giải pháp phát triển mối
liên kết trong sản xuất và tiêu thụ ngô ngày càng hoàn thiện hơn.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Vĩnh Ninh - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc
- Phạm vi thời gian: từ ngày 12/1/2010 - 26/5/2010
- Nội dung: Phân tích thực trạng liên kết trong sản xuất – tiêu thụ ngô,
các yếu tố ảnh hưởng, các quan hệ tác động đến liên kết kinh tế trong sản xuất
– tiêu thụ và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển liên kết kinh tế trong sản
xuất – tiêu thụ ngô xã Vĩnh Ninh nói riêng và trong sản xuất nông nghiệp nói
chung.


4


mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng kinh tế hoặc các quy chế
hoạt động để tiến hành phân công sản xuất chuyên môn hóa và hiệp tác hóa,
nhằm khai thác tốt tiềm năng của từng đơn vị tham gia liên kết; hoặc để cùng
tạo thị trường chung, phân định hạn mức sản lượng cho từng đơn vị thành
viên, giá cả cho từng loại sản phẩm nhằm bảo vệ lợi ích của nhau. Liên kết
kinh tế có nhiều hình thức và quy mô tổ chức khác nhau, tương ứng với nhu
cầu sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thành viên tham gia liên kết. Những
hình thức liên kết phổ biến là hiệp hội sản suất và tiêu thụ, nhóm sản xuất,
nhóm vệ tinh, hội đồng sản xuất và tiêu thụ theo ngành hoặc theo vùng, liên
đoàn xuất nhập khẩu…Các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ,
không phân biệt hình thức sở hữu, quan hệ trực thuộc về mặt quản lý nhà
nước, ngành kinh tế- kỹ thuật hay lãnh thổ. Trong khi tham gia liên kết kinh
tế, không một đơn vị nào bị mất quyền tự chủ của mình, cũng như không
được miễn giảm bất cứ nghĩa vụ nào đối với nhà nước theo pháp luật hay
nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đã kí với các đơn vị khác.
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không
kể quy mô hay loại hình sở hữu. Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm
cách bù đắp sự thiếu hụt của mình , từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác
bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm
đem lại lợi ích cho các bên.
2.1.2 Nội dung của liên kết kinh tế trong sản xuất - tiêu thụ sản phẩm
* Liên kết trong việc mua bán nguyên liệu đầu vào trong sản xuất
Liên kết trong mua bán nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất kinh
doanh như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, thức ăn. Người nông dân có
lao động, vốn… trong quá trình sản xuất cần có những nguyên liệu đầu vào
khác như giống, thuốc BVTV…Mối liên kết này thường được tiến hành giữa
hộ nông dân với các công ty chế biến, doanh nghiệp cung ứng đầu vào, nhà

nghề nghiệp, hội nông dân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh)
cần tạo niềm tin ở nông dân bằng hiệu quả của khuyến nông đem lại. Nói cách
khác phải gắn lợi ích kinh tế đối với các cán bộ khoa học cơ sở, những người

6


hàng ngày tiếp cận với nông dân. Để tiêu thụ được giống, vật tư nông nghiệp,
thu hồi được công nợ và nhất là để tạo nguồn hàng ổn định cung cấp nông sản
nguyên liệu cho chế, biến - tiêu thụ, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong và
ngoài nước, đỏi hòi các doanh nghiệp phải liên kết chặt chẽ giữa khoa học và
sản xuất, bằng cách như thực hiện hợp đồng giữa doanh nghiệp và nhà khoa
học, hợp đồng chuyển giao công nghệ đến từng hộ gia đình nông dân ...
Thông qua các tổ chức khuyến nông, hội phụ nữ, các tổ chức quốc tế...
* Liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
Mối liên kết này thường được thể hiện giữa doanh nghiệp chế biến
nông sản với nông dân có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người thu
gom, HTX, trạm trung chuyển…Mục đích của mối liên kết doanh nghiệp với
nông dân nhằm đảm bảo chủ động nguồn nguyên liệu và yên tâm đầu ra của
sản phẩm nông nghiệp. Khi ký kết hợp đồng bao tiêu nông sản không chỉ giúp
nông dân yên tâm sản xuất mà còn nâng cao trình độ nhận thức của nông dân
xóa bỏ dần lối sản xuất tự cung, tự cấp, lạc hậu, nhỏ lẻ, manh mún..
Như vậy, khi tham gia liên kết kinh tế các bên có thể giúp đỡ nhau về
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh và quản lý; giúp đỡ nhau về đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật cũng như thực
hiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm…Các hoạt
động này được ghi thành các bản cam kết, hợp đồng kinh tế hay thỏa thuận
miệng dựa vào sự tin tưởng lẫn nhau.
2.1.3 Vai trò của liên kết kinh tế trong sản xuất – tiêu thụ
- Liên kết kinh tế giúp các tác nhân khắc phục những bất lợi về qui mô.

hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên kết, cũng như tăng thu
ngân sách Nhà nước.
Liên kết để cùng nhau tạo ra thị trường chung, phân tích hạn mức cho
từng đơn vị thành viên, giá cả cho từng loại sản phẩm để đảm bảo lợi ích kinh
tế của nhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất.
2.1.5 Phương thức liên kết kinh tế
Nếu dựa theo vai trò thì quan hệ kinh tế giữa các tác nhân từ sản xuất đến

8


tiêu dùng, người ta có các phương thức liên kết là liên kết dọc và liên kết ngang.
- liên kết dọc: đây là phương thức liên kết mà các thành viên khi
tham gia liên kết sẽ làm chủ toàn bộ dây chuyền sản xuất, nó được thực hiện
theo trật tự của các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh như liên kết giữa
sản xuất và chế biến hoặc cả sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hiện
nay, phương thức liên kết này phát triển rất mạnh trong hầu hết các sơ sở sản
xuất và đã mang lại hiệu quả tốt, ví dụ: cơ sở chế biến hạt điều của tỉnh Long
An liên kết với nông dân trong dản xuất hạt điều đã giúp cho nông dân tiêu
thụ nhanh, không ứ đọng sản phẩm còn cơ sở chế biến thì có đủ nguyên liệu
để hoạt động; công ty mía đường Lam sơn (Thanh Hóa) cũng liên kết với
nông dân tạo nên mối quan hệ dây chuyền từ sản xuất mía nguyên liệu đến
chế biến; công ty cao su Đắc Lắc liên kết với nông dân trong vùng để thu mua
mủ cao su, giúp nông dân tiêu thụ tốt sản phẩm…
- Liên kết ngang: Là mối liên kết giữa các tác nhân sản xuất như nhau ở
cùng một cấp, cùng một giai đoạn hay cùng một mắt xích của nghành hàng
nhằm mục đích làm chủ thị trường sản phẩm.
Phối hợp dọc như là một quá trình giao dịch thị trường giữa nhà cung
cấp và khách hàng. Phối hợp dọc bao gồm một số hoặc nhiều giao dịch trao
đổi các yếu tố đầu vào, hoặc trao đổi nguyên liệu giữa người sản xuất và

phần vào hợp tác xã cổ phần của nông dân.
Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệ
kinh tế - kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanh nghiệp
chế biến và nông dân. Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết và bảo vệ
thì mới có cơ sở để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm quyền lợi và
nghĩa vụ của hai bên tham gia liên kết. Vì vậy, quan hệ liên kết đó phải được
thực hiện dưới một hình thức pháp lý nhất định, làm cơ sở để ràng buộc trách
nhiệm giữa hai bên liên kết và được pháp luật bảo vệ.
2.1.7 Ý nghĩa kinh tế, xã hội trong liên kết kinh tế
- Tăng cường liên minh công nông tri thức: việc chuyển đổi phương
thức sản xuất nông nghiệp từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa thì việc

10


liên minh công nông tri thức có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho quá
trình sản xuất - chế biến - tiêu thụ được hiệu quả hơn.
- Thực hiện quan hệ hợp tác: qua liên kết tăng cường quan hệ hợp tác
giữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn.
- Giải quyết quan hệ phân phối: thông qua liên kết vấn đề phân phối,
thu nhập, trách nhiệm và quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể
hơn, sản phẩm đến với người tiêu dùng mạnh hơn.
- Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: liên kết giúp cho việc vận
dụng, sử dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất sẽ đem lại hiệu quả cao
hơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn.
- Tạo sự gắn kết giữa bốn nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh
nghiệp, nhà nông): khi các nhà cùng tham gia vào liên kết thì hiệu quả thu
được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện. Với việc tham gia của nhà
nước tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách sẽ được hạn chế tối đa và
thay vào đó là một chính sách đồng bộ trong sản xuất. Với sự có mặt của các

hưởng đến sự gắn liền đất sản xuất của hộ. Tổ chức khoa học giữ vai trò rất
quan trọng trong quá trình liên kết. Họ chính là người giúp nông dân ứng
dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng suất, chất lượng giảm
chi phí sản xuất, tăng giá bán và tăng sức cạnh tranh của hàng hoá. Tuy nhiên
cho đến nay, số đông các cơ quan khoa học vẫn lúng túng khi thực hiện liên
kết bốn nhà.
Vẫn còn thiếu vắng các cơ quan hay tổ chức nghiên cứu mạnh dạn chủ
động đưa định hướng liên kết thành một ưu tiên trong việc triển khai các
chương trình, dự án nghiên cứu. Ngay cả những hợp đồng được kí kết thông
qua hoạt động liên kết thì quyền lợi vật chất của các cơ quan khoa học hay
các nhà khoa học cũng chưa được xác định rõ ràng.
2.1.8.4 Các yếu tố từ nhà nước
Tác động của chính quyền địa phương ít ảnh hưởng, sau đó vấn đề sản

12


xuất, thu mua các tình trạng tranh chấp xảy ra chính quyền ít có vai trò trọng
tài để giải quyết.
Vai trò, chức năng về trung gian, cầu nối của chính quyền các cấp còn
hạn chế do chính sách và do bản thân chính quyền (nhất là chính quyền cấp
cơ sở) đã không phát huy và làm tròn trách nhiệm là trọng tài để giải quyết
các vấn đề ảnh hưởng đến liên kết.
Chính sách chưa thật sự đi sát với người sản xuất nông sản, còn ở dạng
chung chung khiến cho hộ nông dân gặp khó khăn trong khi vận dụng vào
liên kết.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực tiễn liên kết ở một số quốc gia trên thế giới
Mô hình liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và
nhà nông có thề diễn ra trong nhiều ngành hàng nông nghiệp. Thực tế của các

tác nông dân đứng ra liên hệ với các doanh nghiệp gia công chế biến, các đơn
vị kinh doanh nông sản, mặt khác tiến hành tổ chức nông dân sản xuất họ
đóng vai trò như chiếc cầu nối liên kết người dân và doanh nghiệp chế biến,
tiêu thụ với nông dân.
Thứ ba, hình thức hiệp hội nông dân chuyên nghiệp: Đây là hình thức
chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau về tiền vốn, kỹ thuật sản xuất, tiêu thụ... Giữa
các hộ gia đình trên cơ sở tự nguyện cùng có lợi.
Thứ tư, hình thức mắt xích của thị trường bán buôn: Ở hình thức này
hạt nhân trung tâm là các chợ buôn bán, các công ty thương mại nông sản.
Tức là các chợ công ty này tác động hướng dân nông dân sản xuất các mặt
hàng riêng biệt, từ đó hình thành các khu chuyên canh cung cấp đầu vào cho
kinh doanh của mình.
2.2.1.2 Thái Lan
Là một đất nước trồng cả rau nhiệt đới và ôn đới nên có thể nói chủng
loại rau của Thái Lan rất phong phú. Hiện nay có trên một trăm loại rau được

14


trồng ở Thái Lan, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến.
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các
kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - nhóm nông dân tự thành lập người bán buôn (tại Băng Cốc)/ người chế biến/ xuất khẩu/ - người bán buôn người bán lẻ - người tiêu dùng.
Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - người thu gom trên địa bàn trồng
rau - thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - người
bán lẻ - người tiêu dùng.
Thông thường, phần lớn các thương lái gom rau trực tiếp tại nông hộ và
chở rau đi bằng xe bán tải. Một số nông hộ cũng có thể bán trực tiếp ra chợ
bằng cách chuyên chở bằng xe tải riêng của gia đình. Rau thường được vận
chuyển vào buổi chiều và được tiêu thụ chủ yếu ở các chợ bán buôn rồi đưa

nghiệp chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh trên thị trường, tạo ra môi trường
kinh doanh lành mạnh, an toàn trong giai đoạn đầu hội nhập kinh tế quốc tế
thì việc liên kết bốn nhà là vô cùng quan trọng. Điển hình một số nơi đã thực
hiện thành công mô hình này như: Bình Thuận, Nam Định...
2.2.2.1 Tại Bình Thuận
Hiệu quả từ mô hình liên kết "bốn Nhà" để phòng trừ sâu bệnh trên lúa.
Bệnh rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá (RN, VL&LXL) hại lúa lâu nay diễn
biến phức tạp trên địa bàn tỉnh ta. Trong đó, huyện Đức Linh được coi là một
trong những điểm nóng của dịch bệnh.
Mô hình liên kết “4 nhà” (gồm nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh
nghiệp và nhà nông), nhằm quản lý dịch bệnh lần đầu tiên thực hiện tại vùng
lúa thị trấn Võ Xu (Đức Linh). Hội nghị tổng kết mới đây cho thấy rõ hiệu
quả trong việc giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, giảm chi phí giống và tăng năng suất so
những vùng lúa không thực hiện mô hình này.
Thực hiện mô hình liên kết “4 nhà” trong quản lý dịch bệnh, có đại
diện Sở Nông nghiệp & PTNT (Chi cục BVTV tỉnh và Trạm BVTV Đức
Linh), Viện BVTV, Công ty CP BVTV An Giang và 13 hộ nông dân tham

16


gia, trên diện tích 11,5 ha lúa vụ đông xuân 2008- 2009. Theo đánh giá của
địa phương, qua thời gian thực hiện (từ tháng 10/2008) đến nay đã cho hiệu
quả rõ rệt. Cụ thể, tỷ lệ nhiễm bệnh VL&LXL trong ruộng lúa của mô hình ở
mức thấp so với những ruộng lúa ngoài mô hình, tiết kiệm chi phí giống
(giảm 80-100kg/ha), nhưng năng suất lúa bình quân vẫn đạt khoảng 7 tấn/ha
(ruộng ngoài mô hình chỉ đạt 5 tấn/ha). Qua hạch toán sơ bộ, lợi nhuận từ
ruộng trong mô hình là 13 triệu đồng/ha, cao hơn 8 triệu đồng/ha so với ruộng
ngoài mô hình. Trước những kết quả đó, các hộ nông dân thực hiện mô hình
đều rất phấn khởi. Phải nói rằng, để quản lý được diện tích lúa bị nhiễm bệnh

kết "4 nhà" trong sản xuất, chế biến rau màu đặc biệt là các loại cây trồng vụ
đông nhằm phục vụ xuất khẩu.
Mô hình này đã tạo ra một khối lượng lớn nông sản hàng hoá xuất khẩu,
do đó có sức cạnh tranh trên thị trường, giúp nông dân và các doanh nghiệp
cùng làm giàu. Mục tiêu của tỉnh là phấn đấu đến năm 2010 mở rộng diện tích
cây vụ đông phục vụ chế biến xuất khẩu lên 3.000 ha. Trong đó, tỉnh tập trung ở
các huyện: Hải Hậu 900 ha, Ý Yên 600 ha, Nghĩa Hưng 400 ha, Vụ Bản 400
ha... để có sản lượng trên 72.000 tấn rau màu đưa vào chế biến sản phẩm xuất
khẩu. Nếu đạt được mục tiêu này thì đến năm 2010, hàng năm các huyện này sẽ
có thu nhập với giá trị 105 tỷ đồng từ cây vụ đông xuất khẩu.
Tỉnh Nam Định đã thúc đẩy liên kết “4 nhà” trong trồng rau màu xuất
khẩu”: triển khai các chính sách hỗ trợ người nông dân trồng các loại cây vụ
đông phục vụ xuất khẩu, đồng thời tổ chức cho các doanh nghiệp gặp gỡ với
nông dân để thoả thuận, ký kết hợp đồng trồng và tiêu thụ sản phẩm. Bên
cạnh đó, tỉnh cũng vận động các Ngân hàng Thương Mại tạo điều kiện thuận
lợi cho nông dân và các doanh nghiệp vay vốn đầu tư, mở rộng diện tích, chế
biến rau màu xuất khẩu.
Đến nay đã có 10 doanh nghiệp thường xuyên ký kết với gần 50 địa
phương trong tỉnh, nhằm phát triển trồng cây vụ đông xuất khẩu với tổng số
diện tích hơn 1.000 ha. Các doanh nghiệp còn ký kết hợp đồng với nông dân
các địa phương trong tỉnh cung cấp giống cây trồng có chất lượng cao và chủ
động đưa các giống cây mới vào đồng rộng.

18


Về phía người nông dân, họ đã đa dạng hoá cơ cấu cây trồng với nhiều
loại cây rau màu như cà chua, dưa chuột bao tử, ngô bao tử, ngô ngọt, ớt...
Thu nhập bình quân từ trồng cà chua nhót đạt 68 triệu đồng/ha/vụ, cà chua
quả to cho thu nhập 79,3 triệu đồng/ha/vụ, dưa chuột bao tử cho thu nhập 56,2

tăng cả về diện tích, sản lượng và năng suất. Hiện nay, cây ngô đứng thứ 3 về
diện tích, thứ 2 về sản lượng và thứ nhất về năng suất.
Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô trên thế giới một số năm
Năm
1961
2004/2005
2005/2006
2006/2007
2007/2008

Diện tích

Năng suất

(triệu ha)
104,8
145,0
145,6
148,6
158,0

Sản lượng

(tấn/ha)
(1000 tấn)
2,0
204,2
4,9
714,8
4,8

suất bình quân là 9,36 tấn/ha và tổng sản lượng là 267,6 triệu tấn chiếm 39%
sản lượng ngô toàn thế giới. Theo nguồn tin của bộ nông nghiệp Mỹ thì ngoài
sản xuất ngô làm lương thực thì Mỹ còn dùng ngô để sản xuất Ethanol.
Không chỉ có sản xuất với khối lượng lớn, Mỹ còn là quốc gia có lượng tiêu
thụ lớn chiếm 33,52% tổng lượng tiêu thụ ngô của thế giới là 702,5 đến 768,8
triệu tấn, hơn thế sản lượng xuất khẩu của Mỹ cũng rất cao chiếm 64,41% so
với sản lượng xuất khẩu của thế giới là 82,6 đến 96,7 triệu tấn. Tiếp theo Mỹ
là Trung Quốc, năm 2006 Trung Quốc sản xuất 27,14 triệu ha ngô với năng
suất bình quân 5,37 tấn/ha và tổng sản lượng là 145,63 triệu tấn. Tăng trưởng
diện tích hằng năm là 2,1%, năng suất 1,9% và sản lượng là 4,9%.
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô của một số nước năm 2006
Tên nước
Mỹ
Trung Quốc
Brazil
Mexico
Ấn Độ
Indonesia
Italia
Pháp
Canada

Diện tích

Năng suất

(triệu ha)
28,59
27,14
12,60


Theo nguồn tin của bộ nông nghiệp Mỹ thì ngoài sản xuất ngô làm
lương thực thì Mỹ còn dùng ngô để sản xuất Ethanol. Không chỉ có sản xuất
với khối lượng lớn, Mỹ còn là quốc gia có lượng tiêu thụ lớn chiếm 33,52%
tổng lượng tiêu thụ ngô của thế giới là 702,5 đến 768,8 triệu tấn, hơn thế sản
lượng xuất khẩu của Mỹ cũng rất cao chiếm 64,41% so với sản lượng xuất

21


khẩu của thế giới là 82,6 đến 96,7 triệu tấn. Tiếp theo Mỹ là Trung Quốc, năm
2006 Trung Quốc sản xuất 27,14 triệu ha ngô với năng suất bình quân 5,37
tấn/ha và tổng sản lượng là 145,63 triệu tấn. Tăng trưởng diện tích hằng năm
là 2,1%, năng suất 1,9% và sản lượng là 4,9%.
Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế toàn cầu cũng như xu hướng
phát triển của cây ngô thì cây ngô sẽ không ngừng tăng lên về năng suất và
sản lượng. Theo dự đoán của CIMMYT vào năm 2020 nhu cầu ngô trên thế
giới sẽ là 504 triệu tấn tăng 79% so với nhu cầu ngô năm 1995.
* Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam
Ngô được đưa Việt Nam cách đây khoảng 300 năm. Mặc dù là cây
lương thực đứng thứ 2 sau lúa, nhưng do truyền thống cây lúa nước cây ngô
không được chú trọng nên chưa phát huy được truyền thống của nó ở Việt
Nam. Nhưng những năm gần đây nhờ có những chính sách khuyến khích của
Đảng, chính phủ va có nhiều tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt về giống ngô, do đó
cây ngô đã có những bước tiến đáng kể trong tăng trưởng về diện tích, năng
suất và sản lượng.
Trong những năm 1945 – 1975 do điều kiện canh tác thâm canh còn lạc
hậu nên sản lượng liên tục giảm, sản xuất chủ yếu tập trung ở miền Bắc, năng
suất biến động từ 1 – 1,1 tấn/ha với diện tích 276 – 389,6 nghìn ha. Lúc này
vật liệu khởi đầu là các giống địa phương như ngô Đại Phong, gié Bắc Ninh,


Năng suất

(1000 ha)
267,6
392,2
431,8
556,8
730,2
723,3
810,4
912,7
990,4
1052,6
1033,1
1096,1
1125,9

(tạ/ha)
10,42
14,9
15,5
21,3
27,5
28,0
28,7
34,4
34,9
36,0
37,0

4531,2
>90
(Nguồn: Tổng cục thống kê, 2009)

Qua bảng 2.3 ta thấy sau 32 năm diện tích ngô tăng 4,0 lần, năng suất
tăng 3,8 lần và sản lượng tăng 15,3 lần. Có được sự chuyển biến đột ngột này,
ngoài các chính sách của Đảng còn do tác động mạnh của sự tiến bộ khoa học
kỹ thuật. Trong giai đoạn 1975 – 1980 năng suất rất thấp do chủ yếu sử dụng
các giống địa phương. Những năm 1981 - 1993 năng suất ngô đã có sự cải
thiện do dùng các giống TPTD cải tiến. Từ năm 1995 đến nay do tỷ lệ giống
ngô lại đưa vào sản xuất ngày càng tăng đã tạo ra sự đột biến về năng suất từ
15,5 tạ/ha lên tới 39,6 tạ/ha.
Hiện nay, ngô được trồng ở hầu hết các vùng miền trong cả nước.
Nhưng do tác động của các yếu tố đất đai, khí hậu, thời tiết nên năng suất có
sự khác biệt rõ rệt.
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô theo vùng ở Việt Nam
Vùng sản xuất

Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(1000 ha)

(tạ/ha)

(1000 tấn)


89,5
44,9
561,3
40,9
53,6
191,3
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2009)

Qua bảng 2.4 ta thấy các vùng ngô chính của Việt Nam là ĐBSH, Tây
Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Cây ngô đang ngày càng
tăng lên về diện tích, năng suất, sản lượng và là cây lương thực có tiềm năng
kinh tế cao.
2.2.4 Những bài học rút ra từ liên kết “bốn Nhà” trong sản xuất và chế biến
- Liên kết kinh tế giữa các hộ nông dân và các doanh nghiệp muốn có
hiệu quả tốt cần phải có thêm sự tham gia của nhà nước và nhà khoa học. Cần
liên kết chặt chẽ bốn nhà trên trong từng khâu trong quá trình sản xuất. Cần
phải nhân rộng mô hình liên kết bốn nhà trong sản xuât nông nghiệp, để đảm
bảo cho người dân yên tâm sản xuất, doanh nghiệp yên tâm đầu tư.
- Trong quá trình liên kết phải thực hiện đúng những quy định đã đề ra,
như vậy mới tạo nên mối liên kết lâu dài, đảm bảo lợi ích giữa các bên.
- Xử lý đúng đắn, kết hợp hài hòa lợi ích giữa các bên trong quá trình
liên kết. Khi xảy ra rủi ro, bất khả kháng thì nhà nước cần can thiệp để đảm
bảo cho cả người dân và doanh nghiệp cùng chia sẻ rủi ro đó.
- Để quá trình liên kết có sức lan tỏa và đi sâu vào cuộc sống cần đẩy
mạnh công tác tuyên truyền. Tuyên truyền phải là bước đi đầu tiên trong quá
trình liên kết, phải làm cho họ hiểu được lợi ích của liên kết.
2.2.5 Một số chủ trương, chính sách của nhà nước có liên quan
- QĐ 80/2002/TTg của Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ
nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng. Quyết định 80 và việc liên kết bốn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status