ảnh hưởng của loại và lượng thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của tôm he nhật bản trong nuôi thương phẩm - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tôm he Nhật Bản là loài tôm chịu lạnh, chất lượng thịt thơm ngon, được
thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng. Hiện nay đây là loài có giá trị thương
phẩm cao nhất trong các loài tôm nuôi. Nhu cầu tiêu thụ mặt hàng thuỷ sản nói
chung và tôm nói riêng trên thế giới ngày càng tăng. Nhằm đáp ứng nhu cầu đó,
một số nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc…đã phát triển các mô hình
nuôi tôm he Nhật Bản và đạt năng suất cao.
Ở Việt Nam, tôm he Nhật Bản là loài tôm bản địa nhưng việc quan tâm
phát triển loài tôm này còn chưa được đặt ra đúng mức. Cho đến vài năm gần
đây, do nhận thấy tôm he Nhật Bản có giá trị xuất khẩu cao nên một số hộ nuôi
tôm đã nhập giống từ Trung Quốc về nuôi. Tuy nhiên đa số các ao nuôi đều cho
năng suất thấp. Nguyên nhân thì có nhiều, trong đó chưa xác định loại và lượng
thức ăn phù hợp cho loài tôm này cũng là nguyên nhân cần phải quan tâm.
Tôm he Nhật Bản là loài tiêu thụ ít thức ăn nhưng lại đòi hỏi chất lượng
thức ăn cao, hàm lượng đạm trong thức ăn thường trên 50%. Nhưng cho đến nay
chưa có công trình nghiên cứu nào xác định loại và lượng thức ăn phù hợp cho
tôm he Nhật Bản trong nuôi thương phẩm. Với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng
của một số loại thức ăn lên sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm he Nhật Bản trong
nuôi thương phẩm đồng thời từ đó tìm ra loại và lượng thức ăn thích hợp cho
từng giai đoạn phát triển của tôm nuôi chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của loại và lượng thức ăn đến tỉ lệ sống và sinh trưởng của tôm
he Nhật Bản Penaeus japonicus trong nuôi thương phẩm”.

1


Khóa luận tốt nghiệp

thể đã ăn đủ, chúng lập tức ngừng bơi, từ từ chìm xuống mặt đáy và chỉ sau vài

2


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

giây, tôm đã lúi sâu vào trong cát chỉ để hở 2 ăng ten trên mặt đáy. Nếu thức ăn
được cung cấp đầy đủ, khoảng 2-3 giờ sáng, tôm đã ngừng hoạt động, mặt ao
trở nên phẳng lặng.
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của tôm he Nhật Bản
Tôm he Nhật Bản là một trong ba loài tôm biển có khả năng chịu lạnh
(hai loài còn lại là P. chinensis và P. penicillatus), vì vậy chúng có thể sinh
trưởng ở điều kiện nhiệt độ 10 – 32oC, nhiệt độ thích hợp nhất là 20 - 28oC. Ở
nhiệt độ dưới 10oC tôm ngừng ăn và sẽ bị chết nếu nhiệt độ dưới 4 - 6 oC. Nhiệt
độ dưới 15oC và trên 33oC tôm sinh trưởng chậm và dễ bị bệnh (Liao I.C, 1989;
Trần Phúc Linh, 2002). Một đặc tính đặc biệt của tôm he Nhật Bản là khi hạ
nhiệt độ nước nuôi xuống 10oC thì cơ thể chuyển sang trạng thái “hôn mê”,
không hoạt động và chúng có thể sống ngoài nước tới 20h tạo điều kiện cho việc
vận chuyển tôm sống ở trạng thái khô đi những khoảng cách rất xa (Liao, 1992).
Tôm he Nhật Bản có khả năng sinh trưởng trong khoảng độ muối từ 15 38‰, độ muối thích hợp nhất là 20 - 28‰. Tôm dễ bị chết khi độ muối thay đổi
đột ngột, nhất là sau các đợt mưa lớn (Kim, 1989).
Giá trị pH của nước biển để tôm sinh trưởng là 7.8 – 8.9, thích hợp nhất là
8.4 – 8.6.
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước (DO) để tôm sinh trưởng tốt là >
4ppm, tôm bị rơi vào trạng thái hôn mê và có thể gây chết nếu DO < 1ppm.
Tôm he Nhật Bản ưa sống trong môi trường nước sạch, tuy nhiên giới hạn thích
ứng với một số chỉ tiêu môi trường nuôi do các tài liệu đưa ra chưa thống nhất.

ngoài (giai đoạn phụ Z1), các loại men tiêu hoá chưa hoạt động hoặc hoạt động
chưa hiệu quả (MacDonald và ctv, 1990). Vì vậy, việc tiêu hoá thức ăn gặp
nhiều khó khăn. Để giúp cho quá trình tiêu hoá thức ăn thuận lợi, sinh vật phải
lấy các loại thức ăn có sẵn trong tự nhiên mà trong thành phần sinh hoá của
chúng có các men kích thích tiêu hoá. Sự hoạt động của các men tiêu hoá ở các
giai đoạn phát triển ấu trùng tôm cũng khác nhau. Giai đoạn Z 2, Z3 và M1 men
tiêu hoá hoạt động mạnh. Sự hoạt động yếu dần khi ấu trùng chuyển sang thời
kỳ đầu của PL. Hoạt động phân giải protein nhờ men protease kém ở giai đoạn
N, tăng tới đỉnh cao ở giai đoạn Z rồi giảm dần và duy trì ở mức độ thấp khi ấu
trùng chuyển sang giai đoạn PL (Luo, H.và Huang, H., 1981).
Những nghiên cứu tiếp theo đi sâu hơn về cơ chế tiếp nhận và khả năng
sử dụng thức ăn của ấu trùng. Luo & Huang (1981) sử dụng phương pháp C 14,
P32 để thiết lập thí nghiệm về tập tính bắt mồi và khả năng sử dụng các loại thức
4


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

ăn của hai loài tôm chịu lạnh P. orientalis và P. penicillatus. Các tác giả kết luận
rằng ấu trùng Z1, Z2, Z3 của hai loài này ăn lọc, ấu trùng M 1 mới bắt mồi chủ
động và bắt đầu ăn thịt. Tác giả còn quan sát được thời gian thức ăn lưu lại trong
ống tiêu hoá tuỳ thuộc vào giai đoạn phát triển của ấu trùng. Giai đoạn Z, thời
gian thức ăn lưu lại từ 7- 15 phút, M từ 14-24 phút, giai đoạn PL từ 1-3 h. Khả
năng lọc thức ăn và lượng thức ăn được ấu trùng sử dụng cũng khác nhau qua
các giai đoạn phát triển: ấu trùng Z lọc 1,5 - 6 ml/ ngày, M lọc 6-19 ml/ngày.
Khẩu phần của ấu trùng Z1 khoảng 50.000 - 110.000 tế bào tảo
Platymonas/ngày. Z2, Z3 khoảng 160.000- 320.000 tế bào/ ngày (Luo, H.và
Huang, H., 1981).

40-43%

P. vannamei

>30%

5


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

Trong điều kiện nuôi để tôm he Nhật Bản sinh trưởng và phát triển bình
thường thì hàm lượng protein trong thức ăn nhân tạo phải đạt tối thiểu 50%.
Hydrocacbon có một vai trò rất lớn đến quá trình tiêu hoá của tôm. Do tôm
không thể tự tổng hợp được hydrocacbon nên sự bổ sung từ thức ăn vào cơ thể
tôm là rất cần thiết. Lượng hydrocacbon chủ yếu được dùng cho việc cung cấp
năng lượng cho tôm, vai trò cầu trúc, tạo hình (vai trò của cellulose) và có góp
phần cho tế bào có được tương tác đặc hiệu…Hàm lượng tốt nhất về disaccarit
và polysaccarit trong thức ăn là 20%.
Các axit béo không no PUFA như 20: 4n-6, 20: 5n-3, 20: 6n-3 rất cần
thiết cho sự phát dục và đẻ trứng của tôm P. japonicus. Các axit béo họ 18: 2n-6,
18: 3n-3 có tác dụng kích thích tăng trưởng cho tôm. Vì vậy các nhà khoa học đã
tính được hàm lượng acid béo cho tôm he Nhật Bản thích hợp khoảng 6%.
Cholesterol là thành phần không thể thiếu được với tôm nó có tác dụng
cấu tạo nên cấu trúc của màng nguyên sinh chất, là tiền chất hình thành hormon
giới tính.Các thử nghiệm đã cho thấy rằng tôm được bổ sung cholesterol trong
thức ăn phát triển rất nhanh so với tôm không sử dụng cholesterol. Hàm lượng
thích hợp là 1,4-2,1%.

400
3000

P. monodon
14
100
200
2000

P. vannamei
50
80-100
200
1000

P. orientalis
60
140
400
1000

2.1.5. Đặc điểm sinh sản của tôm he Nhật Bản
* Mùa vụ sinh sản
Theo Hudinaga (1942), mùa vụ sinh sản của tôm he Nhật Bản tại Nhật là
từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 9 nhưng tập trung nhất vào tháng 6, 7 và 8.
Ở Việt Nam, tôm he Nhật bản sinh sản vào 2 mùa: tôm bắt đầu giao vĩ, chín và
đẻ trứng từ giữa tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm
sau (Phạm Ngọc Đẳng & ctv, 1986).
* Vòng đời.
Cũng như một số loài tôm khác thuộc giống Penaeus, quá trình phát triển

Nauplius
Tôm tiền trưởng thành
Trứng
Tôm trưởng thành
Tôm thành thục

Hình 2.1: Vòng đời phát triển của tôm he Nhật Bản (P. japonicus)
2.2. Những nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi tôm he Nhật Bản (Penaeus
japonicus) trên thế giới và ở Việt nam
2.2.1 Thế giới
Tôm he Nhật Bản là loài tôm có giá trị kinh tế lớn nhất tại Nhật và là đối
tượng nuôi chính. Trong những năm đầu của thập niên 20 thế kỷ 19, người Nhật
đã phát triển kỹ thuật nuôi đối tượng này. Thời gian đầu tôm được đánh bắt từ
biển có kích cỡ nhỏ, được nuôi giữ trong các ao và cho ăn bằng thức ăn của cá,
sản phẩm phụ của thuỷ sản đến khi chúng đạt kích cỡ thương phẩm. Nguồn tôm
giống được đánh bắt từ tự nhiên thường không đảm bảo về số lượng và sức khoẻ
của tôm, không kiểm soát được dịch bệnh, kích cỡ tôm đánh bắt không đều và
đặc biệt là chỉ có thể thu giống vào mùa hè. Như vậy, nguồn tôm giống gặp rất
nhiều khó khăn, vấn đề lớn nhất giai đoạn đó là tìm biện pháp để chủ động về
nguồn con giống.
Nhật Bản là cái nôi của công nghệ sản xuất nhân tạo giống tôm biển.
Năm 1933, Motosaku Fujinaga, một cử nhân mới tốt nghiệp trường Đại học
Tổng hợp Tokyo đã cho đẻ và ương nuôi thành công loài tôm kuruma
8


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49




Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

Trong những năm 1942-1949 các nhà nghiên cứu Nhật Bản bắt đầu chú ý
đến những loại thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao đáp ứng được nhu cầu
phát triển của tôm. Ở giai đoạn nuôi thương phẩm, Huginaga.M. mới chỉ nghiên
cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tươi sống như tôm nhỏ ướp đông và thịt
nhuyễn thể đến tốc độ sinh trưởng và tỉ lệ sống của tôm nuôi. Sau này một số tác
giả người Nhật bắt đầu nghiên cứu chế tạo thức ăn nhân tạo thay thế cho thức ăn
tươi sống. Thức ăn có nguồn gốc protein được chế biến từ các các nguyên liệu
khác nhau. 17 công thức thức ăn được đưa vào thử nghiệm, chia thành 3 nhóm,
có nguồn gốc và hàm lượng protein khác nhau. Nhóm 1 có 7 công thức, nguồn
gốc protein từ bột cá, hàm lượng protein trung bình là 69,7%. 10 công thức còn
lại nguồn gốc protein là thịt nhuyễn thể kết hợp với bột tôm, chia thành nhóm 2
có hàm lượng proteinlà 64,25% và nhóm 3 có hàm lượng protein là 70,5%. Cả 3
nhóm đều được bổ sung hỗn hợp vitamin và muối khoáng vớ hàm lượng như
nhau. Kết quả cho thấy tốc độ sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của tôm
ở nhóm 1 là thấp nhất mặc dù hàm lượng protein trong các công thức thức ăn ở
nhóm 1cao hơn ở nhóm 2 và có thấp hơn ở nhóm 3 nhưng không nhiều. Các tác
giả trên đã kết luận protein có nguồn gốc từ bột tôm, thịt của một số loài nhuyễn
thể hai mảnh vỏ (Venerupis Philippinarum, Mytilus edilus...) và mực cấu thành
nên thành phần thức ăn nhân tạo cho tốc độ sinh trưởng và hiệu suất sử dụng
thức ăn của tôm tốt hơn so với protein có nguồn gốc từ bột của hầu hết các loài
cá. Nguyên nhân của sự khác biệt về hiệu suất sử dụng thức ăn giữa protein có
nguồn gốc từ thịt nhuyễn thể, thịt tôm so với thịt cá là ở chỗ sự sắp xếp các
amino acid trong protein của nhuyễn thể tương tự như cấu trúc trong thịt tôm.
Năm 1957 các nhà nghiên cứu về tôm của Nhật Bản đã thử nghiệm công

mật độ nuôi có thể tới trên 100 con/m2, cho ăn thức ăn có hàm lượng protein trên
60%, năng suất có thể đạt tới 35 tấn/ha/vụ. Tuy nhiên loại hình nuôi này có chi
phí xây dựng rất cao, hoạt động rất tốn kém; mặt khác do mật độ nuôi và sinh
khối tôm trong bể nuôi quá cao rất dễ xảy ra dịch bệnh cho nên loại hình nuôi
này không phát triẻn được (Fast, 1992; Shigueno, 1992; Liao và Chien, 1994).
2.2.2. Việt Nam
Hiện nay, loài tôm này còn là đối tượng mới ở nước ta tuy nhiên với đặc
tính thích nghi được với điều kiện lạnh và có giá trị kinh tế cao nên tôm
P.japonicus đang là đối tượng hết sức triển vọng trong việc cung cấp nguồn tôm
thương phẩm khi thị trường khan hiếm. Những năm trước đây có một số nơi
thuộc Hải Phòng, Quảng Ninh đã nuôi loài tôm này để tận dụng những vụ ao
11


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

đầm nuôi vào mùa cuối thu đầu đông nhưng sản lượng thu hoạch không cao,
khoảng vài chục đến 200 kg/ha/vụ do chưa có hiểu biết đầy đủ về đặc điểm sinh
học cũng như kỹ thuật nuôi loài tôm này.
Chúng ta đã có một số công trình nghiên cứu về tôm he Nhật Bản: Ngô
Vĩnh Hanh (Luận văn thạc sỹ nông nghiệp) đã nghiên cứu đặc điểm sinh sản
của tôm he Nhật Bản (P. japonicus Bate, 1888) ở ngoài tự nhiên làm cơ sở lựa
chọn tôm mẹ cho sinh sản nhân tạo.
Sau 2 năm nghiên cứu (2000-2002), Viện Nghiên cứu Hải sản đã thành
công trong việc cho đẻ và xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo
loài tôm he Nhật bản. Quy trình đã được tiếp tục hoàn thiện tại Hải Phòng vào năm
2003. Hiện nay, quy trình sản xuất giống tôm he Nhật Bản đã có thể phổ biến, áp
dụng rộng rãi ở các trại giống thuỷ sản tại địa phương để phát triển sản xuất.

(Nakano H. và ctv, 1994).
Để tôm he Nhật Bản trở thành đối tượng nuôi trong tương lai thì cần phải
có những nghiên cứu sâu hơn nữa và nghiên cứu một cách có hệ thống về đặc
điểm sinh học cũng như công nghệ nuôi loài tôm này.

13


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng: tôm he Nhật Bản từ P20 đến đạt khối lượng thương phẩm.
Theo thống kê của FAO, tôm he Nhật Bản là loài có giá trị kinh tế cao,
được phân loại như sau:
Nghành chân khớp…. ……..............Arthropoda
Lớp giáp xác ……………............Crustacea
Phân lớp giáp xác bậc cao…......Malacostraca
Bộ mười chân…….. . ...........Decapoda
Bộ phụ bơi lội ……. ........Natantia
Họ tôm he…. .. .........Penacidae
Giống…................Penaeus
Loài...............Penaeus Japonicus Bate, 1888
Tôm he Nhật Bản phân bố ở nhiều nước khác nhau nên nó có các tên:
Flowery prawn ở Hongkong, ở Nhật Bản là Kuruma ebi, ở Hàn quốc là Oriental
brown shrimp, ở Mỹ là Kuruma shrimp, ở Australia là Japanese king prawn…
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2008.
- Địa điểm: Trạm nghiên cứu thuỷ sản nước lợ Quý Kim - Hải Phòng.

37
37
37
37

Thành phần dinh dưỡng (%)
Béo thô Tro thô Chất
Độ ẩm Canxi


xơ ≤


5
15
4
11
2,3
5
15
4
11
2,3
5
15
4
11
2,3
4.57
16

9002
9003
9004

42
40
36
36

Béo thô


3
3

Chất xơ


Tro thô


Độ ẩm


3
4

14
14
16



Độ ẩm


201

45

4

16

3

11

Độ bền
trong
nước (h)

4

202

45

4

16


11

4

15


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

- Khẩu phần ăn ban đầu cho tôm P 20 được lấy là 16 – 15– 14% khối lượng
thân tôm. Cứ sau 10 ngày khẩu phần ăn điều chỉnh một lần bằng cách dựa vào
kết quả thu được của giai đoạn thí nghiệm trước, ở lô nào cho tỉ lệ sống cao, sinh
trưởng nhanh hơn và môi trường ổn định thì lấy lượng thức ăn đó làm lượng
khởi đâù cho giai đoạn tiếp theo. Cứ như vậy, thí nghiệm tiến hành đến khi kết
thúc thí nghiệm.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm:
LOẠI THỨC ĂN

GROBEST

L1

L2

CP

L3

Ts (%) =A/ B × 100
Trong đó:
Ts: tỉ lệ sống ở mỗi giai đoạn
A: số lượng tôm ở giai đoạn sau
16


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

B: số lượng tôm ở giai đoạn trước
- Phương pháp xác định tốc độ sinh trưởng: 10 ngày xác định 1 lần, lấy 30
con tôm ở mỗi lô thí nghiệm, cân khối lượng và đo chiều dài thân tôm.
Tốc độ sinh trưởng ngày :
Tính theo khối lượng:

AW =

Tính theo chiều dài:

AL =

Wt 2 − Wt1
t2 - t1

Lt 2 − Lt1
t 2 − t1

Trong đó:

Bảng 4.1: Lượng thức ăn đã sử dụng
Loại
Bể thí nghiệm

Grobest
Bể9

Bể8

CP
Bể7

Bể6

Bể5

Thai-one
Bể4

Bể3

Bể2

Bể1

Khẩu phần ăn hàng ngày (*)


0 – 10 ngày


12

14

13

12

11

10

9

12

11

10

13

12

11

9.5

8.5


6

8.5

7.5

6.5

7

6

5

7

6

5

8

7

6

5

4


3.5

3

2.5

2

2

2

2

4.5

3.5

2.5

2

2

2

2

2


20 - 30
ngày
30 - 40
ngày
40 - 50
ngày
50 - 60
ngày
60 - 70
ngày
70 - 80
ngày
80 - 90
ngày
90 - 100
ngày

Thai-one

CP

BỂ 9

BỂ 8

BỂ 7

BỂ 6

BỂ 5


0.074

0.074

0.074

0.074

0.074

0.074

0.074

0.074

TLS (%)
CDTB (cm)
KLTB (g)
TLS (%)
CDTB (cm)
KLTB (g)
TLS (%)
CDTB (cm)
KLTB (g)
TLS (%)
CDTB (cm)
KLTB (g)
TLS (%)

2
91.3
7.81
3.79
92.8
8.91
7.33
100
10.22
8.78
98.7
11.45
10.23
100
11.96
11.31
100
12.67
13
100

100
2.32
0.12
83.8
3.56
0.28
79.4
5.17
0.85

5.05
0.83
82.7
6.3
1.99
88.1
7.32
3.74
87.6
8.25
7.29
96.1
9.54
8.59
100
10.74
10
100
11.16
11.1
100
11.89
12.02
100

100
2.32
0.13
77.2
3.71

78.3
3.53
0.27
81.5
5.01
0.72
82.6
6.63
1.93
94.7
7.76
3.88
95.5
8.84
7.29
96.5
10.19
8.73
100
11.46
10.23
100
12.06
11.34
100
13.25
12.69
100

100


100
2.35
0.11
85
3.6
0.26
79.7
5.12
0.82
83.6
6.72
2.05
89.2
7.75
3.63
96.7
9.01
7.36
100
10.47
8.84
98.8
11.49
10.2
100
11.89
11.2
100
12.63

100
12.85
13.07
100

100
2.39
0.16
89.4
3.82
0.3
81.9
5.4
0.91
85.6
7.1
2.19
92
8.23
4.1
98
9.33
7.8
100
10.83
9.3
100
11.98
10.8
100

Các yếu tố môi trường ở các lô thí nghiệm trong giai đoạn này không có
sự khác biệt nhau nhiều lắm, chất lượng môi trường đều được đảm bảo. Riêng
chỉ có lô thí nghiệm cho ăn 16% khối lượng thân (đối với loại G) là thừa thức ăn
và lô thí nghiệm cho ăn 15% khối lượng thân (đối với loại CP) cũng thừa nhưng
rất ít.
Từ số liệu thu được chúng tôi thấy rằng ở giai đoạn này khi cho tôm ăn
với lượng 14% khối lượng thân (đối với cả 3 loại G, CP, T) đều cho kết quả tốt
về sinh trưởng, tỉ lệ sống cũng như chất lượng môi trường. Vì vậy lượng thức ăn
này sẽ được lấy để làm lượng thức ăn khởi đầu cho giai đoạn tiếp theo.
4.1.2. Giai đoạn từ 10 – 20 ngày
Giai đoạn này cho tôm ăn với lượng 14 – 13 – 12% khối lượng thân. Đến
lần kiểm tra thứ 2 thấy có sự khác biệt về chiều dài và khối lượng.
Chiều dài, khối lượng và tỉ lệ sống của tôm khi cho ăn loại G với các lượng
khác nhau lần lượt là: 3.67(cm), 0.29(g), 79.8%; 3.56(cm), 0.28(g), 79.4%;
4(cm), 0.31(g), 81.3%. Như vậy, cho ăn với lượng 12% khối lượng thân đã đem
20


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

lại kết quả tốt hơn hai lượng còn lại cả về sinh trưởng và tỉ lệ sống. Tuy nhiên ở
cả 3 bể cho ăn G đều thấy thừa thức ăn. Điều đó chứng tỏ mặc dù với lượng
12% khối lượng thân cho kết quả tốt nhưng lượng chúng tôi cho ăn là hơi nhiều.
Vì vậy trong giai đoạn tiếp theo lượng thức ăn sẽ được điều chỉnh cho phù hợp.
Thức ăn CP cũng cho kết quả tương tự. Chúng tôi chọn lượng thức ăn cho
giai đoạn sau là 12% khối lượng thân.
Cũng cho ăn với lượng 14 – 13 – 12% khối lượng thân nhưng ở thức ăn T, lượng
13% lại cho kết quả về sinh trưởng, tỉ lệ sống cao hơn.

10

9

5.08a;
0.81a
0.141;
0.052
82.8
74.52
0.05
43

5.17a;
0.85b
0.161;
0.057
83.3
85
0.05
43

5.05a;
0.83a
0.105;
0.052
82.7
83.83
0.04
45

CP
BỂ 6
BỂ 5
BỂ 4
Khẩu phần ăn (% khối lượng thân)
12
11
10
a
a
Chiều dài, khối lượng L(cm), W(g)
5.11 ;
5.01 ;
5.44b;
0.75a
0.72a
0.79b
Tốc độ sinh trưởng ngày
0.14;
0.148;
0.15;
L(cm/ngày), W(g/ngày)
0.048
0.045
0.047
Tỉ lệ sống (%)
84.8
82.6
85.1
Năng suất (g)

THAI-ONE
BỂ 3
Lượng thức ăn (% khối lượng 13

BỂ 2
12

BỂ1
11

thân)
Chiều dài, khối lượng L(cm),

5.12a;

5.32a;

5.4a;

W(g)
Tốc độ sinh trưởng ngày

0.82A
0.152;

0.86A
0.154;

0.91B
0.158;

thừa thức ăn nên chúng tôi lấy 10% làm lượng khởi đầu.
4.1.4. Giai đoạn 30 – 40 ngày
Bảng 4.4a: Khẩu phần thức ăn Grobest và các yếu tố theo
dõi giai đoạn 30 – 40 ngày
GROBEST
BỂ 9
23

BỂ 8

BỂ7


Khóa luận tốt nghiệp

Trương Thị Hà TS49

Khẩu phần ăn (% khối lượng thân)
Chiều dài, khối lượng L(cm),

9.5
6.65b;

8.5
6.88b;

7.5
6.3a;

W(g)


trưởng

ngày

L(cm/ngày), W(g/ngày)
Tỉ lệ sống (%)
Năng suất (g)
Chất lượng NH3
Độ trong
môi trường

So với giai đoạn trước, ở tất cả các bể đều tăng nhanh về khối lượng,
chiều dài có tăng nhưng tăng với tốc độ chậm hơn. Chiều dài, khối lượng tôm ở
bể 7 thấp hơn so với hai bể 8 và 9. Chiều dài, khối lượng tôm ở bể 8 và bể 9 lần
lượt là 6.88(cm), 2.02(g), 6.65(cm), 2(g). Mặc dù có sự sai khác về chiều dài và
khối lượng tôm ở hai bể này nhưng sự sai khác đó là không có ý nghĩa về mặt
thống kê (P
Tốc độ sinh trưởng ngày

0.123;

0.162;

0.159;

L(cm/ngày), W(g/ngày)
Tỉ lệ sống (%)
Năng suất (g)
Chất lượng NH3
Độ trong
môi trường

0.116
89.4
162.35
0.07
40

0.121
94.7
173.7
0.05
41

0.116
89.5
200.85

Tỉ lệ sống (%)
89.2
90.4
92
Năng suất (g)
186.55
197.6
227.76
Chất lượng NH3
0.07
0.07
0.05
Độ trong
40
41
42
môi trường
Hai loại thức ăn CP, T giai đoạn 30 – 40 ngày cùng cho ăn với khẩu phần
10 – 9 – 8% khối lượng thân nhưng loại CP cho kết quả tốt ở lượng 9% còn loại
T lại cho kết quả tốt ở lượng 8%. Khẩu phần ăn cho giai đoạn sau qua đây đã
được xác định: 9 – 8 – 7% đối với thức ăn CP và 8 – 7 – 6% đối với thức ăn T.
4.1.5. Giai đoạn 40 – 50 ngày
Bảng 4.5a: Khẩu phần thức ăn Grobest và các yếu tố theo dõi
giai đoạn 40 – 50 ngày
GROBEST
BỂ 9
BỂ 8
BỂ7
Khẩu phần ăn (% khối lượng
8.5


0.175
87.6
291.72

25


Trích đoạn KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status