đánh giá khả năng sinh sản của đàn lợn ông bà nuôi tại một số cơ sở giống tỉnh hải dương - Pdf 31

1. MỞ ĐẦU

1.1

Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp với hai ngành sản xuất chính là trồng

trọt và chăn nuôi; trong đó chăn nuôi chiếm tỷ trọng 28-32%. Trong 10 năm
gần đây, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt mức tăng trưởng khá, vào
khoảng 5,2% bình quân hàng năm [6]; trong khi đó tổng giá trị sản xuất của
toàn ngành nông nghiệp chỉ đạt mức 4,5% bình quân hàng năm. Đặc biệt là
chăn nuôi lợn tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Số đầu lợn tăng liên
tục qua các năm từ 21,7 triệu con năm 2001 lên 27,4 triệu con năm 2005; tăng
trưởng bình quân 6%/năm. Riêng đàn lợn nái có tốc độ tăng trưởng khá nhanh
từ 2,95 triệu con năm 2001 lên 3,88 triệu con năm 2005. Đàn nái năm 2005
chiếm 14% tổng đàn, trong đó nái ngoại là 9,6%. Sản lượng thịt cũng tăng cao
từ 1,51 triệu tấn năm 2001 lên 2,29 triệu tấn năm 2005, thịt lợn luôn chiếm tỷ
lệ cao từ 76 – 77% trong tổng sản lượng thịt các loại sản xuất trong năm [6].
Những năm gần đây, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập của
người dân tăng cao, nhu cầu về thực phẩm chất lượng cũng theo đó tăng lên,
đặc biệt là thịt lợn nhiều nạc. Vì vậy, ngành chăn nuôi đã và đang mở rộng
theo hướng tăng năng suất và tăng tỷ lệ nạc. Chính vì vậy, lợn lai 3 – 4 máu,
lợn ngoại được đưa vào nuôi phổ biến trong các nông hộ và trang trại chăn
nuôi công nghiệp.
Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc Việt Nam, Hải Dương là
tỉnh sản xuất nông nghiệp phát triển với 65% hộ nông dân tham gia sản xuất
nông nghiệp. Trong 5 năm qua (2001 – 2005) kinh tế phát triển với tốc độ khá
cao, tổng sản phẩm (GDP) tăng 10%/năm, trong đó nông nghiệp tăng
4,8%/năm, riêng ngành chăn nuôi tăng 9%/năm. Đến 1/10/2008, tổng đàn lợn
là 629.414 con tăng 2,4% so với cùng kỳ; trong đó đàn nái 111.654 con tăng
2,6%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 79.414 tấn tăng 2,3% [9].

lợn nái ông bà cả về chất lượng và số lượng.
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến năng suất
sinh sản của hai dòng nái C1050 và C1230
- Theo dõi về tiêu tốn thức ăn của hai dòng nái C1050 và C1230 giai
đoạn từ khi phối giống đến khi xuất bán lợn con.

2


2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1

Đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn

2.1.1 Tuổi thành thục về tính và các yếu tố ảnh hưởng
2.1.1.1 Tuổi thành thục về tính
- Tuổi thành thục về tính là tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và
có khả năng sinh sản. Đây là thời điểm lợn cái bắt đầu động dục lần đầu tiên.
Tuy nhiên, trên thực tế hầu như lần động dục này lợn cái không chửa đẻ mà
chỉ có tác dụng báo hiệu cho khả năng sinh sản lợn cái.
- Khi thành thục về tính, lợn cái có các biểu hiện:
+ Bộ máy sinh dục phát triển tương đối hoàn chỉnh, con cái rụng trứng
(rụng lần đầu), con đực sinh tinh. Tinh trùng và trứng gặp nhau có khả năng
thụ thai.
+ Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp.
+ Xuất hiện các phản xạ sinh dục: con đực có phản xạ giao phối còn
con cái thì động dục.
Thành thục ở lợn cái khoảng 6 tháng tuổi với độ biến động từ 4 – 8
tháng tuổi (Trần Cừ và cộng sự, 1975) [12], còn theo Hughes và cộng sự
(1980) [52] thì phạm vi biến động về tuổi động dục lần đầu của lợn là 135 –

trị 2.900 kcal ME/kg thức ăn và 14% protein thô.
Điều chỉnh mức ăn để khối lượng đạt 120 – 140 kg ở chu kỳ động dục
thứ 3 và được phối giống. Việc khống chế năng lượng chẳng những tiết kiệm
chi phí thức ăn mà còn tránh được tăng trọng không cần thiết, có thể rút ngắn
thời gian sinh sản. Đây chính là yếu tố làm cho sự phát triển của lợn cái hậu
trở thành không đạt yêu cầu để làm giống cũng như nái giống trưởng thành.
Trước khi phối giống 14 ngày cho ăn chế độ kích dục, tăng lượng thức
ăn từ 1 – 1,5 kg, có bổ sung khoáng và sinh tố thì sẽ giúp cho lợn nái ăn được
nhiều và tăng số trứng rụng từ 2 – 2,1 trứng/nái.

4


Sau khi phối giống cần chuyển chế độ ăn hạn chế và thay thế bằng mức
năng lượng trung bình. Nếu tiếp tục cho ăn ở mức năng lượng cao sẽ làm phát
triển tỷ lệ chết phôi, chết thai làm ảnh hưởng lượng con sinh ra/ổ.
+ Ảnh hưởng của mùa vụ và thời gian chiếu sáng đến tuổi thành thục:
Sự khác biệt về mùa vụ cũng ảnh hưởng tới kỳ động dục lần đầu. Nói
chung lợn cái được sinh ra về mùa thu sẽ thành thục khi thể trọng còn hơi
thấp và tuổi cũng ít hơn so với lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa xuân.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng không nhỏ, mùa hè nhiệt độ cao, sự thành thục về
tính chậm nhưng nhiệt độ thấp lại không ảnh hưởng đến quá trình phát dục.
Vì vậy cần có những biện pháp chống nóng, chóng lạnh cho lợn. Thời gian
chiếu sáng được xem như ảnh hưởng mùa vụ. Mùa đông có thời gian chiếu
sáng ngắn và mùa hè thì ngược lại. Nếu lợn cái hậu bị được chiếu sáng 12
giờ/ngày bằng ánh sáng tự nhiên và nhân tạo sẽ động dục sớm hơn những
con được chiếu sáng trong ngày ngắn.
+ Ảnh hưởng của việc nuôi nhốt: Nuôi nhốt hay chính là mật độ số con
trong chuồng có ảnh hưởng đến tuổi động dục lần đầu. Lợn cái hậu bị nếu
nuôi nhốt đông trên một đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm

2 lần/ngày với thời gian 15 – 20phút/lần thì 83% lợn cái (ngoài 90 kg khối
lượng) động dục lúc 165 ngày tuổi.
Theo Hughes (1975) [51] những con đực 10 tháng tuổi không có tác dụng
trong việc kích thích phát dục bởi vì những con đực này còn non chưa tiết ra
lượng feromon, đây là thành phần quan trọng tạo ra hiệu ứng đực giống.
“Hiệu ứng đực giống” được thực hiện thông qua feromon trong nước bọt
của con đực (3- α -Andriosterol) được truyền trực tiếp cho con cái qua đường
miệng. Tác dụng này chỉ có hiệu quả cao khi có mặt của lợn đực giống.
“Hiệu ứng lợn đực giống” tốt nhất khi lợn cái hậu bị khoảng 160 ngày
tuổi và lợn đực ít nhất 10 tháng tuổi. Việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị ở cạnh
chuồng lợn đực và cho tiếp xúc trực tiếp trong khoảng thời gian ngắn trong

6


ngày sẽ tạo ra đáp ứng tốt nhất ở lợn cái hậu bị. Tác dụng này còn có trên cả
lợn đực giống làm tăng tính hăng và tăng hàm lượng feromon.
Như vậy, cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực giống là cách tốt nhất
để kích thích lợn cái sớm thành thục về tính nhưng cần chọn đúng thời điểm
cho tiếp xúc và điều kiện ngoại cảnh phù hợp nếu không sẽ làm giảm tác động
của việc tiếp xúc giữa lợn đực giống và cái hậu bị.
2.1.2 Chu kỳ động dục, cơ chế động dục
Lợn cái hậu bị bắt đầu thành thục về tính thì sẽ xuất hiện hiện tượng
động dục và rụng trứng. Hoạt động này được điều khiển bởi hormon theo chu
kỳ nên gọi là chu kỳ động dục.
Như vậy chu kỳ động dục là khi lợn cái bắt đầu thành thục về tính cứ
sau một thời gian nhất định, cơ thể nhất là cơ quan sinh dục của con cái có sự
biến đổi như âm hộ, âm đạo, tử cung xung huyết, các tuyến sinh dục tăng
cường hoạt động, trứng thành thục chín và rụng.
Chu kỳ động dục ở lợn cái khoảng 21 ngày, dao động từ 18 – 25 ngày,


FSH

-

Buồng trứng
Oestrogen
Thể vàng

Rụng trứng

Tuyến sữa

Ghi chú:

Sừng tử cung

Progesteron

Prostaglandine

GRH: Gonadotropin Release Hormone
PL : Prolactin
LH : Lutein Hormone
FSH : Foliculin Hormone

Sau khi rụng trứng 7 ngày, tại vị trí trứng rụng mạch quản và tế bào sắc
tố vàng phát triển hình thành nên thể vàng đạt kích thước 8 – 9 mm. Nếu
trứng rụng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại suốt quá trình mang thai, tiết ra
progesteron giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung và

2.1.3.1 Các tham số di truyền đối với lợn nái sinh sản
Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định rằng các chỉ tiêu về khả năng
sinh sản của lợn nái có hệ số di truyền thấp.

9


Nguyễn Văn Thiện, 1995 [32] cho biết hệ số di truyền đối với một số
tính trạng về khả năng sinh sản của lợn nái như sau:
h2
0,13
0,12
0,05
0,17

Tính trạng
Số con/1 lứa đẻ
Số con cai sữa / 1 lứa đẻ
Khối lượng sinh sản/con
Khối lượng cai sữa/ổ

- Các chỉ tiêu sinh sản lại có mối quan hệ với nhau, hệ số tương quan di
truyền giữa các chỉ tiêu sinh sản ở lợn như sau :
Số con đẻ ra và số con
đẻ ra còn sống
0,99
0,88
0,83
0,97
0,94

dục, tuổi có khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con đẻ ra/lứa.
Theo Ducos (1994) [46] các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con

10


còn sống khi cai sữa gồm : số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn
con sống tới lúc cai sữa.
Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số
lượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh),
tỷ lệ chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu
và thời gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau (Legault, 1980) [58].
Theo Marby và cộng sự (1997) [ 59], các tính trạng năng suất sinh sản
chủ yếu của lợn nái bao gồm : số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng
toàn ổ ở 21 ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm. Các tính trạng này ảnh hưởng lớn
đến lợi nhuận của người chăn nuôi lợn nái.
Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 – 1981 –
TCVN 1982 – 1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà
nước là : số con đẻ ra sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn
ổ lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa
đẻ đối với nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi.
Theo Nguyễn Khắc Tích (2002)[34], khả năng sinh sản của lợn nái chủ
yếu được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm. Chỉ tiêu này
lại phụ thuộc vào 2 yếu tố là số con đẻ ra và số lứa đẻ/nái/năm.
Số con đẻ ra còn sống là số con còn sống sau khi lợn mẹ đẻ xong con
cuối cùng. Chỉ tiêu này cho biết khả năng đẻ nhiều hay ít của lợn nái, kỹ thuật
chăm sóc lợn nái chửa, kỹ thuật thụ tinh của người chăn nuôi. Số lơn con cai
sữa là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá trình độ chăn nuôi lợn nái sinh sản. Nó
quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả kinh tế của quá trình
chăn nuôi. Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn nuôi bao gồm kỹ

6) Khối lượng sơ sinh/con
7) Khối lượng 21 ngày/con
8) Khối lượng cai sữa/con
9) Thời gian cai sữa

12


10) Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
11) Tuổi đẻ lứa đầu
12) Thời gian phối giống lại sau cai sữa
13) Số lứa đẻ/năm =

365
Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ

14) Số con cai sữa/nái/năm
2.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
* Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố mang tính di truyền, ảnh hưởng không nhỏ đến năng
suất sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [4]. Các giống khác nhau,
năng suất sinh sản cũng khác nhau. Điều này đã được nhiều công bố.
Theo Legault (1985, trích từ Rothschild và cộng sự, 1997) [57], căn cứ
vào khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia thành 4
nhóm chính như sau :
- Các giống đa dạng như L, Y và một số dòng nguyên chủng được xếp
vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.
- Các giống chuyên dụng « dòng bố » như P, L của Bỉ có khả năng sinh
sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao.
- Các giống chuyên dùng « dòng mẹ » như Meishan của Trung Quốc có

+ Dinh dưỡng protein: Các axit amin đặc biệt là các loại axit amin
không thay thế ảnh hưởng rất lớn đến thành tích sinh sản của lợn mẹ. Nếu
khẩu phần ăn thiếu protein thì sẽ chậm động dục và giảm số lứa đẻ/năm.
Trong giai đoạn mang thai của lợn nái nếu không cung cấp đủ protein thì khối
lượng sơ sinh của lợn con giảm thấp và nếu thiếu trong giai đoạn tiết sữa sẽ
làm giảm khả năng sinh trưởng của lợn con.
+ Dinh dưỡng năng lượng: Là yếu tố cần thiết cho tất cả các hoạt động
sống của cơ thể. Nếu thiếu năng lượng đặc biệt là giai đoạn mang thai và
nuôi con sẽ dẫn đến hiện tượng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh
kém. Tuy nhiên, nếu cung cấp quá thừa trong giai đoạn có chửa thì dẫn đến

14


hiện tượng chết phôi, chết thai, đẻ khó. Mặt khác, năng lượng thừa sẽ tích tụ
dưới dạng mỡ và lợn con sẽ mắc bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm lượng
mỡ trong sữa đầu cao.
+ Dinh dưỡng vitamin : là yếu tố không thể thiếu đối với cơ thể động
vật. Hàm lượng vitamin trong khẩu phần chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại
rất quan trọng, nếu thiếu sẽ gây hiện tượng rối loạn chức năng của các cơ
quan trong cơ thể. Thiếu vitamin A gây ra tình trạng chậm động dục, teo
thai, khô mắt...Thiếu vitamin B gây ra hiện tượng thần kinh yếu, co giật,
bại liệt tứ chi...
+ Dinh dưỡng khoáng: Khoáng gồm khoáng vi lượng và đa lượng. Với
một lượng nhỏ trong khẩu phần ăn nhưng là yếu tố cần thiết cho việc tạo
xương, tạo máu và cân bằng nội mô.
Trong một số quy trình chăn nuôi tại Philippin, tập đoàn Cargill (Mỹ) đã
áp dụng chế độ bồi thực (plushing) với mức cho ăn hàng ngày trên 3kg cho 1
lợn cái hậu bị trong vòng 14 ngày trước khi phối giống và chế độ bồi thực cho
lợn nái từ sau cai sữa đến phối giống nhằm tăng số trứng rụng để tăng số con

Các nhận thấy nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm bình thường của
chu kỳ động dục trong khoảng tháng 5 đến 8.
Nhiệt độ cao còn không những làm tăng tỷ lệ nái không động dục mà
còn làm giảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai. Nhiều nghiên cứu
đã chứng tỏ stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi
sống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái. Tỷ lệ hao hụt
của lợn nái cao vào mùa hè kéo theo tỷ lệ loại thải cao (30-50%), làm thiệt
hại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
- Tuổi và lứa đẻ:
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ.
Số con đẻ ra tương quan với số trứng rụng (Warrick và cộng sự, 1989). Trong
lần động dục đầu số trứng rụng thường thấp nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở

16


chu kỳ động dục thứ 2 và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ 3. Như thế
thường ở lứa đẻ 1và 2 số con đẻ ra ít hơn so với các lứa tiếp theo. Số con đẻ
ra sẽ tăng từ lứa 1 đến lứa thứ 5,6 và sau đó giảm dần. Do đó, số con đẻ ra
trong ổ liên quan chặt chẽ tới tuổi lợn nái.
- Số lần phối giống và tuổi phối giống:
Số lần phối giống trong 1 lần động dục của lợn nái ảnh hưởng rất lớn
đến tỷ lệ thụ thai từ đó ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ. Phối đơn trong 1 chu kỳ
động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt được số con đẻ ra/ổ cao nhưng
phối kép trong 1 lần động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (Gordon, 1997) [54].
Do đó trên thực tế muốn tăng số con đẻ ra trong ổ nên phối trực tiếp cho lợn
nái 3 lần, mỗi lần cách nhau 24h.
Phương thức phối giống cũng ảnh hưởng khá rõ rệt. Trong phối trực
tiếp, ảnh hưởng của con đực rất rõ. Thụ tinh nhân tạo có thể làm giảm tỷ lệ
thụ thai do kỹ thuật phối giống. Theo Anon (1993, trích từ Gordon, 1997)


Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới công tác nâng cao chất lượng và số lượng con giống luôn
được quan tâm hàng đầu. Từ nửa sau thế kỷ 20, do có thêm hiểu biết mới về
ưu thế lai và sự phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo nên ở các nước có ngành
chăn nuôi tiên tiến đã phát triển mạnh về việc lai các giống lợn với nhau
nhằm tạo ra con giống đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi.
Các nghiên cứu của Gerasimov và cộng sự (1997) [48], cho biết lai hai,
ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản như: số con đẻ ra/lứa,
tỷ lệ nuôi sống và khối lượng ở 60 ngày tuổi/con. Vì vậy việc sử dụng lai hai,
ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sức sản xuất thịt
thương phẩm (Dzhunelbaev và cộng sự, 1998 [47]).
Xue và cộng sự (1997) [66] nhận thấy lợn lai ba giống Duroc x (Large
White x Landrace (L)) có tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân thịt tốt.
Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và
cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan. Tuz và cộng sự (2000) [65] nhận thấy

18


lai ba giống đạt được số con /lứa ở 1, 21, 42 ngày cũng như khối lượng sơ
sinh/con cao hơn hẳn so với giống thuần. Lai ba, bốn giống đã trở thành phổ
biến trong chăn nuôi lợn (Ostrowski và cộng sự, 1997)[60]).
Việc sử dụng nái (Landrace x Yorkshire(Y)) phối với lợn Piétrain để
sản xuất con lai ba giống, sử dụng nái (Landrace x Yorkshire) phối với lợn
đực lai (Piétrain x Duroc) để sản xuất con lai bốn giống khá phổ biến tại Bỉ
sản xuất ra lợn thịt có tỷ lệ nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp (Leroy và cộng sự,
1996) [68].

đạt tỷ lệ nạc 55,11%; 53,22%; 51,55%.
Năm 1970, Viện Chăn nuôi đã thông báo kết quả nghiên cứu về khả
năng sinh sản của lợn Đại Bạch và Landrace như sau: số con đẻ ra/ổ đạt 9,75
con; số con cai sữa /ổ là 8,8 con; khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi là
79,57kg đối với lợn Đại Bạch và đối với lợn Landrace thì các chỉ tiêu này là
8,4 con/ổ; 7con/ổ và 84,05kg/ổ.
Lai ba giống giữa đực D với nái lai (L x Y) hoặc (Y x L) có tác dụng
nâng cao các chỉ tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1kg lợn con ở
60 ngày tuổi. Kết quả cho thấy ở hai thí nghiệm số con cai sữa đạt 9,6-9,7
con /ổ với khối lượng cai sữa/ổ tương ứng là 80,0 – 75,7kg ở 35 ngày tuổi
(Phùng Thị Vân và cộng sự, 2000, 2002 [38]). Con lai giữa 3 giống D x (L x
Y) có mức tăng trọng trung bình 655,9g/ngày, tỷ lệ nạc 61,81% và tiêu tốn
thức ăn 2,98; con lai ba giống Dx(YxL) có mức tăng trọng trung bình
655,7g/ngày, tỷ lệ nạc 58,71%, tiêu tốn thức ăn 2,95kg thức ăn/kg tăng trọng.
Các kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2000) [17] cũng cho biết
các công thức lai ba, bốn giống ngoại đạt mức tăng trọng và tỷ lệ nạc cao.
Con lai ba giống Dx(LxY) có mức tăng trọng trung bình 634g/ngày, tỷ lệ nạc
55,9%, tiêu tốn thức ăn 3,3kg thức ăn/kg tăng trọng; con lai ba giống
Px(LxY) có mức tăng trọng trung bình 601g/ngày, tỷ lệ nạc 58,8% với tiêu
tốn thức ăn là 3,1kg/kg tăng trọng. Con lai bốn giống (PxD)x(LxY) đạt tăng
trọng trung bình 624g/ngày, tỷ lệ nạc 57,9% với tiêu tốn thức ăn 3,2kg/kg

20


tăng trọng.
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái Y và L được thể
hiện trong thông báo của Đặng Vũ Bình (1999) [4] . Ở lợn Y tuổi đẻ lứa đầu
là 418,54 ngày tuổi; số con đẻ ra còn sống 9,77 con/ổ; số con 21 ngày tuổi
8,61 con/ổ. Ở lợn L các chỉ tiêu tương ứng là 9,86con/ổ; 8,68 con/ổ; 8,21

so với dòng C1230 và càng thể hiện rõ hơn ở thời điểm cai sữa. Tại Trung
tâm Nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương, khối lượng 21 ngày tuổi và cai sữa
dòng C1050 là 5,55kg/con và 6,37kg/con còn dòng C1230 là 5,24kg/con và
5,92kg/con. Tại Trại Giống lợn Tam Điệp, khối lượng cai sữa dòng C1050 là
6,32kg/con và dòng C1230 là 6,06kg/con.
Các cũng đưa ra kết quả về năng suất sinh sản của hai dòng ông bà
nuôi tại các tỉnh. So với kết quả nuôi tại Thuỵ Phương và Tam Điệp có thấp
hơn cụ thể là khối lượng sơ sinh, khối lượng 21 ngày tuổi dòng C1050 là
1,46kg/con và 5,88kg/con còn dòng C1230 là 1,29kg/con và 5,74kg/con.
2.3

Nguồn gốc, đặc điểm và một số tính năng sản xuất của hai dòng lợn
C1050 và C1230
Hai dòng lợn ông bà C1230 và C1050 được tạo ra là kết quả của các

công thức lai từ các dòng lợn cụ kỵ L11, L06, L95 của công ty PIC Việt Nam,
được đưa vào nuôi thích nghi từ năm 1997.
Đến tháng 7/2001 các dòng này được giao cho phía Việt Nam mà cụ
thể là Trung tâm nghiên cứu giống lợn Thuỵ Phương - Viện Chăn nuôi quốc
gia quản lý và nuôi giữ để sản xuất ra hai dòng lợn ông bà C1230 (L95 Meishan x L06 - Landrace) và C1050 (L11 - Yorkshire x L06 - Landrace)
cùng hai dòng bố mẹ CA và C22 chuyển giao và sản xuất ra con lai 4 và 5
máu có năng suất và chất lượng cao.

22


Sơ đồ lai :
GGP

L11

- Dòng C1230 được tạo ra từ kết quả lai giữa đực giống L06 và lợn nái
tổng hợp L95 (lợn có tỷ lệ máu nhất định của giống lợn Meishan – Trung
Quốc). Dòng này có thể chất không được chắc chắn lắm, lông da trắng, thỉnh
thoảng có bớt đen nhỏ trên thân, mông vai không phát triển như dòng C1050.
Bụng hơi sệ, 4 chân nhỏ và yếu (thể chất theo hướng lợn Meishan).

23


- Giống lợn Meishan có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đặc điểm của giống
lợn này mặt có nhiều nếp nhăn, tai to ngả về phía trước, lưng võng, chân
choãi, có từ 16-20 núm vú. Tính năng sản xuất : tăng trọng chậm, có khả đẻ
sai con nhất thế giới, thành thục về tính sớm (2,5-3 tháng tuổi). Ngoài ra, lợn
Meishan có mùi vị thịt thơm ngon, có khả năng chống chịu tốt với bệnh tật,
chịu đựng kham khổ.
Hai dòng lợn ông bà C1230 và C1050 được tạo ra từ các giống lợn
ngoại Landrace, Yorkshire, Meishan nên về bản chất nó mang hoàn toàn máu
lợn ngoại. Do đó, về đặc điểm ngoại hình chúng thuộc loại hình hướng nạc mỡ, độ dài mình vừa phải, trán rộng, tai to mỏng, màu lông da trắng
tuyền,...thể chất tương đối khoẻ mạnh và thích nghi khá tốt với điều kiện khí
hậu nước ta và hiện nay đang được nuôi phổ biến trong các trang trại lớn để
sản xuất lợn bố mẹ từ đó tạo ra đàn lợn thịt thương phẩm có năng suất cao
chất lượng tốt.
Lợn ông bà có tuổi thành thục về tính sớm,sinh trưởng nhanh, phát dục
mạnh, đẻ nhiều và thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi nước ta.
Việc tạo ra hai dòng lợn ông bà đã đáp ứng nhu cầu về con giống của
nước ta, góp phần đẩy mạnh phong trào chăn nuôi lợn ngoại ở các tỉnh trong
cả nước đặc biệt là các tỉnh miền Bắc. Sự có mặt của dòng lợn ông bà C1050
và C1230 tại nước ta thích nghi tốt được sử dụng rộng rãi tạo ra các dòng lợn
bố mẹ làm con giống cho phối với các con đực ngoại tạo ra con lai dùng để
nuôi thương phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, đem lại hiệu quả kinh tế

thô 15%, xơ thô 7%, Ca 0,9-1%, P 0,7%, muối ăn 0,4-0,8%, độ ẩm 14%.
+ Thức ăn cho nái nuôi con:
Thành phần : năng lượng trao đổi 3100 ME (Kcal/kg thức ăn), protein
thô 15%, xơ thô 7%, Ca 0,9-1%, P 0,7%, muối ăn 0,4-,08%, độ ẩm 14%.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status