TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NGỮ VĂN
TRẦN THỊ THANH XUÂN
MSSV: 6075471
HÌNH TƯỢNG LOÀI VẬT
TRONG THƠ TRỮ TÌNH
X. ÊXÊNHIN
Tiểu luận tốt nghiệp đại học
Nghành Ngữ Văn – Khóa 2007- 2011
Cán bộ hướng dẫn : Th.S. TRẦN VĂN THỊNH
Cần Thơ, năm 2011
ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
3. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: TÁC GIẢ, TÁC PHẨM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
1.1.Tác giả
A.Blok,
V.Maikoski,
A.Akhmatova,
B.Pasternak,
M.Tsvetaeva,
O.Mandelshtam…Trong các sáng tác của mình, Êxênhin đã thể hiện thành công một cách
mãnh liệt và rực rỡ những mâu thuẫn của thời đại cách mạng, chỉ ra tấn bi kịch và sự vĩ
đại của nó, khai mở sâu sắc thế giới phức tạp những trải nghiệm của con người sống trong
thời đại của những cuộc đấu tranh và cách mạng. Tuy tuổi đời còn rất trẻ nhưng Êxênhin
đã dành trọn tình cảm cho nước Nga, con người Nga, cuộc sống nhân sinh, đặc biệt là thế
giới loài vật…Những tình cảm ấy được nhà thơ gửi gắm qua những sáng tác tạo nên một
diện mạo mới, một nét rất riêng cho hình tượng loài vật trong thơ của Êxênhin nói riêng
và văn học Nga nói chung. Lâu nay, nhắc đến Êxênhin người ta thường chỉ chú ý đến thơ
trữ tình và những nội dung lớn như tình yêu quê hương đất nước hay mảng thơ tình yêu,
thơ mang tính triết lý mà ít đề cập đến hình tượng loài vật trong thơ ông. Chính vì vậy mà
chúng tôi chọn đề tài “Hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin” để hiểu sâu hơn về nhà thơ.
“Hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin” là một đề tài khá phong phú về mặt nội dung
giúp chúng ta khai thác hình tượng loài vật cốt để thấy được những khía cạnh khác trong
suy nghĩ cũng như trong tâm hồn nhà thơ. Ngoài ra, chúng tôi nghĩ đây là một đề tài thú
vị bởi trong quá trình nghiên cứu đã khám phá ra những góc cạnh khác của một Êxênhin
trẻ tuổi, tài hoa. Với từng nội dung, từng hình tượng trong những bài thơ được khảo sát,
vừa thấy được tấm lòng yêu loài vật sâu sắc của Êxênhin, vừa thấy được tình cảm của nhà
thơ dành cho gia đình, cho người yêu…Trong thơ Êxênhin, dường như mỗi hình tượng
loài vật hiện lên đều mang những tâm tư, tình cảm nào đó của nhà thơ. Đó là tấm lòng yêu
được nhiều hơn nữa. Dòng mật sáng tạo của anh chưa cạn, chỉ còn phải chờ đợi một ít
nữa thôi, là nó lại phun lên từ những bể chứa bí mật của Êxênhin, như thể vào mùa xuân
nước mật ngọt ngào trong lành ứa ra từ vết khía trên thân bạch dương” [15;249] Ngoài
ra, trong “Tuyển tập thơ Blok- Êxênhin” ,tác giả Thúy Toàn đã khẳng định Êxênhin cùng
với Blôk là “hai ngôi sao sáng trên nền thơ Nga” [14;3].
Trong quyển “Lịch sử văn học Xô Viết” (quyển1, tập1) của nhóm tác giả Nguyễn
Kim Đính, Hoàng Ngọc Hiến, Huy Liên (biên soạn). Bài viết đưa ra một số đề tài chủ yếu
trong thơ của Êxênhin giai đoạn trước và sau Cách nạng tháng Mười. Nhìn chung bài viết
tương đối ngắn nhưng cũng làm nổi bật đề tài nước Nga trong thơ của Êxênhin và tình
cảm của nhà thơ đối với nước Nga: “Trong thơ trước cách mạng ông đã sáng tạo được
những hình ảnh tuyệt diệu về thiên nhiên Nga và cuộc sống nông thôn Nga. Thiên nhiên,
nông thôn và đất nước trong thơ ông đã hòa lẫn làm một trong những rung cảm đẹp. Tình
yêu đất nước là một trong những nguồn cảm hứng mạnh mẽ của toàn bộ sáng tác của
ông”. [1;111]
Trong công trình của Vũ Tiến Quỳnh, “Maxim Gorki – Essenin – Aimatov –
Ostrovski”, Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chi Minh,1995, tác giả Nguyên An có bài
viết về “Sergei Alexandrovitch Essenin”. Nội dung chủ yếu là nói về những bước thăng
trầm trong cuộc đời, con đường đi đến sự nghiệp sáng tác văn chương, sự cống hiến của
Êxênhin cho thơ ca Xô Viết.
Trong quyển “Truyện kể về các nhà văn thế giới”, Nhà xuất bản Giáo dục, Nguyệt
Minh chủ biên, tác giả Trang Thanh có bài giới thiệu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của
Êxênhin, một số nội dung chủ yếu trong thơ trữ tình Êxênhin.
Bài viết “Quê hương trong thơ Êxênhin” của tác giả Nguyễn Hải Hà trong quyển
“ Văn học Nga sự thật và cái đẹp”, Nhà xuất bản Giáo dục, 2002 là những nhận xét khái
quát về đề tài tình yêu quê hương trong thơ trữ tình Êxênhin. Bên cạnh đó, tác giả còn
trích dẫn một số bài thơ để minh họa cho những nhận định, phân tích, đánh giá của mình.
Tuy bài viết chỉ dừng lại ở việc sơ lược, khái quát chứ chưa thật sự đi vào chiều sâu của
vấn đề nhưng đây là bài viết rất thiết thực về hình ảnh nước Nga được miêu tả thông qua
3. Mục đích yêu cầu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu về “hình tượng loài vật trong thơ
Êxênhin”. Với đề tài này đòi hỏi người nghiên cứu phải tìm hiểu về hình tượng loài vật
trong các bài thơ của Êxênhin. Bên cạnh đó là tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ
của Êxênhin để có thể hiểu rõ hơn những hình tượng loài vật ấy nói lên những vấn đề gì
hay những tình cảm gì của nhà thơ. Phân tích những hình tượng loài vật trong những bài
thơ về tình cảm chân thành trong tâm hồn Êxênhin.
Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng ta cũng có thể hiểu thêm những khía cạnh khác
trong tâm hồn nhà thơ trẻ tuổi tài hoa, tấm lòng yêu thương loài vật, quý trọng tình cảm
gia đình, tha thiết với tình yêu và quê hương xứ sở…
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng khảo sát chính là hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin. Đề tài chỉ giới
hạn việc tìm hiểu về hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin. Về mặt tài liệu, ngoài việc
khảo sát chính là thơ Êxênhin thì trong quá trình nghiên cứu, người viết cũng cần tìm hiểu
những tư liệu về cuộc đời, đặc điểm thơ trữ tình của Êxênhin, sự nghiệp sáng tác của ông
nhằm mục đích phục vụ cho việc hiểu được những hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin
mang những ý nghĩa gì.
Do đề tài là hình tượng loài vật trong thơ Êxênhin nên phạm vi nghiên cứu của
chúng tôi chỉ giới hạn trong thơ của Êxênhin.
5.Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp liệt kê, phân tích kết hợp với
các tài liệu của nhiều tác giả để rút ra những ý nghĩa hình tượng loài vật trong thơ
Êxênhin. Thao tác chính vẫn là phân tích các bài thơ, tìm hiểu các hình tượng loài vật.
Nghiên cứu thêm các bài báo của tạp chí văn học phê bình lý luận văn học, những bài viết
của các tác giả I.Erenbua, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Lai Thúy…về Êxênhin để rút ra ý
nghĩa và lý giải những hình tượng loài vật mà nhà thơ gửi gắm.
hình tượng ở Nga.
1917, đám cưới với Z.N.Raikh. Đến 1918 thì chia tay. Bắt đầu cuộc đời lãng tử.
1922, Êxênhin gặp gỡ và xây dựng gia đình với Ducan, một nghệ sĩ múa ba lê nổi
tiếng ở Mỹ. Những năm 1928-1923, ông cùng vợ đi du lịch nhiều nước châu Âu và châu
Mỹ, nhưng đi đến đâu ông cũng buồn vì nhớ nước Nga. Sau đó, hai người chia tay nhau.
Hai năm sau, Êxênhin cưới Đôphia, cháu gái của LepTôntoi.
1925, ông đi du lịch vùng Kapka, trở về trong tâm trạng cô đơn đến tột đỉnh và ông
đã dùng caravat thắt cổ tự tử. Cái chết của nhà thơ còn nhiều uẩn khúc. Trong những tài
liệu công bố sau này có ý kiến cho rằng nhà thơ bị ám sát. Qua đời ở tuổi 30, Êxênhin đã
sống một cuộc đời ngắn ngủi và đầy thăng trầm, dằn vặt trong tâm hồn.
Êxênhin rất tha thiết với dân tộc và tổ quốc Nga. Đọc thơ ông, độc giả luôn cảm
nhận được một tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc và mãnh liệt.
1.2.Sự nghiệp sáng tác:
Tuy sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng các sáng tác mà Êxênhin để lại rất đáng
kể, đặc biệt là thơ trữ tình và trường ca.
Các tác phẩm chính: Lễ cầu hồn (1916), Đồng chí (1918), Người đánh trống trời,
Lễ biến hình, Miếu thờ hương thôn, Trinh bạch Gioocđani (1912-1914), Maxcơva quán
rượu (1921-1924), Pugatsop (kịch,1924), Nước Nga Xô Viết (1925), Những âm điệu Ba
Tư (1925), Trường ca về hai mươi sáu (1925), Anna Xnêghina (Trường ca,1925), Bài ca
về cuộc hành quân vĩ đại (Trường ca,1925), Thơ về nước Nga và cách mạng…
1.3.Nội dung thơ trữ tình Êxênhin
1.3.1. Tình yêu quê hương đất nước
Đây là nội dung quán xuyến toàn bộ thơ trữ tình Êxênhin, được biểu hiện ở
hai đề tài là tình yêu thiên nhiên và tình yêu quê hương.
*Tình yêu thiên nhiên
Êxênhin đã sáng tạo ra những hình ảnh tuyệt diệu về thiên nhiên và cuộc sống làng
tình, người đọc như thấy nhà thơ như giao cảm với thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên
bằng cả các giác quan, bằng cả tâm hồn mình.
Mỗi một sự vật, sự việc tồn tại trong đời sống, nhất là cảnh thiên nhiên từ ngọn
cây, dòng sông…qua cản nhận của nhà thơ đều trở nên thân quen. Đúng như nhận định
của Gorki: “Êxênhin không chỉ là một con người mà còn là một chiếc đại phong cầm do
thiên nhiên sáng tạo ra chỉ để dành cho thơ, để thể hiện nỗi buồn vô tận của đồng ruộng,
để thể hiện tình yêu quê hương đối với tất cả mọi vật trên trái đất”. Theo Xeraphimovist: “
Đó là một nghệ sĩ vĩ đại. Với một trực cảm lớn lao, một sáng tạo rất cao. Không ai trong
những người đương thời chúng ta có khả năng diễn đạt các xúc động tinh tế nhất, dịu
dàng nhất, tâm tình nhất như ở ông, một di sản tuyệt vời” đã khái quát nên được tất cả tài
năng và phong cách thơ Êxênhin.
*Tình yêu quê hương
Quê hương, tổ quốc là một trong những cản hứng chủ yếu trong toàn bộ sáng tác
của Êxênhin. Thơ trữ tình Êxênhin mang đậm hương vị của đồng quê Nga, mỗi dòng thơ
đều chứa chan tình yêu quê hương tha thiết đến quặn lòng. Nói đến quê hương là nhà thơ
nói đến nơi chôn nhau cắt rốn, nói đến bạn bè, những người thân, nói đến nhà cửa xóm
thôn, hoàng hôn, cối xay gió, mảnh vườn, con đường làng, người thiếu nữ…tất cả những
con người, những sự vật có quan hệ gắn bó hoặc chỉ tồn tại trong cuộc sống thường nhật
của nhà thơ. Thơ Êxênhin biểu hiện một tình yêu đối với tất cả những gì đang “sống”.
Trong thơ Êxênhin thường xuất hiện những hình ảnh, biểu tượng nổi bật và mang
tính tượng trưng như cây bạch dương, người mẹ, người thiếu nữ, tổ quốc,…và đó cũng
chính là hình ảnh quen thuộc gắn bó với quê hương.
1.3.2.Thơ tình Êxênhin
Thơ tình Êxênhin bao giờ cũng hồn nhiên, trong sáng và trinh bạch. Đó là một tình
yêu mà nhà thơ luôn nhớ mãi:
“Tuổi trẻ tôi nay đã tắt rồi,
Như cây phong mục tàn vì mưa nắng,
Tôi nhớ lại một cô áo trắng
Nhân vật trữ tình hạnh phúc trong tình yêu, nhìn cảnh vật đâu đâu cũng tràn ngập
hạnh phúc, muốn chạy khắp cánh đồng để chia sẻ niềm vui, niềm hạnh phúc của mình cho
tất cả.
Cái hay của những bài thơ tình của Êxênhin không chỉ ở nhạc điệu tuyệt vời mà
người ta có thể dễ dàng hát lên được, cũng không phải vì nó mô tả những tâm trạng cô
đơn tuyệt vọng của tình yêu éo le, rắc rối. Điều chủ yếu, đấy là những bài thơ của tình yêu
rực cháy khát vọng hạnh phúc của tuổi trẻ. Và nó được ghi lại một cách chân thực. Cảm
giác như là tình yêu của chàng trai Êxênhin tràn trề như thế nào, thì những dòng thơ tình
yêu của thi sĩ Êxênhin cũng tuôn chảy tràn trề như vậy. Tình yêu như chỉ có hai người với
nhau:
“Nghe không em-xe trượt tuyết đang phi-nghe không em?
Tuyệt diệu làm sao, cùng người yêu biến vào cánh đồng êm”.
Đấy là niềm vui sướng không thể kìm lại được, phải thốt ra thành thơ, để rồi cùng
reo lên trước thiên nhiên bao la:
“Ôi, xe trượt tuyết! Xe trượt tuyết!
Con ngựa hung nhạt của tôi
Không phải người say rượu đâu-ở xa kia,
Cây phong đang múa đó thôi
Và cuối cùng là: Chúng tôi đến và hỏi rằng: Làm sao thế cây phong?
Rồi cùng nhảy với nhau-ba người-trên tuyết trắng như bông”.
Đấy chỉ có thể là tình cảm của người đang bốc men say. Nhưng đây không phải là
men rượu, đây là men ái tình. Đối với Êxênhin, tình yêu có thể làm cho người ta chấp
nhận cây phong với tư cách một con người đồng điệu, một con người biết yêu say đắm và
biết biểu hiện tình yêu ấy bằng sự múa nhảy nồng nàn. Cao hơn tất cả những tình yêu
bình thường phải là tình yêu với sự bộc lộ bản năng cao đẹp của con người. Nếu như bây
giờ, người ta coi sự thật là biểu tượng cao cả của đạo đức, thì chính Êxênhin, từ cách đây
hơn nửa thế kỷ đã từng đốt lên một ngọn lửa bằng nhiên liệu sự thật trong những bài thơ
tình của mình. “Tôi không nói cùng người yêu những lời không thật”, câu thơ như một lời
Tôi không phải nhìn em, cũng chẳng đến với em đâu
Tôi chỉ đi qua với trái tim lặng lẽ
Và cũng chỉ ngoái nhìn qua cửa sổ mà thôi”.
Người đời thường cho rằng, những ai chỉ sống với bản năng thì rốt cuộc chẳng làm
nên được trò trống gì. Nghĩa là anh ta thiếu sự kiềm chế của ý thức, và bởi vậy mà tự cắt
đứt những sợi dây ràng buộc với xã hội. Nhưng bản năng tâm hồn Êxênhin thì khác, đấy
là cái bản năng con người nhất, cái bản năng mà tự nó là một sự cao thượng, vừa đáng
kính nể lại vừa dễ gần gũi. Đấy là khi đang yêu say đắm, anh nói với người yêu:
“Người ta yêu em đến sờn mòn
Người ta yêu em đến nhàu nát”
Hoặc là khi anh nói với người yêu đã bỏ anh mà đi:
“Sợ chi một chuyện đau lòng
Tôi cần nhiều, cũng chẳng mong chi nhiều
Và: Ôi không phải kẻ mê say
Bằng âu yếm lúc cầm tay, sát kề”.
Vậy mà tình yêu vẫn cứ day dứt anh mãi:
“Mà nụ cười-lạ lùng sao
Cứ như bão tuyết xoáy vào tim tôi!”.
Tại sao nỗi buồn cứ đeo đẳng thi sĩ như hình với bóng khi tưởng như đáng lẽ phải
tức giận vì nó? Vì Êxênhin biết trân trọng tất cả tình yêu của mình, đáy là những gì trong
sáng, đẹp đẽ và hồn nhiên nhất. Không phải ai cũng dế dàng có được một tình yêu thật sự
để rồi được day dứt mãi về nó khi nó không còn quay lại nữa. Có cảm thông như vậy ta
mới có thể thấm thía sâu sắc nỗi buồn của thi sĩ trong câu thơ anh viết:
“Và bây giờ, đối với người yêu, tôi chẳng là gì
Tôi khóc tôi cười trong bài hát không hề thân thuộc”.
Nỗi buồn của Êxênhin khi thì tràn ngập và nặng nề như mây chì, bão tuyết, khi thì
phảng phất như những làn gió nhẹ trên đồng lúa mênh mông quạnh vắng cuối hoàng hôn.
Nỗi buồn ẩn hiện trong cả những bài thơ trữ tình vui tươi, cả trong những bài thơ cách
nghiệm những chân lý vĩnh hằng, mặc dù nhà thơ không nêu lên thành những khái niệm
hay phạm trù triết học. Con người, theo Êxênhin chỉ có một bộ phận có lý trí của thiên
nhiên, và gắn với thiên nhiên bằng quan hệ sống chết. Chính trong sự gắn bó mật thiết với
thiên nhiên ấy con người mới tìm thấy chỗ đứng của mình trong vũ trụ, hiểu được mình:
“Mặt đất tuyệt vời sao
Và con người trên đó”
Triết học của Êxênhin là sự sống, sự sống trong mỗi bông hoa, mỗi ngọn cỏ. Hình
ảnh cây bạch dương với màu xanh mảnh dẻ được nhà thơ ví như đó là người thiếu nữ
mang vẻ đẹp đầy quyến rũ, làm bao người say mê:
“Mái tóc xanh
Vòng ngực tròn thiếu nữ
Ôi bạch dương, bạh dương mảnh dẻ
Cớ chi người nhìn mãi xuống đầm?”
(Mái tóc xanh, trang 72)
Triết học của Êxênhin còn là sự sống trong những giọt nước mắt nóng hổi nhỏ
xuống như sao trên cát của bầy chó con bị đem bán xa mẹ. Nhà thơ thương cảm và đau
xót cho chúng nhưng không biết phải làm sao vì đó là số phận của chúng.
“Chó mẹ chạy theo trên tuyết lạnh
Cố gắng theo cho kịp chủ nhà
Và như thế kéo dài như thế
Tuyết dưới bàn chân cứ chảy ra”.
Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên trong thơ còn được thể hiện rõ ở sự
gần gũi giữa con người và thiên nhiên, nhà thơ đã sáng tạo ra những hình ảnh tuyệt diệu
về thiên nhiên và cuộc sống làng quê Nga. Nhà thơ luôn có một sức sung cảm mạnh mẽ
trước vẻ đẹp của thiên nhiên, dù đó là một sự vật bình thường nhất
“Nơi bình minh nghiêng đổ nước hồng
Tưới dầm những luống dài bắp cải
Cây phong non ngửng đầu chới với
Trong lòng tôi anh còn mãi thân yêu
Cuộc ly biệt đã từ lâu định liệu
Hứa hẹn ngày gặp gỡ chẳng đợi nhiều
Anh ở lại, miễn cầm tay an ủi
Mày đừng chau và dạ cũng đừng buồn
Trên đời này hết phải đâu là mới
Nhưng dĩ nhiên, sống cũng chẳng mới gì hơn”
(Từ biệt)
Đó còn là nỗi buồn về sự chia ly, xa cáh mối tình đầu, là nỗi đau khi phải xa người
yêu, xa quê hương mà nhà thơ không còn cách nào níu kéo được:
“Hoa nói ùng tôi-thôi từ biệt!
Ngã thấp mái đầu hoa xinh xinh
Rằng vĩnh viễn tôi sẽ không còn thấy
Gương mặt nàng và mảnh đất quê hương”
(Hoa nói cùng tôi-thôi từ biệt)
Nhưng dù có đau khổ, nhà thơ vẫn tin vào cuộc đời, lấy khổ đau đó làm điểm tựa
để vươn lên, sống có ý chí hơn nữa:
“Và bởi vì thế là tôi thành đạt
Cả cuộc đời, đi suốt với nụ cười
Tôi thường nói với một giây một phút
Là mọi cái ở đời đều lặp lại ở đời”
(Những bông hoa nói cùng tôi thôi từ biệt)
Đó là lời trách móc sự phụ tình của người yêu. Nhưng không vì thế mà tác giả thấy
cuộc đời này đã hết, mà trái lại nhà thơ càng yêu tha thiết cuộc đời này hơn, sống với bao
niềm vui khác:
“Em chẳng còn yêu tôi và không hề luyến tiếc
Nhưng lẽ nào tôi lại chẳng đẹp trai
Em đừng nhìn mặt tôi, sững sờ vì khủng khiếp
(Tặng mẹ nhân dịp năm mới)
Ngay cả những suy nghĩ của mình, nhà thơ cũng cho rằng những ý nghĩa đó dường
như nó cũng chỉ tuân thủ theo quy luật của tạo hóa, và lúc nào nhà thơ cũng mang tâm
trạng u buồn, chán nản, bi quan:
“Nhưng ý nghĩ u buồn, những ý nghĩ lắng sâu
Nhưng ý nghĩ nặng nề, những suy tư cay đắng
Nhưng ý nghĩ không bao giờ đến gần hạnh phúc
Ôi những người bạn đường buồn bã cho tôi!”.
Cho dù con người có chết đi, cuộc đời có kết thúc nhưng đời sống tâm hồn của con
người là bất tử. Và Êxênhin cũng nhận thấy được điều đó mà ông không hề than khóc, xót
thương bởi vì tất cả mọi thứ trên đời này đều tuân thủ theo quy luật của tạo hóa:
“Tôi chẳng xót, chẳng nài, chẳng khóc
Tất cả qua đi, như khói như hương
Hoa táo trắng đã úa vàng tan tác
Chẳng bao giờ tôi còn được trẻ trung”
(Tôi chẳng xót, chẳng nài, chẳng khóc)
1.3.4.Thơ về loài vật
Trong “Chân dung văn học”, khi viết về Êxenin, nhà văn Gorki kể lại rằng, cái
chết của Êxênin đã làm sống lại trong ký ức của ông câu chuyện một cậu thiếu niên nông
dân tình cờ đến thành phố Kralốp trên đảo Capri và bị lạc trong thành phố này. “Cậu ta đi
loanh quanh mãi trên các phố, không sao thoát ra ngoài để trở về cảnh đồng rộng quen
thuộc của cậu. Và cuối cùng, cảm thấy thành phố không chịu buông tha mình, cậu đã quỳ
xuống đọc kinh cầu nguyện và đứng trên cầu nhảy xuống sông Vixoa, hy vọng dòng sông
sẽ đưa mình trở về đồng ruộng. Người ta đã vớt được cậu bé lên, nhưng cậu đã chết vì
những vết thương của mình. Êxênin cũng có thể chết một cách ngây thơ đến tuyệt đẹp
giống như cậu thiếu niên kia, nếu như vì một lý do gì đó buộc anh phải lìa xa tình yêu
nông thôn Nga của mình. Tình yêu nông thôn Nga của anh là hàng trăm bài thơ của anh,
nghành nghệ thuật khác, mà có khác là khác về chất liệu tạo nên hình tượng nghệ thuật.
Bởi chất liệu của tác phẩm văn chương là ngôn từ.
Hình tượng trong tác phẩm văn học thường mang ý nghĩa khái quát, có tác dụng
truyền cảm và giáo dục qua tác động tổng hợp của nghệ thuật. Hình tượng trong tác phẩm
văn học không chỉ có nhân vật, mà còn bao gồm tấc cả các sự vật hiện tượng được nhà
văn tạo nên với ý đồ nghệ thuật, cụ thể: con vật, đồ vật, không gian, thời gian…Qua quá
trình tư duy tưởng tượng nhà văn đã “thổi” vào các nhân vật của mình những thông điệp
mang một tầng ngầm ý nghĩa có giá trị thẩm mỹ, để người đọc tự nghiền ngẫm, tự “giải
mã”…
Hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học được tạo bởi chất liệu ngôn từ:
cũng có thể gọi là hình tượng ngôn từ: cũng có thể gọi hình tượng ngôn từ, được nhà văn
thu gom, lượm nhặt tất cả sự vật hiện tượng tồn tại trong đời sống, rồi đem tôi luyện trong
cái lò tư duy tạo nên tính hình tượng phi vật thể. Sau đó, tác giả truyền tải những hình
tượng đó vào trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Khi tiếp cận tác phẩm, người đọc tự gắn
ghép các hình ảnh biểu trưng đó bằng con đường tư duy trừu tượng - bỏ qua giai đoạn
nhận thức cảm tính (thị giác) của quá trình tư duy. Vì hình tượng trong tác phẩm văn học
không phải những hình ảnh cụ thể (bức tượng, miếng sắt, khúc gỗ…) như những loại hình
nghệ thuật “tạo hình” mà là những hệ thống kí hiệu, là ngôn ngữ. Việc phát hiện hình
tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương cũng không phải đơn giản : có những hình
tượng nghệ thuật nổi lên bề mặt tác phẩm nên chúng ta nhận ra một cách dễ dàng. Nhưng
cũng có những hình tượng nghệ thuật nằm ẩn sâu bên trong ý đồ nghệ thuật của tác giả,
những thông điệp, những dấu hiệu biểu hiện của hình tượng không nằm tập trung mà rải
rác thành nhiều “mảnh vụn” trong tác phẩm, đòi hỏi người tiếp nhận phải trải qua một quá
trình tư duy, gom ghép từng “mảnh vụn” ấy lại để hoàn chỉnh hình tượng như ý đồ của tác
giả.
Tóm lại, để tạo nên hình tượng cho một tác phẩm nghệ thuật nói chung, trong văn
học nói riêng là việc không hề đơn giản. Đó là kết quả của một quá trình tư duy tích cực
của người nghệ sĩ, phải có sự kết hợp hài hòa của nhiều yếu tố: chủ quan và khách quan;
giữa cảm xúc và lí trí…