một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình xuân diệu - Pdf 25

Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Phần mở đầu
"Đẹp đối với chúng ta cần thiết nh ánh sáng,
nh khí trời, nh cơm ăn áo mặc.
Đẹp là một điều chúng ta gặp hàng ngày"
- Vũ Kiêu -
I.
Lí do chọn đề tài
1. Lý do khách quan
Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ Mới giai đoạn 1930
- 1945. Ông hoàng của thơ tình ấy đã đốt lòng ham muốn của mình thành
ngọn lửa tình yêu không bao giờ tắt. Trớc sau, Xuân Diệu luôn luôn thể
hiện cái tôi trữ tình khao khát giao cảm của một tâm hồn cô đơn, của một
tấm lòng "đìu hiu nh dặm khách" . Thơ ông đã thể hiện một quan điểm
mới mẻ và độc đáo về cái đẹp. Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là sự
kết tinh cái đẹp của tinh thần dân tộc và cái đẹp của thời đại. Vẻ đẹp con
ngời và cuộc sống trần thế đã khơi nguồn cho mọi cảm hứng sáng tạo
trong thơ ông. Chính điều đó đã góp phần nâng cao và khẳng định vị trí
lớn lao của Xuân Diệu trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu là cái đẹp của lý tởng thẩm mỹ,
bắt nguồn từ sự phong phú, hội nhập trong hồn thơ muôn hình vạn trạng
của sự sống, những say đắm tha thiết cha từng có ở chốn "nớc non lặng lẽ
này". Đó là cái đẹp của sự trau chuốt nghệ thuật, thể hiện qua những ph-
ơng thức phản ánh cuộc sống một cách nhuần nhuyễn có sự kết hợp Đông
- Tây, kim - cổ và tạo nên một phong cách "mới nhất trong các nhà Thơ
Mới". Cái đẹp mang tính lịch sử xã hội là cái đẹp khơi dậy ý thức cá nhân
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
của cái tôi độc đáo trong thơ trữ tình Xuân Diệu 1930 - 1945. Cái đẹp có
sức mạnh cản hoá và làm say đắm lòng ngời mọi thế hệ.
Tác phẩn của Xuân Diệu chiễm số lợng khá lớn trong chơng trình văn

Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
II. lịch sử vấn đề
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đã tìm hiểu và tiếp thu
những công trình nghiên cứu mỹ học, lý luận văn học và phơng pháp dạy
học văn để khẳng định phạm trù cái đẹp, đặc biệt là cái đẹp trong thơ trữ
tình Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT hiện nay.
1. Tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cái đẹp với t cách là một
phạm trù cơ bản của mỹ học
Để khẳng định phạm trù cái đẹp trong sự vận động đa dạng của ý thức
thẩm mỹ, chúng tôi đã tìm thấy tập luận văn nổi tiếng của Tsecnsepxki :
"Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực" (1855). Tập luận văn
này nghiên cứu cái đẹp trong mối quan hệ với hiện thực cuộc sống. Tsecn-
sepxki đã khẳng định: "Cái đẹp là sự sống. Một sinh thể đẹp là qua chúng,
ta nhìn thấy cuộc sống đúng theo quan niệm của ta.".
Cuốn "Nguyên lý mỹ học Marx - Lênin" (1963) của Viện Hàn Lâm
khoa học Liên xô đã đề cập tới cái đẹp của hình tợng nghệ thuật, của nội
dung và hình thức trong các loại hình và thể loại nghệ
thuật.
Các công trình "
Cái đẹp - một giá trị" (Đỗ Huy), "Mỹ học Marx - Lê
nin" (Vũ Minh Tâm), "Đẹp" ( Vũ Kiêu), "Tìm hiểu mỹ học Marx - Lê nin"
(Hoài Lam)
cho rằng cái đẹp trong tác phẩm văn học chính là cái sự phản
ánh cuộc sống sinh động, trân thực. Cái đẹp đó "
Gắn với chiều sâu thẳm
vốn chứa đựng ý nghĩa rõ ràng, vốn mang tính khát vọng yêu cầu giải
đáp".
Dựa vào những định hớng nêu trên, bản luận văn sẽ tập trung tìm hiểu
và khai thác cái đẹp theo quan niệm cái đẹp là một chỉnh thể thống nhất
hài hòa mang tính thẩm mỹ trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

44
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
theo cảm hứng của nhà nghiên cứu, và chỉ dừng ở nghiên cứu, giới thiệu
tác giả tác phẩm, đánh giá phẩm bình về t tởng nghệ thuật, cảm xúc trong
thơ trữ tình Xuân Diệu. Một số ngời còn có cái nhìn cha đúng về cái đẹp
trong quan điểm sống của Xuân Diệu. Vĩnh Xơng trong "
Tạp chí đất Việt"
(tháng 4 - 1986), Uyên Thao trong "
Tạp chí giáo dục phổ thông"
(số 72
năm 1960) và Phan Cự Đệ trong "
Phong trào Thơ Mới"
(Nhà xuất bản
KHXH - 1982) cho rằng: "
Thái độ tha thiết và sự vội vàng gấp gáp trong
thơ Xuân Diệu là biểu hiện của tình yêu vị kỉ và phủ nhận cuộc đời"
3.
Tìm hiểu một só công trình nghiên cứu về phơng pháp dạy học thơ
trữ tình Xuân Diệu ở nhà trờng THPT.
Mấy năm gần đây "
vấn đề Xuân Diệu"
đã đợc nhiều ngời nhắc đến,
đặc biệt đã có một số công trình nghiên cứu về phơng pháp giảng dạy thơ
trữ tình Xuân Diệu ở trờng phổ thông.

những công trình nghiên cứu này,
các tác giả đã đề cập đến việc khai thác cái đẹp thuộc hình thức cũng nh
cái đẹp trong nội dung, t tởng của thơ trữ tình Xuân Diệu:

Cuốn "

đến ở nhiều góc độ nhng việc khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân
Diệu thì ít ngời chú ý đến. Bài luận văn này chúng tôi mạnh dạn đa ra
một số quan điểm và một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình
Xuân Diệu dạy ở nhà trờng THPT , đồng thời lấy t tởng "
Mỹ học là đạo
đức học trong tơng lai"
(M. Goorki)

1
làm kim chỉ nan cho các luận điểm
của mình.
III. Phạm vi đề tài
- Thơ trữ tình Xuân Diệu có trữ lợng đồ sộ và "
đề tài Xuân Diệu"
cũng là
đề tài phong phú gợi nhiều sự tìm tòi, suy nghĩ, đánh giá. Phải nói với số l-
66
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
ợng thơ đồ sộ (hơn 500 bài thơ tình), Xuân Diệu thực sự là "
ngôi sao sáng
trên bầu trời văn học Việt Nam"
(Nguyễn Bùi Vợi).
Nhng trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chủ nghiên cứu các bài thơ
của Xuân Diệu đợc tuyển chọn trong chơng trình lớp 11 THPT ( sách chỉnh
lý 2000) và đề xuất các biện pháp khai thác cái đẹp trong các bài thơ đó
theo quan điểm của phơng pháp dạy học văn mới. Đồng thời tiến hành
thực nghiệm ở một bài thơ cụ thể.
- Đối tợng nghiên cứu:
+ Quá trình dạy học ba bài thơ: "
Vội vàng", "Đây mùa thu tới", "Thơ

Diệu ở trờng phổ thông.
Trên cơ sở nghiên cứu các biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình
Xuân Diệu, tác giả luận văn muốn soạn thể nghiệm bài "
Vội vàng"
với
mục đích để dạy học sinh theo định hớng của đề tài, giúp cho họ thực sự
hiểu đợc cái hay cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu, nhận thức con ngời
Xuân Diệu trong cuộc sống, qua đó nhận thức đợc quan niệm đầy tính
nhân sinh trong t duy thơ Xuân Diệu trớc cánh mạng. Cũng từ đó chúng tôi
88
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
tiến hành đánh giá kết quả thực nghiệm và rút ra những cái đợc và ch a đọc
của đề tài.
v. phơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành bản luận văn này, chúng tôi tập trung vào hai phơng pháp
chính:
1 - Phơng pháp thống kê, phân loại qua việc đọc tài liệu, đồng thời
phân tích và tổng hợp thành các luận điểm, luận chứng cụ thể.
2 - Phơng pháp thực nghiệm trong dạy học văn. Chúng tôi đã sử dụng
phiếu thăm dò để khảo sát kết quả học tập thơ Xuân Diệu của học sinh
sau đó phân loại, đánh giá.
Mặt khác, chúng tôi tổ chức những buổi trao đổi kinh nghiệm với giáo
viên phổ thông về việc giảng dạy thơ trữ tình Xuân Diệu. Đồng thời, chúng
tôi thử thiết kế một bài dạy thơ trữ tình Xuân Diệu theo hớng đã đề ra.
99
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Phần nội dung
ChơngI: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của
việc nghiên cứu đề tài
A. Cơ sở lý luận

một hiện tợng nh vậy, nhìn chung không phải là đẹp"
1
.
Nh vậy, cái đẹp bao giờ cũng thể hiện một cách cụ thể sinh động sự
vận động của hiện thực vơn tới lý tởng.
Cái đẹp tồn tại trong cả tự nhiên và xã hội, trong hoạt động vật chất và
tinh thần của con ngời. Do có tính chất tổng hợp nh vậy nên việc định
nghĩa cái đẹp chỉ mang tính chung nhất rồi đợc cụ thể hoá vào từng lĩnh
vực biểu hiện của cái đẹp. Đẹp là cái ở đó có sự tơng ứng của một hình
thức đợc cảm thụ cảm tính cụ thể với một nội dung tích cực thể hiện thông
qua hình thức đó. M. G Tsecnsepxki nói: "Cái đẹp là cuộc sống", phải hiểu
ông không chỉ đề cập đến nguồn gốc cái đẹp nằm trong bản thân thực tại
mà Tsecnsepxki còn lu ý chúng ta chỉ có thể coi một hiện tợng cụ thể là
đẹp nếu ở đó đặc tính của cuộc sống đợc biểu hiện rực rỡ và đầy đủ.
2. Các hình thức biểu hiện của cái đẹp
2.1. Cái đẹp trong tự nhiên
"Biết ngạc nhiên và cảm xúc trớc cái đẹp trong thiên nhiên là một năng
khiếu quí giá của con ngời". Trong cái đẹp tự nhiên, ngời ta thấy rằng vẻ
đẹp của phong cảnh thiên nhiên và cơ thể con ngời là những biểu hiện kỳ
diệu nhất của Tạo hoá. Chất liệu tự nhiên đẹp đẽ biết chừng nào! Con ngời
thổi vào thiên nhiên tính chất huyền diệu ma thuật. Thiên nhiên trở nên
đẹp vô cùng khi con ngời đến với nó bằng cảm xúc trái tim. V. G
Bielimxki từng nói: "Cảm xúc về cái kiều diễm là một điều kiện làm nên
phẩm giá con ngời"
2
. Con ngời trở thành ngời đánh giá thẩm mỹ và hiện t-
ợng tự nhiên trở thành đối tợng của đánh giá đó. "Những hiện tợng nào
trong tự nhiên trực tiếp hay gián tiếp gợi lên, toát lên hay gắn bó với sự
sống, sự tiến bộ của xã hội và thế giới đểu đợc coi là những cái đẹp trong
tự nhiên"

hội là cái thẩm mĩ tích cực xét theo lập trờng của sự tiến bộ lịch sử"
2
.
Hoạt động theo qui luật cái đẹp, nắm đợc rõ qui luật độc đáo này, làm
sao chú trọng, suy xét đúng mức quan hệ của mình với những ngời khác,
mối liên hệ và sự lệ thuộc vủa nình vào tự nhiên, xã hội mà cả với chính
mình. Sống và sáng tạo theo qui luật của cái đẹp đó là con ngời chân
chính, con ngời viết hoa.
2.3. Cái đẹp trong nghệ thuật
Cái đẹp là yếu tố thẩm mĩ đóng vai trò hàng đầu trong nghệ thuật và
hoạt động nghệ thuật. Nghệ thuật mài giũa, trau dồi cái cảm xúc thẩm mĩ
của con ngời và xây dựng phán đoán thẩm mĩ có tính khách quan. Cái đẹp
trong nghệ thuật không đơn thuần là cái đẹp trong cuộc sống đợc phản ánh
mà "cái đẹp trong nghệ thuật là sự tái hiện và phản ánh một cách sáng tạo
cái đẹp trong tự nhiên và trong cuộc sống xã hội"
3
.
1
2 Hoài Lam Sđd - trang 219
3 I.U.Bôrep - Những phạm trù mỹ học cơ bản - Trờng ĐHTH Hà Nội - 1974, T274
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Cái đẹp trong nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống đợc phản ánh vào tác
phẩm chỉ có đợc khi nghệ sĩ có nhận thực đúng đắn về cái đẹp đó và có tài
năng nghệ thuật cần thiết để phản ánh chân thực nó.
Nếu khoa học biểu đạt chân lý bằng khái niệm, thì nghệ thuật biểu hiện
cái đẹp bằng hình tợng thông qua hệ thống chất liệu của "sản phẩm nghệ
thuật". Hình tợng của mỗi loại hình nghệ thuật đợc cấu thành từ các yếu tố
nghệ thuật nh: màu sắc, đờng nét trong hội hoạ hay âm điệu, giai điệu hoà
âm, trong âm nhạc và từ ngữ, hình ảnh trong văn học. Vì vậy bức tranh

sáng tạo cái đẹp khởi nguồn t duy ở con ngời mọi thời đại"
1
.
II. Cái đẹp trong thơ và cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân
Diệu
1. Cái đẹp trong thơ
Cái đẹp trong thi ca hội tụ những phẩm chất u tú nhất, tuyệt mĩ nhất
của các loại hình nghệ thuật. "Những nghệ thuật khác không có năng lực
nói với chúng ta dù ta là một phần trăm cái mà thi ca nói với chúng ta. Sở
dĩ có những điều chỉ nói đợc bằng thơ"
2
(Maiacôpxki) là do sức mạnh tối
cao nhờ vào đặc trng thể loại.
Về nội dung, thơ gắn liền với đời sống tinh thần và nhu cầu bộc bạch
chia sẻ tình cảm của con ngời "Thơ là tiếng lòng" (Ngô Giang Tiệp), "Thơ
chỉ vang ra khi trong ta cuộc sống đã tràn đầy" (Tố Hữu) . Cái đẹp trong
thơ chính là cái đẹp của sự phong phú đa dạng, các biến thái tình cảm,
những rung động chân thành sâu thẳm mọi khát vọng hoàn thiện bắt nguồn
từ cuộc sống làm giàu cho cuộc sống. ấy là lý tởng đẹp, cảm xúc đẹp, t t-
ởng, lẽ sống đẹp Sự xúc tích hàm ẩn và tinh tế của lòng ngời không đâu
diễn đạt đợc bằng thơ.
Về nghệ thuật, hình tợng thơ đợc xây dựng bằng ngôn ngữ và những chi
tiết nghệ thuật theo một trật tự nhất định, "vang lên nhạc điệu khác thờng",
"ngôn từ và trật tự là một cặp nhảy hoàn mĩ chẳng chịu rời nhau nửa b-
ớc"
3
. Từ những đặc trng này, hình tợng thơ bao giờ cũng khơi gợi những
"khoái cảm thẩm mĩ " độc đáo và diệu kỳ đối với ngời đọc.
2. Cái đẹp trong thơ trữ tình
Căn cứ vào cách phản ánh cuộc sống ngời ta phân chia thơ thành hai

Cái đẹp trong thơ trữ tình là cái đẹp của những tinh hoa cuộc sống
đợc "chng cất" qua cảm xúc thẩm mỹ của nghệ sĩ.
Cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu có sức hấp dẫn mãnh liệt đối
với bạn đọc trớc hết ở tính bộc bạch chân tình ở độ nồng nàn của cảm
xúc thời gian - hiện tại, khác với sức hấp dẫn gợi từ cảm xúc thời gian
quá khứ của Chế Lan Viên hoặc cảm xúc không gian của Huy Cận. Vì
cảm xúc luôn gắn với hiện tại mà hiện tại luôn biến đổi nên Xuân Diệu
luôn giữ cho cảm xúc của mình một chất tơi mới, sống động.
Cảm xúc thời gian - hiện tại trong thơ trữ tình Xuân Diệu đợc biểu
hiện trong thế giới đa dạng và tinh tế của tuổi trẻ và tình yêu. Thơ trữ
tình Xuân Diệu nói lên nhiều cảnh ngộ và ngõ ngách của nội tâm,
4 Lê Bá Hán (Chủ biên) - Từ điển thuật ngữ văn học - NXB - ĐHQG Hà Nội 1999
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
nhiều trạng huống của tình cảm, có những câu ăn sâu vào máu thịt bao
thế hệ và thấm thía nh đức tin.
Có bao nhiêu cung bậc tình yêu ngoài đời thì có bấy nhiêu thể hiện
trong thơ Xuân Diệu chúng đợc tinh chế qua thứ xúc cảm "khi buồn
cũng nh khi vui, ngời đề nồng nàn tha thiết" (Thế Lữ). Từ tình yêu đơn
phơng (Yêu, Nớc đổ lá khoai), đến đồng cảm (Mời yêu, Đa tình), từ
tình đầu, (Tình thứ nhất, Xuân đầu), đến tình kiếp sau (Vô biên, Giục
giã), từ lúc gần gũi (Phải nói, Rạo rực), đến khi chia ly (Xa cách, Bên
ấy bên này), bao giờ Xuân Diệu cũng yêu ngấu nghiễn cái màu mỡ của
cuộc sống. Tất cả những vui, buồn, yêu, ghét, hờn giận, nhớ nhung ấy
có thể hợp thành cuốn từ điển tình yêu giá trị. Cái đẹp phong phú này là
một đặc trng của thơ trữ tình Xuân Diệu.
Thơ trữ tình Xuân Diệu không những giàu có về cảm xúc mà còn đa
dạng trong những cảm nhận tinh tế những biến thái tinh vi của ngõ
ngách tâm trạng. Vì Xuân Diệu có "cái mà ngời ta gọi là một tâm hồn.
Tôi sẵn sàng lặn dò mọi điều huyền bí, những cái ấy làm giàu nội tâm"

cảm xúc thẩm mĩ và đời sống nội tâm hơn là cái đẹp của phẩm chất trí
tuệ nh thơ Chế Lan Viên hoặc một số nhà thơ khác. Chiều vận động
của hệ cảm xúc này tạo nên đặc trng hình tợng thơ trữ tình Xuân Diệu
sẽ đợc đề cập ở phần sau.
3.1.2 Lý t ỏng thẩm mĩ trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Con ng ời là chuẩn mực của cái đẹp
Thơ trữ tình Xuân Diệu luôn cháy lên niềm khát khao giao cảm với đời.
Ngọn lửa rừng rực niềm yêu sống, giao hoà tâm linh và ham muốn tận h-
ởng hạnh phúc tuyệt diệu nơi hạ giới. T tởng nghệ thuật này xét đến cùng
là một cách thức chiếm lĩnh thế giới một quan điểm về thế giới. "Một bầu
nhiệt huyết đối với cái đẹp của cuộc sống con ngời, là t tởng thấm nhuần
tình cảm thẩm mĩ"
1
.
Nguyên nhân sâu xa của niểm khát khao giao cảm ấy chính là lý tởng
thẩm mĩ của một cá thể muốn tồn tại trọn vẹn ý nghĩa trong đời sống.
Danh từ "lý tởng" phát sinh từ tiếng cổ Hy Lạp, biểu thị khái niệm của
con ngời về sự hoàn thiện, con ngời hoàn thiện và xã hội hoàn thiện. Trong
ý thức con ngời, lý tởng là ớc mơ, "là mục đích đặc trng cho phơng hớng
tổng quát vơn lên trong cuộc sống của con ngời đó"(E. Gromốp).
Cái đẹp - lý tởng phần lớn phụ thuộc vào quan niệm. Một nguyên tắc
mĩ học cơ bản của Xuân Diệu là lấy cái đẹp giữa tình yêu và tuổi trẻ của
con ngời làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của thế giới vạn vật.
Từ cổ chí kim, thơ ca thờng thiên về cái đẹp thiên nhiên và cuộc sống:
"Thơ xa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
1 Nguyễn Đăng Mạnh - "Dẫn luận nghiên cứu tác gia văn học" - Giáo trình ĐHSP 1993 - T110
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông"
(Hồ Chí Minh - Thiên Gia Thi)

Không muốn đi mãi mãi ở vờn trần
1 Thế Lữ - Tựa Thơ thơ - Sđd
11
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Chân hoá rễ để hút mùa dới đất"
(Thanh niên)
Cách mạng đến giải phóng sự tù đọng của t tởng Thơ Mới thơ trữ tình
Xuân Diệu trở nên ấm nóng reo vui khi tìm đợc mái nhà đích thực là nhân
dân, tổ quốc. Vẫn là vẻ đẹp của chiều sâu cảm xúc nhng càng mạnh mẽ trở
về cội nguồn, xây dựng đất nớc.
Trớc cách mạng là "Thơ Thơ" (1938) "Gửi hơng cho gió" (1945), sau
Cách mạng là cái đẹp trong đấu tranh và lao động của con ngời mới xây
dựng XHCN. Trớc là nét đẹp mềm mại uyển chuyển sau là chất sống khẻ
khoắn mộc mạc. Trớc sau Xuân Diệu đều nhất quán để thơ đi vào cuộc
sống và "đem chất sống thực tế vào thơ"
1
. Nói nh Hà Minh Đức: "Cái đẹp
trong thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm chất của thực taị
khách quan với cái đẹp trong tâm hồn nhà thơ"
2
. Nh vậy, lý tởng thẩm mĩ
đã giúp nhà thơ thực hiện thiên chức sáng tạo theo qui luật cái đẹp bằng ý
thức, cảm xúc và lẽ sống của mình. Lý tởng thẩm mĩ đã tạo cho thơ Xuân
Diệu chất thơ tràn nhựa sống.
Bản chất của cái đẹp là sự sống đ ợc sống lại nhiều tầng trong thơ trữ tình
Xuân Diệu
"Cái đẹp là cuộc sống" mà bản chất cuộc sống luôn vận động, hơn nữa,
Xuân Diệu coi con ngời giữa trần thế và hiện tại là tối cao nên bản chất
cái đẹp trong thơ trữ tình của ngời luôn vận động và đổi mới. Cái gì sống
thì luôn biến hoá và "hoạt khí" kéo theo cái đẹp thì không có giới hạn và

không phải phản ánh một cách tẩm thờng nhạt nhẽo mà "phản ánh một
cách cao đẹp". (Trờng Chinh) từ tầm cao của lý tởng và có sự sáng tạo
thẩm mĩ"
1
.
Tình yêu - trái tim thức đáp trong thơ trữ tình Xuân Diệu
Xuân Diệu đa ra một quan niệm mới mẻ về tình yêu là một cách khẳng
định lý tởng thẩm mĩ cao đẹp. "Lần đầu tiên với Xuân Diệu văn học Việt
Nam mới có đợc tình yêu thực sự là tình yêu" (Nguyễn Đăng Mạnh - Sđd).
Với Xuân Diệu tình yêu là sự giao cảm tâm linh lẫn thể xác để đa con ngời
tới bến bờ mê đắm, mới lạ và thánh thiện.
Lý tởng của tình yêu là sự giao cảm linh hồn nên rát sợ "xa cách"
"Trong say sa anh sẽ bảo em rằng
Gần thêm nữa thế vẫn còn xa lắm"
ở Xuân Diệu nỗi cô đơn tinh thần chuyển thành cảm giác cô đơn của
nhục thể rất nhân bản, rất hùng tráng.
1 Nguyễn Duy Bình - Sdd - T40
22
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
"Trời xanh trêu nh chén xanh êm
Biển đắng không nguôi nỗi khát thèm
Nên lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn uống hồn em".
(Vô biên)
Tình yêu trong thơ ông cũng giản dị, đời thờng, đó là hạnh phúc đợc
sống vì nhau và đợc bên nhau. Xuân Diệu khẳng định chỉ có tình yêu giữa
cuộc đời thực sẽ mãi mãi xanh tơi, chỉ có tuổi trẻ con ngời là nguồn sống
dào dạt nhất:
"Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cời
Vĩnh viễn anh yêu em nh yêu sự thật

bản của thơ Hồ Xuân Hơng, một dáng dấp tung hoành của Angiêlic
Ngời phụ nữ hiện lên ở những "điểm sáng" nh "nét mặt", "ánh mắt ngời
yêu", vì đây là vẻ đẹp chân chính nhất của nhân vật "em".Đó là "Đôi mắt,
nguồn mặn nồng tha thiết" (Đêm trăng đờng láng) , "đôi mắt đang nhìn
anh say đắm" (Tơng t chiều), "đôi mắt ngời yêu ôi vực thẳm" (Xa cách)
Những thanh sắc trần gian làm nên thế giới của "ngực nóng khúc đê
mê", của "em đẹp khi em phồng nét ngực", của "tháng giêng ngon nh một
cặp môi gần" Chi tiết nghệ thuật nhỏ nhng có sức khái quát nghệ thuật
cao.
Thế giới tâm hồn của em cũngđợc Xuân Diệu khắc hoạ đầy đủ từ nét
mặt và con mắt buồn bã trong không gian "mây đen ám mặt mày" (Đây
mùa thu tới, Tơng t chiều) đến nét rạng rỡ và nụ cời tơi trên gơng mặt em,
là sự phát triển của một quá trình "đi từ chân trời của một ngời đến chân
trời của muôn đời ngời".
Cái đẹp của thiếu nữ trong thơ trữ tình Xuân Diệu không có cái hiện
thực của "tiên nga mơ mộng cảnh xa vời" (Thế Lữ) hay vẻ dân dã bắn bó
với làng quê nh "em là cô gái trong khung cửi" (Nguyễn Bính) mà quyết
liệt không mơ hồ . Càng về sau, nhà thơ càng đem cái đẹp chung của
những "cô gái mở đờng" (Tố Hữu), "cô giái xeo giấy" (Chế Lan Viên)
vào lý tởng thẩm mĩ của mình. Xét đến cùng hình tợng những cô gái ấy là
cái tôi Xuân Diệu nhập vai.
22
Một số biện pháp khai thác cái đẹp trong thơ trữ tình Xuân Diệu Phạm Thị Nghê - Văn 4B - K 48
Thiên nhiên trong thơ trữ tình Xuân Diệu tràn đầy hơi thở trẩn thế - tức
là thiên nhiên đợc ngời hoá. Thiên nhiên đất trời là nơi để Xuân Diệu gửi
gắm lòng say mê cuộc sống và khát vọng tình yêu, ông ký thác vào đó
những tâm sự cô đơn. rặng liễu mùa thu với nỗi buồn tang tóc, hàng cây
thay lá, mảnh trăng chia lìa đơn chiếu, góc phố nhỏ đìu hiu, đám mây
buồn u ám Có khi thiên nhiên dạt dào và tràn trể những dòng vận
chuyển, "gió vừa chạy, vừa rên, vừa tắt thở", "sắc hạ rụng rung rinh bốn

Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá
Thu đến nơi nơi động tiếng huyền"
(Thơ Duyên)
Quan niện cái đẹp tồn tại ở thế song phơng, tơng ứng thực ra đợc hấp
thụ từ nét đẹp truyền thống. Những biểu tợng trong ca dao bao giờ cũng ở
thế có đôi nh trăng với sao, trầu với cau, biển với thuyền.
Tâm lý song phơng của ngời Việt ảnh hởng từ văn chơng đến ca vũ,
kiến trúc, giao tiếp Nó thể hiện sự vững chãi - đầy đủ và khát vọng an
bình trớc cuộc sống khó khăn.
Trong sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển và hiện đại, Đông
và Tây trong thơ trữ tình Xuân Diệu, quan niệm về cái đẹp tơng giao ấy là
cơ sở vững chãi cho một thế giới nghệ thuật đầy xuân tình và tràn đầy sức
sống. Cái mới là cách bài trí hình ảnh, chi tiết và hình tợng nhịp nhàng t-
ơng giao trên trục cơ bản là quan hệ giao cảm diễn ra hai chiều quan hệ,
khách thể (thế giới) và chủ thể (cái tôi Xuân Diệu). "Cái đợc biểu hiện" là
quan điểm mĩ học truyền thống, "cái biểu hiện" là hình ảnh, câu chữ, nhịp
điệu mang hơi thở thời đại.
3.2.3. Cái đẹp độc đáo của ngôn ngữ hình ảnh và nhạc điệu trong thơ trữ
tình Xuân Diệu
"Nội dung có tính thẩm mĩ chỉ tồn tại trong hình thức sáng tạo độc đáo
của nó"
1
. Thơ trữ tình Xuân Diệu có "cái đẹp bên trong" là những t tởng, quan
điểm lẽ sống và "cái đẹp bên ngoài" là ngôn ngữ chi tiết cấu trúc, nhạc
điệu có tác dụng quyết định đối với việc xây dựng hình tợng trong thơ.
Ngôn ngữ thơ trữ tình Xuân Diệu có chiều sâu của t tởng và rung cảm
thẩm mĩ có cái bay bổng của trí tởng tợng diệu kỳ, có tính chất Rađium cô
đọng, hàm súc, mang đậm dấu ấn cá nhân - Xuân Diệu. Hệ thống từ ngữ của
Xuân Diệu thiên về giá trị biểu cảm tinh tế bởi nhà thơ có sở trờng diễn tả

Nhạc điệu ấy đôi khi là tiếng sóng biển rì rào, cái dồn dập của nhịp thơ
nói đợc tình yêu đến độ sung mãn "Biển" hoặc sự vận động và tơng ứng
cuả các cặp hình tợng gọi đôi tạo đợc giọng điệu quyến rũ và một sức
mạnh chuyển vận vào bên trong tâm hồn (Thơ Duyên).
1 "Xuân Diệu - Một đời ngời, một đời thơ" - Thế Lữ - NXB Giáo Dục - 1993, T46
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status