Hoàn thiện quản lý chi ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh nghệ an - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------o0o----------

ĐỖ THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐINH HƯỚNG THỰC HÀNH

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------o0o----------

ĐỖ THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
CHO ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số:60340410

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐINH HƯỚNG THỰC HÀNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Đào Thị Phương Liên

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................................ 47
2.3.1. Địa điểm nghiên cứu. ............................................................................................ 47
2.3.2. Thời gian nghiên cứu. ........................................................................................... 47
2.4 Kỹ thuật và công cụ phân tích ................................................................................... 47
CHƯƠNG 3.THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU
TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CỦA TỈNH NGHỆ AN ...................................................... 49


3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh nghệ an có ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách
cho đầu tư xây dựng cơ bản. ........................................................................................... 49
3.1.1. Điều kiện tự nhiên tỉnh Nghệ An ......................................................................... 49
3.1.2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội ............................................................................... 51
3.2 Tình hình chi đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách tỉnh tại Nghệ An giai đoạn 20101013. ................................................................................................................................ 53
3.2.1 Thực trạng đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Nghệ An. ............... 53
3.2.2 Thực trang chi NSNN cho đầu tư XDCB từ NSNN của tỉnh Nghệ An ................. 54
3.3. Thực trạng quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của tỉnh Nghệ An. ..................... 63
3.3.1 Thực trạng vận dụng hệ thống Luật pháp, chính sách và các quy định trong quản
lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của tỉnh Nghệ An ........................................................ 63
3.3.2. Thực trạng quản lý chu trình chi ngân sách cho đầu tư XDCB ở tỉnh Nghệ An .. 66
3.3.3. Về việc thực hiện thanh tra, kiểm tra, đánh giá chương trình, dự án trong đầu tư
XDCB trên địa bàn tỉnh Nghệ An. .................................................................................. 73
3.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư XDCB của
tỉnh Nghệ An giai đoạn 2010-2013. ................................................................................ 73
3.4.1.Những kết quả đạt được ......................................................................................... 74
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân ........................................................................................ 79
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSNN
CHO ĐẦU TƯ XDCB CỦA TỈNH NGHỆ AN ............................................................. 88
4.1 Căn cứ cho việc đề xuất định hướng quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của tỉnh
Nghệ An. ......................................................................................................................... 88
4.1.1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020. ...... 88

BQLDA:

Ban quản lý dự án

CĐT:

Chủ đầu tư

CNV:

Công nhân viên

HĐND:

Hội đồng nhân dân

KBNN:

Kho bạc nhà nước

KCN:

Khu công nghiệp

KCN:

Khu công nghiệp

NN:


TSCĐ:

Tài sản cố định

TW:

Trung ương

UBND:

Ủy ban nhân dân

VNĐ:

Việt Nam đồng

XDCB:

Xây dựng cơ bản

XK:

Xuất khẩu

i


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
I. Danh mục các bảng
Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng và cơ cấu kinh tế của tỉnh Nghệ An................................ 53

và phân bổ nguồn lực hợp lý, đảm bảo cân đối thu chi, lành mạnh tình hình tài chính; đảm
bảo thực hiện công bằng xã hội; thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững, từ
đó đưa nước ta từ một nước nông nghiệp, kém phát triển trở thành một nước công nghiệp.
Tuy nhiên, nguồn lực huy động phục vụ cho phát triển của đất nước là có hạn, tình hình
quản lý ngân sách thời gian qua vẫn còn thất thoát, lãng phí, tham nhũng, kém hiệu trong
sử dụng vốn ngân sách nhà nước, gây bất bình trong dư luận xã hội và quần chúng nhân
dân nên yêu cầu huy động và sử dụng có hiệu lực, hiệu quả các nguồn lực thông qua công
cụ ngân sách nhà nước là hết sức cần thiết không chỉ ở cấp quốc gia mà đòi hỏi các cấp
chính quyền địa phương phải thực hiện.
XDCB giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò và ý nghĩa của
XDCB có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong quá trình tái sản xuất
TSCĐ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, cải tạo sữa chữa
hoặc khôi phục các công trình hư hỏng hoàn toàn. Vì vậy, việc tăng cường đầu tư XDCB
để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho sản xuất xã hội nhằm thúc đẩy
kết cấu hạ tầng ngày càng phát triển, làm thay đổi diện mạo của cả nước: các đô thị mới ra
đời, các khu công nghiệp được hình thành, hệ thống giao thông thuỷ lợi, sân bay, bến cảng
phát triển, nhiều công trình phúc lợi như bệnh viện, trường học được xây dựng khang
trang. Tốc độ và quy mô đầu tư XDCB đã góp phần quan trọng tăng trưởng, phát triển kinh
tế hàng năm, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Nguồn NSNN chi cho đầu tư phát triển có ý nghĩa vô cùng quan trọng, quyết định
tốc độ phát triển kinh tế. Trong những năm qua tổng mức đầu tư cho toàn xã hội bình quân
mỗi năm đạt khoảng 600 nghìn tỷ và theo xu hướng năm sau cao hơn năm trước. Trong đó
vốn đầu tư của Nhà nước chiếm tỷ trọng cao trên tổng vốn đầu tư, giữ vai trò chủ đạo trong
cơ cấu vốn của xã hội, góp phần định hướng tạo ra cơ cấu kinh tế mới, thu hút đầu tư của
các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên trước thực trạng của nền kinh tế đang trong giai
1


đoạn phát triển, đổi mới và hội nhập kinh tế Quốc tế nên khó tránh khỏi những hạn chế
trong đó có lĩnh vực đầu tư XDCB, đặc biệt là công tác quản lý chi ngân sách cho đầu tư

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận
và thực tiễn của công tác quản lý chi ngân sách cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ An từ đó
đề xuất những phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước
trong hoạt động quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Nghệ An nói riêng và hoạt động
quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Việt Nam nói chung hiện nay.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu đề ra, luận văn xác định những mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa lý luận về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB, những vấn đề cần
nghiên cứu giải quyết.
- Phân tích đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ
An để thấy rõ những thành công và hạn chế trong công tác này, từ đó chỉ ra.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp có tính thiết thực lý luận và thực tiễn trong
quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Tỉnh Nghệ An.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hoạt động đầu tư XDCB là một hoạt động phức tạp vì vậy trong khuôn khổ luận
văn thạc sỹ chỉ tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý
chi NSNN cho đầu tư XDCB.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Tập trung nghiên cứu hoạt động quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB của Tỉnh
Nghệ An.
- Không gian: Tỉnh Nghệ An
- Thời gian: từ năm 2010 đến 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ chí Minh, dựa trên chủ trương đường lối của Đảng
cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, các
3

- Năm 1991).
- Đề tài: “Tăng cường quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư xây dựng công
trình từ ngân sách thành phố Hà Nội” (2008), Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của
Nguyễn Thị Thanh.
Đề tài đã phân tích một số nội dung quản lý Nhà nước đối với các dự án đầu tư
XDCB thông qua các công cụ pháp luật, cơ chế chính sách, tổ chức thực hiện và kiểm tra,
thanh tra công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ ngân sách.
- Đề tài: “Vai trò nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn ngân sách nhà
nước trên địa bàn tỉnh Nam Định” (2010), Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị của Trần Chí
Hiền.
Đề tài đã đề cập đến những vấn đề lý luận liên quan đến vai trò quản lý Nhà nước
đối đầu tư XDCB bằng vốn NSNN. Đề tài đã phân tích được vai trò nhà nước đối với đầu
tư XDCB trong việc tạo ra hạ tầng cơ sở vật chất theo đúng quy hoạch, định hướng phát
triển kinh tế xã hội, định hướng phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, thu hút đầu
tư...
Một nghiên cứu khác của Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện quản lý chi ngân
sách nhà nước tỉnh Hà Tĩnh” (2013), Luận án tiến sỹ kinh tế của Bùi Thị Quỳnh Thơ, đã
hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế
xã hội; NSNN, chi và quản lý chi NSNN trong nền kinh tế thị trường với những nội dung
5


cụ thể: mục tiêu, nguyên tắc và phương thức của quản lý chi NSNN.
Bên cạnh những Luận án tiến sỹ kinh tế trên, còn một số Luận án, sách chuyên khảo
cũng nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến quản lý chi NSNN, như: "Đổi mới cơ cấu
chi NSNN góp phần thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở Việt Nam" (2003), Bùi
Đường Nghiêu, Luận án tiến sỹ - Học viện Tài chính; "Vận dụng phương thức lập ngân
sách theo kết quả đầu ra trong quản lý chi NSNN của Việt Nam" (2005), TS. Sử Đình
Thành, Nxb Tài chính; "Đổi mới quản lý chi ngân sách địa phương các tỉnh Đồng bằng
Sông Hồng" (2009), Trần Quốc Vinh, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế

NSNN.
Nhìn chung các luận án, đề tài này đã tiếp cận và đi vào nghiên cứu sâu về từng vấn
đề như: cơ chế quản lý tài chính, quản lý chi NSNN (dự toán, kiểm soát chi, quản lý định
mức chi tiêu), quản lý tài sản công... hoặc nghiên cứu theo từng đối tượng cụ thể như: lĩnh
vực giáo dục, lĩnh vực y tế... Các luận án, đề tài đã đưa ra những kết luận, kiến nghị chủ
yếu tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc, những nhiệm vụ cụ thể của giai đoạn
trước năm 2010. Điều có thể nhận thấy rõ nhất là hầu như các luận án, đề tài chỉ tập trung
vào vấn đề lĩnh vực quản lý chi tiêu công, hay nói cụ thể hơn là chỉ mới nghiên cứu việc
quản lý chi NSNN cho các hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Chưa có một luận
án, đề tài nào đề cập đến nghiên cứu về tổng quan chung về quản lý và hoàn thiện quản lý
chi NSNN cho đầu tư XDCB của tỉnh Nghệ An. Phần lớn các tác giả đều xuất phát từ
mục tiêu tăng cường, nâng cao hiệu quản lý chi tiêu của NSNN cho các hoạt động sự
nghiệp, nên cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu chưa thật sự thoát ra khỏi tư duy bao cấp, chỉ
mới nghiên cứu để tháo gỡ những vấn đề bất cập trong thực tế mà thôi; chưa có tác giả nào
trực tiếp nghiên cứu hoànquản lýchi ngân sách nhà nước cho đầu tư XDCB của tỉnh Nghệ
An - đây chính là khởi điểm quan trọng cho việc xây dựng các giải pháp hoàn thiện quản lý
chi ngân sách nhà nướccho đầu tư XDCB của tỉnh Nghệ An.
1.2. Những vấn đề cơ bản về chi ngân sách nhà nước cho đầu tư XDCB
1.2.1. Ngân sách Nhà nước
1.2.2.1.

Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành
phần trong hệ thống tài chính. Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi
7


trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại
chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các



nghiệp văn xã, sự nghiệp kinh tế, an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát
triển, ...). NSTW còn là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của các địa phương. Trên
thực tế, NSTW là ngân sách của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và
đảm bảo các nhu cầu chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nước. NSTW bao gồm nhiều
đơn vị dự toán. Mỗi Bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngân sách trung
ương.
1.2.2.1.

Đặc điểm của ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia.
Ngân sách nhà nước có một số đặc điểm sau:


Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh

tế - chính trị của nhà nước. Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nước và các chức năng của nó
là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN;


Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài

chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước; Các hoạt độngthu, chi NSNN
đều được tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ. Ví dụ như Luật thuế, các chế độ chi tiêu,
tiêu chuẩn định mức chi tiêu... do Nhà nước ban hành.


Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN được hình thành chủ yếu

- Sự quản lý chi NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai và minh bạch và có sự
tham gia của công chúng.
b. Đặc điểm của chi NSNN
- Đặc điểm nổi bật của chi NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng
dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn
diện nền KT-XH của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà
nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế.
- Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính
trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi NSNN do chính quyền Nhà nước các cấp
đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chi
tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển
KT-XH. Song song đó, các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết
định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu,
nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia.
- Chi NSNN cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng, quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội,... đồng thời đó cũng là những khoản chi cần thiết,
phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho viên chức bộ máy Nhà nước, chi hàng hóa
dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư...
- Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp. Điều
này thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ
thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chi NSNN. Điều này được quyết định
bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước.

10


Tóm lại, chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước, là công cụ để nhà nước điều
hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh tế, giải quyết những vấn
đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.
1.2.2.2. Nội dung chi NSNN

Các khoản chi thường xuyên thường được tập hợp theo từng lĩnh vực và nội dung
chi, bao gồm 4 khoản chi cơ bản sau:
- Chi quản lý hành chính Nhà nước: Với chức năng quản lý toàn diện nền KT-XH,
nên bộ máy hành chính Nhà nước được thiết lập từ Trung ương đến địa phương và toàn bộ
các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Chi quản lý hành chính Nhà nước nhằm đảm
bảo sự hoạt động của hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước. Theo nghĩa rộng, các
khoản chi này bao quát 5 lĩnh vực cơ bản:
+ Chi về hoạt động của các cơ quan quyền lực Nhà nước.
+ Chi về hoạt động của hệ thống cơ quan pháp luật.
+ Chi về hoạt động quản lý vĩ mô nền KT-XH cho hệ thống các cơ quan quản lý
KT-XH và chính quyền các cấp.
+ Chi về hoạt động của các cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam ở các cấp.
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội.
- Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội: Chi quốc phòng, an ninh được
tính vào khoản chi thường xuyên đặc biệt quan trọng, vì đây là lĩnh vực mà hoạt động của
nó đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước, ổn định trật tự xã hội và sự toàn vẹn lãnh thổ. Khoản
chi này được chia làm 2 bộ phận cơ bản:
+ Các khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ Nhà nước, chống lại sự
xâm lược và đe dọa của nước ngoài.
+ Các khoản chi nhằm bảo vệ, giữ gìn chế độ xã hội, an ninh của dân cư trong nước.
- Chi sự nghiệp văn hóa xã hội: Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội,
liên quan đến sự phát triển đời sống tinh thần của các tầng lớp dân cư. Chi văn hóa xã hội
gắn liền với quá trình đầu tư phát triển nhân tố con người. Chi văn hóa xã hội bao gồm các
khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp: sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp giáo dục
đào tạo, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền
hình và các hoạt động khác....

12





- Đầu tư, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, góp vốn cổ phần, góp vốn liên
doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước: Là
những khoản chi của NSNN để đầu tư hỗ trợ cho sản xuất dưới các hình thức:
+ Đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ sở
vật chất kỹ thuật, trang thiết bị.... cho các doanh nghiệp Nhà nước.
+ Góp vốn cổ phần hoặc liên doanh.
Với mục đích phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, thông qua các khoản
chi này Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế bằng việc nắm những ngành quan trong, chủ
yếu, quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế của đất nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của thành
phần kinh tế Nhà nước. Nhà nước đầu tư vào những ngành quan trọng có ảnh hưởng đến sự
tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, an ninh quốc phòng và các doanh nghiệp có tính chất
công ích.
- Chi hỗ trợ các quỹ hỗ trợ phát triển: Đây là khoản chi của NSNN góp phần tạo lập
quỹ hỗ trợ phát triển để thực hiện việc hỗ trợ vốn cho các dự án đầu tư phát triển thuộc các
ngành nghề ưu đãi và các vùng khó khăn theo quy định của Chính phủ, nhằm phát triển sản
xuất, đảm bảo cân đối giữa các ngành, các vùng trong cả nước. Khoản chi này hình thành
vốn điều lệ của quỹ và có thể chi để bổ sung vốn hàng năm khi cần thiết. Thông qua hoạt
động của quỹ hỗ trợ phát triển góp phần từng bước chuyển dần hình thức cấp phát sang
hình thức tín dụng đầu tư ưu đãi, nhằm nâng cao trách nhiệm của người sử dụng vốn và
hiệu quả sử dụng vốn.
- Chi dự trữ Nhà nước: Đó là khoản chi hình thành nên quỹ dự trữ Nhà nước nhằm
mục đích dự trữ những vật tư, thiết bị, hàng hóa chiến lược phòng khi nền kinh tế gặp
những biến cố bất ngờ về thiên tai, địch họa... đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định.
Từ những nội dung chi đầu tư phát triển nêu trên, có thể thấy rằng chi đầu tư phát
triển từ NSNN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau:
- Chi đầu tư phát triển là những khoản chi lớn và không ngừng tăng lên: Là khoản
chi đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển KT-XH của quốc gia, thông qua đầu tư phát triển
mới tạo ra được những tài sản cố định, năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế quốc dân, tạo

nhất định để sau đó thu lại một khoản tiền có giá trị lơn hơn”
Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động
nhằm thu được các kết quả, thực hiện những mục tiêu nhấtđịnh trong tương lai.
Xây dựng cơ bản là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở
rộng các TSCĐ có tổ chức sản xuất, không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua
các hoạt động xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục lại các TSCĐ.
15


Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư, đó là việc bỏ vốn để
tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các
TSCĐ nhằm phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân.
♦ Đặc điểm của đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi nhà quản lý phải nắm vững để
đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhất. Bao gồm các đặc điểm sau:
Đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi lượng vốn lớn và nằm đọng lại trong suốt quá
trình thực hiện đầu tư. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư xây dựng cơ bản phải thiết lập các
biện pháp phù hợp nhằm đảo bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh ứ đọng và
thất thoát vốn đầu tư, đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện
đúng theo kế hoạch và tiến độ đã được xác định.
Đầu tư XDCB có tính chất lâu dài, thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho
đến khi thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến
động xảy ra. Vì vậy, các yếu tố thay đổi theo thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quản lý
đầu tư XDCB chẳng hạn giá cả, lãm phát, lãi suất…
Sản phẩm đầu tư xây dựng cơ bản là các công trình xây dựng gắn liền với đất xây
dựng công trình. Vì vậy, mỗi công trình xây dựng có một địa điểm xây dựng và chịu sự chi
phối bởi điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, môi trường, khí hậu, thời tiết của nơi đầu tư
xây dựng công trình, nơi đầu tư xây dựng công trình cũng chính là nơi đưa công trình vào
khai thác, sử dụng sản phẩm xây dựng cơ bản chủ yếu được sản xuất theo đơn đặt hàng.
Chính vì vậy, quản lý vốn đầu tư XDCB phải dựa vào dự toán chi phí đầu tư xây dựng

hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ trên địa bàn địa phương.
Nguồn vốn chi NSNN cho đầu tư XDCB trên địa bàn địa phương bao gồm: vốn hỗ
trợ của TW, vốn địa phương, nguồn từ các chương trình dự án trên địa bàn địa phương…
1.2.3.3.

Đặc điểm của chi NSNN cho đầu tư XDCB

Thứ nhất là, chi NSNN cho đầu tư XDCB là khoản chi lớn của NSNN nhưng
không có tính ổn định.
Chi đầu tư XDCB là khoản chi tất yếu nhằm đảm bảo sự phát triển kinh tế-xã hội
cho mỗi quốc gia nối chung và cho từng địa phương nói riêng. Trước hết chi NSNN cho
đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất dịch vụ cho
sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi địa phương. Đồng thời chi NSNN cho đầu tư XDCB
còn có ý nghĩa là vốn tạo mồi để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, định hướng đầu tư phát
triển cho nền kinh tế - xã hội của địa phương, của quốc gia theo từng thời kỳ. Quy mô chi
NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản phụ thuộc vào chủ trương, đường lối phát triển kinh tế 17


xã hội của đất nước, địa phương theo từng thời kỳ.
Thứ hai là chi cho đầu tư XDCB gắn liền với đầu tư XDCB
Đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách nhà nước là một khoản chi lớn và chiếm tỷ
trọng chủ yếu trong tổng vốn chi đầu tư phát triển của NSNN. Do đó, sự vận động của tiền
vốn dùng để trang trải chi phí đầu tư xây dựng cơ bản chịu sự chi phối trực tiếp bởi đặc
điểm của đầu tư XDCB.
Thứ ba, chi NSNN cho đầu tư XDCB gắn liền với đặc điểm của NSNN và đặc
điểm của chi NSNN. Bên cạnh đó, nó còn có đặc thù riêng của chi NSNN cho đầu tư
XDCB đó là: người quản lý chi XDCB và người sử dụng kết quả đầu tư XDCB có thể tách
rơi nhau, điều này có thể làm giảm chất lượng công trình đầu tư XDCB làm khó khăn cho
công tác quản lý chi NSNN. Hơn nữa quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB được phân cấp
nhiều trong quản lý, qua nhiều khâu, nhiều cơ quan quản lý mang tính sở hữu chung nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status