BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------------------0O0-----------------
NGUYỄN QUANG SÂM
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN PHONG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60.34.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN NGUYÊN CỰ
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và hình ảnh trong luận văn hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Quang Sâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các từ viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
1
MỞ ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
3
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu:
3
1.4
Câu hỏi nghiên cứu:
4
2
CƠ SỞ LÝ LUẬN & THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ
5
2.1
Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách xã.
5
2.1.1
Một số khái niệm cơ bản về quản lý ngân sách xã (QLNSX)
nước ta
30
2.2.1
Kinh nghiệm quản lý NSX tại tỉnh Hưng Yên
30
2.2.2
Kinh nghiệm quản lý NSX tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
32
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
3
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
35
3.1
Phương pháp thu thập dữ liệu
43
3.2.3
Phương pháp phân tích số liệu
44
3.2.4
Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu dự định sử dụng
44
4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
45
4.1
Thực trạng quản lý ngân sách xã ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh
45
4.1.1
4.2.1
Căn cứ đề xuất và giải pháp.
106
4.2.2
Định hướng
107
4.2.3
Giải pháp hoàn thiện công tác QL NSX trên địa bàn huyện Yên
Phong trong thời gian tới
109
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
123
5.1
Kết luận
123
5.2
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Uỷ ban nhân dâ
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
BSCĐ
Bổ sung cân đôi
BSMT
Bổ sung mục tiêu
KBNN
Kho bạc nhà nước
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
XD CSHT
ATGT
An toàn giao thông
TDTT
Thể dục thể thao
PTTH
Phát thanh truyền hình
VHTT
Văn hoá thông tin
QLNSX
Quản lý ngân sách xã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
DANH MỤC BẢNG
TT
3.1
4.4
Tình hình thu NSX huyện Yên Phong từ năm 2010 đến năm 2012
56
4.5
Tổng hợp tình hình thu phí và lệ phí của NSX ở huyện Yên Phong,
tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2012
4.6
57
Tổng hợp tình hình thu quỹ đất công ích và hoa lợi công sản của
NSX ở huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 - 2012
58
4.7
Tổng hợp tình hình thu đóng góp của nhân dân từ năm 2010 - 2012
60
4.8
Tổng hợp tình hình thu thuế giá trị gia tăng từ năm 2010 - 2012
4.13
Nội dung chi NSX huyện Yên Phong từ năm 2010 - 2012
77
4.14
Phân tích tình hình chi sự nghiệp kinh tế từ năm 2010 - 2012
79
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
4.15
Tình hình chi quản lý hành chính cấp xã, huyện Yên Phong từ năm
2010 - 2012
4.16
4.17
82
Tình hình chi đầu tư phát triển của NSX ở huyện Yên Phong từ năm
2010 - 2012
nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế hàng năm lên tới
hàng nghìn tỷ đồng. Trên tinh thần phát triển kinh tế của Đại Hội Đảng lần
thứ XI, ngân sách nhà nước nói chung và ngân sách cấp xã nói riêng, hơn lúc
nào hết hiểu rõ trách nhiệm, sứ mệnh của mình trong tình hình mới - là động
lực của sự phát triển. Với chủ trương phát triển toàn diện của Đảng, ngân sách
cấp xã đang ngày càng thể hiện rõ chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình
trong hệ thống ngân sách nhà nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
Mặt khác ngân sách cấp xã có vai trò cung cấp phương tiện vật chất cho
sự tồn tại và hoạt động của chính quyền cấp xã, đồng thời là một công cụ để
chính quyền huyện thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế xã hội
trên địa bàn huyện. Tuy nhiên do ngân sách cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ
thống các cấp ngân sách nhà nước nên đôi khi ngân sách cấp xã chưa thể hiện
được vai trò của mình đối với kinh tế địa phương.
Do vậy để chính quyền cấp xã thực thi có hiệu quả những nhiệm vụ
kinh tế xã hội mà nhà nước giao cho trong chiến lược phát triển kinh tế, xã
hội ở địa phương trên các lĩnh vực, đặc biệt là nông nghiệp, nông thôn thì
cần có một ngân sách cấp xã đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực,
là một mục tiêu phấn đấu trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Vì thế hơn bao
giờ hết hoàn thiện công tác quản lý ngân sách xã là một nhiệm vụ luôn
được quan tâm.
Việc lập, chấp hành và quyết toán NSNN ở cấp xã hàng năm đã được
thực hiện theo quy định của Luật NSNN, nhưng trên thực tế vẫn còn mang
tính hình thức, tính áp đặt, số liệu chưa phản ánh đúng thực trạng khách quan
của từng địa phương. Do đó ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý ngân sách xã;
- Phản ánh thực trạng công tác quản lý ngân sách xã trên địa bàn huyện
Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh những năm qua;
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản
lý ngân sách xã trên địa bàn huyện Yên Phong cho các năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề liên quan đến quản lý NSX và hoàn thiện quản lý NSX
- Các nguồn ngân sách xã.
- Các đối tượng thu, chi ngân sách xã: Các doanh nghiệp Nhà nước, doanh
nghiệp tư nhân, hộ cá thể, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện Yên Phong.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các vấn đề
lý luận và thực tiễn về quản lý và thực trạng quản lý ngân sách xã trên địa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
bàn huyện Yên Phong; đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý ngân
sách xã.
+ Phạm vi về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn
huyện Yên Phong-tỉnh Bắc Ninh.
- Về thời gian: Số liệu sử dụng cho phân tích thực trạng được thu thập
từ năm 2010-2012, dữ liệu sơ cấp khảo sát năm 2014 và đề xuất giải pháp đến
năm 2015.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu:
- Quản lý NSX được quy định bao gồm những nội dung gì?
- Thực trạng quản lý NSX theo từng nội dung đã được thực hiện như
và có thể đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.
Quản lý NSX phải được thực hiện ở tất cả các khâu của chu trình ngân
sách (từ Lập dự toán ngân sách- Chấp hành ngân sách- Quyết toán ngân sách);
phải đảm bảo tính thống nhất trong thực hiện và quản lý thu, chi ngân sách
trong hệ thống ngân sách các cấp; phải đảm bảo tính cân đối của ngân sách;
phải được quản lý rành mạch, công khai để mọi đối tượng biết trong suốt chu
trình ngân sách và phải được áp dụng cho tất cả các cơ quan tham gia vào chu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
trình ngân sách (cả ở cơ quan quản lý và cơ quan, đối tượng thụ hưởng), tạo
tiền đề cho mọi đối tượng có thể nhìn nhận được hiệu quả các chương trình
hành động của Chính quyền địa phương trên cơ sở các chính sách tài chính
quốc gia.
2.1.2. Vai trò của quản lý NSX
Quản lý NSX đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì mọi
hoạt động trong quản lý nhà nước của cấp chính quyền xã. Xét về mặt tổng
thể hay xét như một quy trình, quản lý thì quản lý NSX có những vai trò sau:
Thứ nhất: Quản lý NSX có vai trò định hướng cho sự phát triển kinh tếxã hội tại một cấp chính quyền, thông qua chức năng lập kế hoạch để xác định
mục tiêu, các phương pháp sử dụng nguồn lực ngân sách để đạt được mục tiêu
trong phát triển kinh tế- xã hội đúng hướng tại địa phương.
Thứ hai: Thông qua quá trình quản lý NSX mà chính quyền địa phương
xây dựng bộ máy tổ chức hoạt động để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Thứ ba: Vai trò duy trì và thúc đẩy được thể hiện qua chức năng lãnh
đạo của quy trình quản lý. Nhờ có hệ thống nguyên tắc quản lý NSX (nội quy,
quy chế) mới có thể bắt buộc chủ thể quản lý là chính quyền địa phương và
các đối tượng quản lý NSX hoạt động đảm bảo quy định của pháp luật. Đây là
lý NSX, phường, thị trấn. Đây chính là điểm phức tạp đối với quá trình quản
lý NS của cấp xã. Sự phức tạp đó càng cao đối với địa bàn xã, giảm dần ở thị
trấn và nhẹ nhất là ở phường.
Do vậy, phải lấy chất lượng, hiệu quả hoạt động của các chủ thể được
giao quản lý điều hành các quỹ tiền tệ trên địa bàn cấp xã làm thước đo kết
quả quản lý tài chính của chính quyền cấp này.
Hai là, có thể sử dụng các phương pháp và công cụ khác nhau vào quản
lý NS ở xã, phường, thị trấn. Với tư cách là một cấp chính quyền được phân
công, phân cấp trách nhiệm, quyền hạn về quản lý kinh tế, xã hội; nên chính
quyền cấp xã có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý (tổ chức, hành chính,
kinh tế), và nhiều công cụ quản lý khác nhau (pháp luật, các đòn bẩy kinh tế,
thanh tra- kiểm tra, đánh giá…) vào quản lý NS ở cấp xã. Song, trong hoạt
động thực tiễn cũng phải tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng quản lý và chủ
thể bị quản lý cụ thể mà lựa chọn các phương pháp, các công cụ cho phù hợp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
Ba là, sự đa dạng về hình thức biểu hiện của các nguồn tài chính ở
chính quyền cấp xã. Trong số các nguồn tài chính có thể huy động vào NSX
có cả các nguồn tài chính tiềm năng, như: đất đai, công sản; có cả các nguồn
tài chính huy động, nhưng lại nhận được dưới dạng các vật tư, tài sản, hay các
hàng hóa khác;… Song tất cả các nguồn đó đều phải quy ra tiền tại thời điểm
thực tế đã huy động được. Khi sử dụng các quỹ tiền tệ ở cấp xã cũng không
phải 100% các nghiệp vụ phát sinh được cấp bằng tiền, mà có sự đan xen giữa
tiền và hiện vật. Do đó, trong quản lý NSX ở chính quyền cấp xã nhất thiết
phải đảm bảo tính thống nhất cao giữa quản lý hiện vật với giá trị thuộc phạm
vi nguồn tài chính của cấp chính quyền này.
điều tất yếu dẫn đến là nhà nước phải đón nhận một hiệu quả quản lý thấp.
Các quốc gia phát triển đều rất quan tâm đến nhân tố hết sức quan
trọng này và thường chú trọng song song hai nhiệm vụ: Trang bị đào nguồn
nhân lực thông qua việc tăng cường đầu tư cho giáo dục- đào tạo; nghiên cứu
sắp xếp bộ máy tổ chức từ trung ương đến cơ sở đảm bảo tinh gọn, hiệu quả.
2.1.4.2. Phân cấp quản lý Ngân sách
Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước là xác định phạm vi trách nhiệm
và quyền hạn của chính quyền nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành
thực hiện nhiệm vụ thu chi của ngân sách. Phân cấp quản lý ngân sách Nhà
nước là cách tốt nhất để gắn các hoạt động của ngân sách nhà nước với các
hoạt động kinh tế- xã hội ở từng địa phương một cách cụ thể nhằm tạo sự chủ
động và nâng cao tính tự chủ của từng địa phương với mục tiêu tập trung đầy
đủ, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ các nguồn tài chính quốc gia và phân
phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao phục vụ các mục tiêu
được hoạch định. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước không chỉ bắt nguồn từ
cơ chế kinh tế, mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính.
Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng nguồn tài
chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp trực tiếp đề xuất và bố trí chi
tiêu sẽ có hiệu quả hơn là sự áp đặt từ trên xuống. Mặt khác, xét về yếu tố lịch
sử và điều kiện thực tế cần có chính sách và biện pháp nhằm khuyến khích
chính quyền các địa phương phát huy tính độc lập, tự chủ, tính chủ động sáng
tạo của địa phương mình trong phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
Phân định nhiệm vụ thu, chi giữa các cấp ngân sách góp phần khuyến
khích các cấp chính quyền, nhất là chính quyền địa phương, thường xuyên
nhiệm vụ chi của từng cấp, Quốc hội, HĐND điều chỉnh mức bổ sung cân đối
từ NS cấp trên cho NS cấp dưới; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND cấp
tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu
giữa NS các cấp.
2.1.4.3. Lập dự toán NSX
Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của Uỷ ban nhân dân cấp trên, Uỷ ban
nhân dân xã lập dự toán ngân sách năm sau trình Hội đồng nhân dân xã quyết
định. Để xây dựng dự toán NSX, phải bám sát tình hình thực tế tại mỗi địa
phương và phải dựa vào các căn cứ sau:
- Các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng,
trật tự an toàn xã hội của xã.
- Chính sách, chế độ thu ngân sách nhà nước, cơ chế phân cấp nguồn
thu, nhiệm vụ chi NSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do Hội đồng nhân dân
cấp tỉnh quy định.
- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Thủ tướng
Chính phủ, Bộ Tài chính và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định.
- Số kiểm tra về dự toán NSX do Uỷ ban nhân dân huyện thông báo.
- Tình hình thực hiện dự toán NSX năm hiện hành và các năm trước.
+ Trình tự lập dự toán NSX:
- Ban Tài chính xã phối hợp với cơ quan thuế hoặc đội thu thuế xã (nếu
có) tính toán các khoản thu ngân sách nhà nước trên địa bàn.
- Các ban, tổ chức thuộc Uỷ ban nhân dân xã căn cứ vào chức năng
nhiệm vụ được giao và chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi lập dự toán chi của
đơn vị tổ chức mình.
- Ban Tài chính xã lập dự toán thu, chi và cân đối NSX trình Uỷ ban
nhân dân xã báo cáo Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã để xem
xét gửi Uỷ ban nhân dân huyện và phòng Tài chính- Kế hoạch huyện. Thời
gian báo cáo dự toán NSX do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
luật do Hội đồng nhân dân xã quyết định đưa vào NSX quản lý.
Thu NSX gồm: các khoản thu NSX hưởng 100%, các khoản thu phân
chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSX với ngân sách cấp trên và thu bổ sung
từ ngân sách cấp trên.
+ Các khoản thu NSX hưởng một trăm phần trăm (100%): Là các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
khoản thu dành cho xã sử dụng toàn bộ để chủ động về nguồn tài chính bảo
đảm các nhiệm vụ chi thường xuyên, đầu tư. Căn cứ quy mô nguồn thu, chế
độ phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và nguyên tắc đảm bảo tối đa nguồn tại
chỗ cân đối cho các nhiệm vụ chi thường xuyên, khi phân cấp nguồn thu, Hội
đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét dành cho NSX hưởng 100% gồm các khoản
thu dưới đây:
- Các khoản phí, lệ phí thu vào NSX theo quy định.
- Thu từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phần nộp vào ngân sách nhà
nước theo chế độ quy định;
- Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đất công ích và hoa lợi
công sản khác theo quy định của pháp luật do xã quản lý;
- Các khoản huy động đóng góp của tổ chức, cá nhân gồm: các khoản
huy động đóng góp theo pháp luật quy định, các khoản đóng góp theo nguyên
tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do Hội đồng nhân dân xã
quyết định đưa vào NSX quản lý và các khoản đóng góp tự nguyện khác;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước trực
tiếp cho NSX theo chế độ quy định;
- Thu kết dư NSX năm trước;
- Các khoản thu khác của NSX theo quy định của pháp luật.
hợp thật cần thiết phải thu một lần cho một số năm, thì chỉ được thu trong
nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, không được thu trước thời gian của nhiệm
kỳ Hội đồng nhân dân khoá sau, trừ trường hợp thu đấu giá quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
Ban Tài chính xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế đảm bảo thu
đúng, thu đủ và kịp thời.
Đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ nộp ngân sách, căn cứ vào thông báo thu
của cơ quan thu hoặc của Ban tài chính xã, lập giấy nộp tiền (nộp bằng
chuyển khoản hoặc nộp bằng tiền mặt) đến Kho bạc Nhà nước để nộp trực
tiếp vào ngân sách nhà nước.
Trường hợp đối tượng phải nộp ngân sách không có điều kiện nộp tiền trực
tiếp vào ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà nước theo chế độ quy định, thì:
Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của cơ quan thuế, cơ quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
thuế thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước. Trường
hợp cơ quan thuế uỷ quyền cho Ban Tài chính xã thu, thì cũng thực hiện theo
quy trình trên và được hưởng phí uỷ nhiệm thu theo chế độ quy định.
Đối với các khoản thu thuộc nhiệm vụ thu của Ban Tài chính xã, Ban
Tài chính xã thu, sau đó lập giấy nộp tiền và nộp tiền vào Kho bạc Nhà nước hoặc
nộp vào quỹ của NSX để chi theo chế độ quy định nếu là các xã miền núi, vùng
sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với Kho bạc Nhà nước.
Nghiêm cấm thu không có biên lai, thu để ngoài sổ sách; khi thu phải
giao biên lai cho đối tượng nộp. Cơ quan Thuế, Phòng Tài chính huyện có
nhiệm vụ cung cấp biên lai đầy đủ, kịp thời cho Ban Tài chính xã để thực hiện
thu nộp ngân sách nhà nước. Định kỳ, Ban Tài chính xã báo cáo việc sử dụng
Đối với các khoản thu từ hoạt động kinh tế hoạt động sự nghiệp, tiền sử
dụng đất, hoa lợi công sản, đất công ích .. tại xã phải được nộp trực tiếp vào
KBNN theo thông báo thu của cơ quan thu.
Đối với những khoản thu tiền phạt, căn cứ vào quyết định xử phạt của
cơ quan có thẩm quyền, các đối tượng nộp phạt có trách nhiệm nộp tiền phạt
vào KBNN.
Đối với các khoản thu đóng góp hoặc vay của dân: Căn cứ vào chứng
từ vay và thu đóng góp từ dân của chính quyền xã, KBNN làm thủ tục ghi thu,
ghi chi NSX. Đối với những khoản huy động bằng hiện vật như vật tư, tài sản,
hàng hoá, ngày công lao động được quy đổi ra đồng Việt Nam để hạch toán
theo thu NSX.
* Thu NSX qua cơ quan thu:
KBNN phối hợp với chính quyền xã, cơ quan thu trên địa bàn xã trong
việc kiểm tra, đối chiếu số liệu thu NSX báo cáo kịp thời cho xã để xã chủ
động trong điều hành NSX, phân loại đối tượng thu trực tiếp qua KBNN, thu
qua cơ quan thu cho phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế trên địa bàn xã.
KBNN hạch toán các khoản thu do cơ quan thu nộp và phân chia tỷ lệ
phần trăm cho NSX.
Thực hiện hoàn trả các khoản thu NSX theo lệnh của cơ quan có thẩm
quyền.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16
Kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về các biện pháp nhằm đảm
bảo tập trung đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSX.
b. Tổ chức quản lý chi NSX
Chi NSX gồm: chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Hội đồng