ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN VĂN AN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH
VỚI GIỮ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN VĂN AN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH
VỚI GIỮ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Lưu Văn Sùng
Hà Nội - 2014
Tôi cũng xin cảm ơn lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè nơi Tôi
đang công tác và gia đình đã tạo mọi điều kiện, động viên, khích lệ Tôi trong
suốt quá trình học tập.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn An
MỤC LỤC
Mở đầu ................................................................................................................... 1
Chƣơng 1. KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI ..... 9
1.1. Khái niệm, đối tƣợng, phạm vi khiếu nại hành chính và giải quyết
khiếu nại hành chính ............................................................................................ 9
1.1.1. Khái niệm về khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính ...... 9
1.1.2. Đối tượng bị khiếu nại, giải quyết khiếu nại hành chính .............................. 10
1.2. Vai trò của giải quyết khiếu nại hành chính đối với ổn định chính trị xã hội ...................................................................................................................... 16
1.2.1. Khái niệm ổn định chính trị - xã hội ............................................................. 16
1.2.2. Vai trò của ổn định chính trị - xã hội ............................................................ 17
1.2.3. Nguyên nhân, xu hướng và hậu quả của xung đột xã hội ............................. 18
1.2.4. Trạng thái xung đột và giải tỏa xung đột ...................................................... 24
1.3. Các điều kiện đảm bảo giải quyết khiếu nại ................................................ 25
1.3.1. Điều kiện chính trị, pháp luật ........................................................................ 25
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.............................................................................. 31
1.3.3. Các điều kiện khác ........................................................................................ 32
Chƣơng 2. KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH - NGUYÊN NHÂN, XU HƢỚNG VÀ
NHỮNG YÊU CẦU, GIẢI PHÁP HIỆN NAY .................................................. 34
2.1. Nguyên nhân, xu hƣớng và những kinh nghiệm của tỉnh Hà Tĩnh .......... 34
2.1.1. Nguyên nhân, xu hướng khiếu nại và việc giải quyết khiếu nại hành chính
KT,XH:
Kinh tế, xã hội
UBND:
Ủy ban nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khiếu nại là quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và
lợi ích của mình khi bị xâm phạm; là phương thức để nhân dân tham gia giám
sát việc thực thi quyền lực bộ máy nhà nước; biểu hiện sinh động chế độ
chính trị dân chủ Nhà nước XHCN. Do đó, giải quyết khiếu nại không những
là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước mà còn thể hiện mối quan hệ giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, Đảng và Nhà
nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của chính sách, pháp luật đã ban
hành, từ đó có cơ sở bổ sung, sửa đổi các cơ chế, chính sách, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, giữ vững ổn định chính
trị - xã hội.
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính
sách tăng cường công tác giải quyết khiếu nại. Quá trình thực hiện quản lý
được Đảng giao, nhân dân ủy quyền, cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã
tiếp nhận hàng trăm nghìn đơn thư các loại. Tiến hành thẩm tra, xác minh,
2001-2004; gần đây là cưỡng chế, thu hồi đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng 2013
v.v..). Những hạn chế, yếu kém nói trên có nguyên nhân khách quan, nhưng
trực tiếp và quyết định vẫn là chủ quan do cấp ủy, chính quyền ở nơi đó còn
xem nhẹ công tác giải quyết khiếu nại; không coi đây là nhiệm vụ chính trị
trọng yếu, giải pháp hữu hiệu trong điều hành, quản lý nhà nước.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước đang tập trung đẩy nhanh và mạnh quá
trình phát triển kinh tế, thực hiện CNH-HĐH đất nước “phấn đấu đến năm
2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” [11,tr.4]. Ngoài
việc xây dựng các cơ chế, chính sách thì nhu cầu thu hồi, bồi thường GPMB
2
đất để xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật (khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, công trình thuỷ, nhiệt điện, sân bay, bến cảng, mạng lưới giao
thông, thông tin liên lạc...) phục vụ phát triển KT,XH, đã tác động đến đời
sống dân sinh nơi thực hiện dự án, cũng làm phát sinh đơn thư khiếu nại.
Hà Tĩnh cũng không nằm ngoài quy luật chung của cả nước, là một tỉnh
thuộc duyên hải Bắc Trung Bộ, có điều kiện tự nhiên và xã hội khá thuận lợi
nhưng vẫn còn nghèo. Thực hiện Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ
XVI (2005-2010) và lần thứ XVII (2010-2015), những năm gần đây tỉnh đang
tập trung triển khai quyết liệt nhiều chương trình, dự án KT,XH lớn nhằm thu
hút đầu tư, đẩy nhanh tốc độ phát triển và chuyển dịch cơ cấu KT,XH. Cùng
một thời điểm, đã tiến hành thu hồi, GPMB hỗ trợ tái định cư nhiều dự án
phát triển KT,XH, chỉnh trang đô thị nên việc thu hồi đất với diện tích lớn, ở
nhiều nơi đã ảnh hưởng trực tiếp đến đất sản xuất, giải quyết việc làm, đời
sống sinh hoạt... nơi triển khai dự án [24,tr.2,3,4], chắc chắn sẽ phát sinh đơn
thư. Và nếu Tỉnh ủy, UBND tỉnh không tập trung giải quyết thoả đáng, lâu dài
các lợi ích chính đáng của nhân dân bị ảnh hưởng bởi dự án, đặc biệt là không
làm tốt công tác giải quyết khiếu nại của công dân thì sẽ nảy sinh mâu thuẫn,
khó tạo được sự đồng thuận giữa chính quyền, nhà đầu tư và nhân dân, an
Văn Sê với bài Những vấn đề đặt ra trong việc áp dụng pháp luật để giải
quyết khiếu nại về đất đai, Tạp chí Thanh tra tháng 6/2008;
- Các công trình khoa học là Luận án Tiến sĩ, Luận văn Thạc sĩ theo mã
số chuyên ngành Lý luận lịch sử nhà nước và pháp luật: Luận văn Thạc sĩ luật
học của tác giả Trần Nam Khởi, năm 2008 với đề tài Áp dụng pháp luật trong
giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan hành chính nhà nước ở cấp huyện
tỉnh Bạc Liêu hiện nay; Luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Phạm Đức Ban,
năm 2009 với đề tài Áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai
của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương...
4
Nhóm công trình nghiên cứu về thủ tục, kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết
khiếu nại hành chính được đăng tải trên tạp chí trung ương: Phó tổng Thanh
tra Chính phủ Nguyễn Đức Hạnh, Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại,
Tạp chí Thanh tra tháng 4/2010; Chánh Thanh tra tỉnh Hà Tĩnh Thái Sinh với
bài, Thu thập, xử lý tài liệu, chứng cứ - Hướng tới sự chuyên nghiệp trong
giải quyết khiếu nại, Tạp chí Thanh tra tháng 2/2012 và bài, Kỹ năng, kinh
nghiệm soạn thảo quyết định giải quyết khiếu nại hành chính, Tạp chí Thanh
tra tháng 7/2012.
Đối với bản thân tác giả cũng đã có một số bài viết nghiên cứu, trao đổi
về công tác giải quyết khiếu nại đã được công bố, như: Nguyễn Văn An, Ủy
quyền khiếu nại - Từ quy định đến thực tiễn áp dụng, Tạp chí Thanh tra tháng
4/2005; Nguyễn Văn An, Luật Khiếu nại, tố cáo - từ quy định đến thực tiễn
áp dụng, Tạp chí Thanh tra tháng 3/2010; Nguyễn Văn An, Hướng về cơ sở giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, Tạp chí
Thanh tra tháng 2/2011; Nguyễn Văn An, Tiếp nhận xử lý đơn thư khiếu nại,
tố cáo - còn đó những vướng mắc, bất cập, Tạp chí Thanh tra tháng 6/2012.
Với những công trình khoa học đề cập liên quan đến công tác giải
quyết khiếu nại trong quản lý nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau, hoặc
nghiên cứu theo “lát cắt” về một công đoạn, quy trình nhất định trong quá
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các quan hệ khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính phát sinh giữa
Chủ tịch UBND các cấp ở tỉnh Hà Tĩnh với chủ thể có đơn khiếu nại (công
dân, tổ chức).
Công tác giải giải quyết khiếu nại đã tác động to lớn đến sự ổn định
chính trị - xã hội ở Hà Tĩnh.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Giải quyết khiếu nại liên quan đến nhiều lĩnh vực, phạm vi rất rộng
nhưng ở đây chỉ giới hạn nghiên cứu nội hàm giải quyết khiếu nại hành chính
thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND tỉnh, UBND huyện, UBND xã (không
đề cập giải quyết khiếu nại liên quan lĩnh vực tư pháp; khiếu nại quyết định kỷ
luật cán bộ, công chức (quy định trong Luật Khiếu nại); khiếu nại liên quan đến
kỷ luật đảng được giải quyết theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam).
Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân
nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Theo đó, việc giải quyết tố cáo
có thể theo hành chính của Luật Tố cáo hoặc giải quyết hình sự của Luật Hình
sự và Luật Tố tụng hình sự, … tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đối tượng
bị tố cáo. Phạm vi đề tài này cũng không đề cập nghiên cứu.
Về không gian: Địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Về thời gian: Khảo sát, phân tỉnh và tổng hợp số liệu thực trạng khiếu
nại và giải quyết khiếu nại hành chính ở tỉnh Hà Tĩnh trong khoảng thời gian
từ năm 2007 đến năm 2011.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối
KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, đối tƣợng, phạm vi khiếu nại hành chính và giải
quyết khiếu nại hành chính
1.1.1. Khái niệm khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành
chính
Theo khoa học, thuật ngữ “khiếu nại” được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau: Theo “Đại từ điển tiếng Việt” thì “khiếu nại” được hiểu là “ thắc mắc,
đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm,
đã chuẩn y”. Có quan niệm lại cho rằng “khiếu nại là một hình thức công dân
hướng đến cơ quan nhà nước, hay tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ
trang khi thấy quyết định hay hành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích của
mình”[26,tr.393]. Với quan niệm khiếu nại là một trong những phương thức
bảo vệ quyền chủ thể thì “khiếu nại được sử dụng khi quyền chủ thể của bản
thân công dân khiếu nại hoặc của người do mình bảo hộ bị vi phạm do quyết
định hoặc hành vi trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các cơ
quan nhà nước hoặc nhân viên nhà nước”[36,tr.477].
Theo Luật Khiếu nại được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam, Khóa XIII, Kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 11 tháng 11 năm 2011:
“Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại
quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho
rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp của mình”.
9
Giải quyết khiếu nại: Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết
luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại.
điều chỉnh nhiều đối tượng, phạm vi ảnh hưởng rộng và được áp dụng lặp đi
lặp lại nhiều lần. Ví dụ như quyết định của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương ban hành đơn giá bồi thường, hỗ trợ đất và tài sản trên đất tại địa
phương đó nhằm cụ thể hóa, thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp thông
qua kỳ họp cuối năm quyết nghị đơn giá bồi thường đất và tài sản trên đất của
địa phương năm liền kề sau đó.
- Ba là: Quyết định hành chính, hành vi hành chính trong nội bộ cơ
quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ; quyết định
hành chính, hành vi hành chính chỉ đạo điều hành của cơ quan hành chính cấp
trên với cơ quan hành chính cấp dưới (ví dụ như văn bản của Chủ tịch UBND
tỉnh điều động Phó Giám đốc Sở làm Chủ tịch UBND huyện; văn bản của
UBND tỉnh chỉ đạo ngành Công an phối hợp các địa phương siết chặt tuần tra,
kiểm soát việc chấp hành an toàn giao thông, giảm thiểu tại nạn giao thông tại
những thời điểm nhạy cảm…); quyết định hành chính, hành vi hành chính
thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại
giao theo danh mục do Chính phủ quy định cũng không được coi là đối tượng
bị khiếu nại; mặt khác, hành vi hành chính đó phải được thực hiện trong quá
trình thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao, triển khai theo một trình tự, thủ
tục và thời gian quy định…
Đặc biệt quyết định hành chính, hành vi hành chính chỉ bị coi là đối
tượng bị khiếu nại khi quyết định đó, hành vi đó có liên quan đến quyền và lợi
ích hợp pháp của chủ thể khiếu nại. Hay nói cách khác quyết định đó, hành vi
đó đã xâm hại, hoặc có tính chất đe dọa (chắc chắn sẽ xâm hại) trực tiếp đến
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, doanh nghiệp (chủ thể khiếu
11
nại) trong tương lai nếu không được ngăn chặn. Như vậy, ở đây đã xuất hiện
sự mâu thuẫn, đụng độ lợi ích giữa người khiếu nại là công dân, tổ chức với
chủ thể bị khiếu nại là cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức được
bản án, quyết định xét xử của cơ quan Tòa án…; tranh chấp dân sự: hợp đồng
vay mượn, cầm cố, đặt cọc tài sản giữa cá nhân với cá nhân...; hay tranh chấp
lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động: tranh chấp về tiền
lương, bảo hiểm, bảo hộ người lao động, thời gian lao động…). Nói tóm lại
chỉ đề cập đến việc Chủ tịch UBND các cấp giải quyết đối với các khiếu nại
của công dân, tổ chức đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính.
Tuy vậy, mâu thuẫn trong khiếu nại hành chính ở nước ta khác với các
loại hình mâu thuẫn hoặc xung đột khác. Về chủ thể mâu thuẫn, là giữa cá
nhân, tổ chức với cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính khi ban hành quyết định hoặc hành vi hành chính sai quy định
pháp luật dẫn đến xâm hại đến quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức. Hay nói
cách khác là do việc các cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện trái quy
định pháp luật, chứ nó không đối lập hoàn toàn, dẫn đến đối đầu và mâu thuẫn
hoặc xung đột căng thẳng về lợi ích giữa giai cấp cầm quyền, nhà nước với
người lao động như ở chế độ nhà nước chủ nô, phong kiến …
Vậy, thẩm giải quyết khiếu nại hành chính được Nhà nước (pháp luật)
quy định bao gồm các cơ quan cụ thể như thế nào?
- Về thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính
Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã); Thủ trưởng
cơ quan thuộc UBND huyện, quận, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh (gọi
chung là cấp huyện);
13
Chủ tịch UBND cấp huyện; Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương
đương; Giám đốc sở và cấp tương đương;
Chủ tịch UBND cấp tỉnh;
Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ;
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ;
quyền cho cấp phó hoặc bất cứ người nào, từ đó để gắn trách nhiệm cho Chủ
tịch UBND các cấp trong công tác này.
- Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính
Về nguyên tắc, việc giải quyết khiếu nại phải bảo đảm chính xác, khách
quan, công khai, dân chủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời
hạn theo quy định của pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân. Theo đó, trình tự, thủ tục
giải quyết khiếu nại hành chính của Chủ tịch UBND các cấp được tiến hành
theo các bước:
Bước 1: Thụ lý giải quyết khiếu nại.
Bước 2. Kiểm tra lại quyết định hành chính, hành vi hành chính.
Bước 3. Ban hành quyết định việc giao nhiệm vụ xác minh nội dung
khiếu nại, quyết định xác minh nội dung khiếu nại.
Bước 4. Xây dựng kế hoạch xác minh nội dung khiếu nại.
Bước 5. Tiến hành xác minh nội dung khiếu nai.
Bước 6. Trưng cầu giám định (nếu có).
Bước 7. Làm việc với các bên trong quá trình xác minh khiếu nại.
Bước 8. Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định hành chính bị khiếu nại
(nếu có).
15
Bước 9. Báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại và ban hành
quyết định giải quyết khiếu nại.
Bước 10. Tham khảo ý kiến tư vấn trong việc giải quyết khiếu nại (nếu
thấy cần thiết).
Bước 11. Tổ chức đối thoại.
Bước 12. Ban hành, gửi, công khai quyết định giải quyết khiếu nại và
lập, quản lý hồ sơ giải quyết khiếu nại.
Bước 13. Tổ chức thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại.
chắc, không mâu thuẫn, chia rẽ; lợi ích của nhân dân lao động và Đảng lãnh
đạo thống nhất là một, không mâu thuẫn, xung đột. Nói tóm lại ổn định chính
trị - xã hội mục tiêu là đưa đời sống nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc;
lấy quần chúng nhân dân là đối tượng phục vụ, quyền công dân luôn được nhà
nước bảo vệ; mục đích hướng đến là lợi ích vật chất, tinh thần của nhân dân
không ngừng được chăm lo, phát triển.
1.2.2. Vai trò của ổn định chính trị - xã hội
Ổn định chính trị - xã hội có vai trò to lớn với các quan hệ khác. Sau
khi nhận chức nhiệm kỳ 3, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã trả lời phỏng
vấn phóng viên kênh truyền hình Russia Today và ông cho rằng “không có ổn
định chính trị đừng mơ giải quyết các vấn đề xã hội”.
Tại lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức các Ủy viên Trung ương Đảng
Khóa XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ổn định chính trị - xã hội là
tiền đề, đổi mới là động lực và phát triển là mục tiêu... phải tiếp tục giữ cho
được ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường hòa bình để tập trung xây dựng,
phát triển đất nước. Đây chính là tiền đề để chúng ta đổi mới và phát triển.
17
Như vậy, ổn định chính trị - xã hội có vai trò to lớn trong việc tạo môi
trường thuận lợi để chúng ta thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế và các mục tiêu lớn khác của quốc gia; xây dựng đất nước ngày càng
phát triển, xã hội thịnh vượng và phồn vinh; cải thiện và nâng cao đời sống
nhân dân. Chính trị không ổn định thì không thể phát triển kinh tế, thực hiện
các vấn đề an sinh xã hội và ngược lại. Song ổn định chính trị - xã hội lại phụ
thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có việc giải quyết tốt các mâu thuẫn, khiếu
nại hành chính của công dân.
1.2.3. Nguyên nhân, xu hướng và hậu quả của mâu thuẫn xã hội
Hoạt động của con người là có mục đích, khi hoạt động mỗi người có