Hệ thống chính trị cơ sở ở huyện can lộc, tỉnh hà tĩnh thực trạng và giải pháp - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

THÁI THỊ HIỀN

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
Ở HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

THÁI THỊ HIỀN

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ
Ở HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Kim Đỉnh



1.1.1. Hệ thống chính trị và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ..................

7

1.1.2. Hệ thống chính trị cơ sở ở nước ta hiện nay .......................................

12

1.2.

Những nhân tố tác động đến quá trình tổ chức và hoạt động của
hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can Lộc .......................................

21

1.2.1. Nhân tố tự nhiên ..................................................................................

21

1.2.2. Nhân tố lịch sử - văn hóa .....................................................................

23

1.2.3. Nhân tố kinh tế - xã hội ........................................................................

25

1.3.



62

2.1.

Quan điểm chung ...............................................................................

62

2.2.

Một số giải pháp .................................................................................

68

2.2.1. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ xã .....................................

68

2.2.2. Nâng cao năng lực của chính quyền cơ sở ..........................................

75


2.2.3. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội....................................................................................................

81

2.2.4. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân ............................................

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới hệ thống chính trị nhằm thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ
nghĩa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị
đất nước là vấn đề được Đảng ta quan tâm từ rất sớm, đặc biệt từ khi đất nước bước
vào thời kỳ đổi mới. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986,
trong khi đổi mới trên lĩnh vực kinh tế được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thì
Đảng cũng xác định phải đồng thời từng bước thực hiện đổi mới hệ thống chính trị.
Tiếp tục xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị nói chung,
hệ thống chính trị cơ sở nói riêng là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, là điều kiện tất yếu đảm bảo thành công của sự
nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, tại Hội nghị lần thứ năm
Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) năm 2002, Đảng ta đã ban hành nghị
quyết về "Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường,
thị trấn". Để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ
thống chính trị, Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI)
năm 2013, đã ban hành Kết luận số 64 ngày 28/5/2913 về "Một số vấn đề về tiếp tục
đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở".
Hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) được xác định là
cấp cuối cùng trong phân cấp hành chính ở nước ta hiện nay, là nơi tuyệt đại bộ
phận nhân dân cư trú, sinh sống, nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta bao gồm: Đảng, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động trên địa bàn xã, phường, thị trấn,
có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức, vận động nhân dân thực hiện các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân; huy động mọi khả năng để phát triển kinh tế - xã hội; tổ chức cuộc
sống cộng đồng dân cư.
Sau gần 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị các cấp nói chung và hệ
thống chính trị cấp cơ sở nói riêng đã được nâng lên rõ rệt. Bộ máy Nhà nước tiếp
1

chức năng, nhiệm vụ của mình. Tại một số xã, quyền làm chủ của người dân chưa
được phát huy, cá biệt có nơi quyền làm chủ còn bị vi phạm hoặc có biểu hiện lợi
dụng dân chủ chống lại chủ trương của Đảng và Nhà nước; sự đồng thuận xã hội ở
2


một số xã không cao, cá biệt có nơi nội bộ mất đoàn kết; mức độ hoàn thành nhiệm
vụ chính trị hàng năm chưa cao, đời sống nhân dân còn khó khăn.
Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ mới, để huyện Can Lộc tiếp tục phát triển với
tốc độ cao và bền vững, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở là một vấn đề cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài "Hệ thống chính trị
cơ sở ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh: Thực trạng và giải pháp" làm đề tài luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xuất phát từ vai trò, vị trí, chức năng của hệ thống chính trị trong đời sống xã
hội, việc nghiên cứu hệ thống chính trị nói chung và hệ thống chính trị cơ sở nói riêng
đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau, qua đó
hình thành nhiều ấn phẩm có giá trị ở cả tầm lý luận và thực tiễn, điển hình như:
Công trình "Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn ở nước ta hiện nay" do
GS.TS Hoàng Chí Bảo chủ biên, Nhà xuất bản lý luận chính trị, H.2004, đã nghiên
cứu những vấn đề từ quan điểm lý luận đến lịch sử và thực tiễn, đồng thời cũng đưa
ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao
chất lượng hệ thống chính trị cơ sở nông thôn nước ta hiện nay.
Công trình "Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng và giải pháp" do
PGS.TS Vũ Hoàng Công biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, đã nêu lên những
vấn đề lý luận cơ bản của hệ thống chính trị Việt Nam nói chung và hệ thống chính
trị cơ sở nói riêng; từ đó rút ra những đặc điểm, những vấn đề bức xúc và kiến nghị
những giải pháp cơ bản trong việc củng cố, nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị
cấp cơ sở.
Công trình "Hệ thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi

4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu thực trạng hoạt động của hệ thống chính trị ở các
xã của huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2002 (Năm thực hiện Nghị quyết số 17NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa IX về "đổi mới và nâng cao chất lượng
hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn") đến năm 2014. Số
liệu để phân tích, đánh giá dựa trên kết quả khảo sát của tác giả tại 9 xã (trong tổng
số 23 xã, thị trấn của huyện Can Lộc) cụ thể các xã: Thiên Lộc, Thượng Lộc, Khánh
Lộc, Thanh Lộc, Phú Lộc, Vĩnh Lộc, Yên Lộc, Vượng Lộc, Thuần Thiện.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị và hệ thống
chính trị cơ sở.

5


5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Kết hợp giữa phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, khảo sát
tổng kết thực tiễn cùng các phương pháp mang tính chuyên ngành khác. Đặc biệt, luận
văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và thăm dò dư luận xã hội tại 9 xã của
huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực trạng hệ thống chính trị cơ sở ở huyện Can
Lộc nói riêng.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của

nước của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh
đạo nhà nước và các tổ chức quần chúng mà tiêu biểu là công đoàn. Như vậy, nếu xét
theo nội hàm, những thuật ngữ mà C.Mác và Ph.Ăngghen đưa ra và được V.I.Lênin kế
thừa, phát triển với thuật ngữ hệ thống chính trị hiện đại có liên quan chặt chẽ với nhau
và được hiểu là tương đồng.
Đối với khoa học chính trị hiện đại, hệ thống chính trị là một phạm trù rất
quan trọng, bởi vì nó tổng hợp những vấn đề của thực tiễn chính trị. Hơn nữa,
những vấn đề đó không phải được xem xét rời rạc, lộn xộn, biệt lập mà là xem xét
trong một chỉnh thể có tính hệ thống, có hình thái phát sinh, phát triển, có chủ thể,
đối tượng, với các mối quan hệ chức năng, theo những vị trí, vai trò nhất định; có
7


"đầu vào" và "đầu ra"; có nội dung và hình thức, có hiện tượng và bản chất... Vì
vậy, hiện nay quan niệm về hệ thống chính trị còn rất khác nhau, phụ thuộc vào
khuynh hướng, trường phái chính trị học khác nhau.
Ở phương Tây, có hai cách tiếp cận cơ bản về hệ thống chính trị. Thứ nhất,
cách tiếp cận thể chế: coi hệ thống chính trị là tập hợp các thể chế chính trị (gồm
các tổ chức nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội) và những mối quan hệ qua
lại giữa chúng. Thứ hai, cách tiếp cận hệ thống: coi hệ thống chính trị không chỉ
bao gồm cấu trúc thể chế và các quan hệ giữa chúng, mà còn là những chuẩn mực
chính trị, vai trò chính trị, hành vi chính trị. Từ hai cách tiếp cận cơ bản này phát
triển nên một số quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị như: Nhà chính trị học
Mỹ D.Istons, trong tác phẩm Hệ thống chính trị (1953), Giới hạn sự phân tích chính trị
(1965) cho rằng: "Hệ thống chính trị giống như một bộ máy tự phát triển, tự điều tiết
và phản ứng với những tác động từ bên ngoài. Hệ thống đó có "đầu vào", đó là nơi thu
nhận những tác động, yêu cầu, ủng hộ... của môi trường xã hội và văn hóa xã hội
quanh nó. Còn "đầu ra" là những quyết định chính trị và hành động chính trị để thực
hiện các quyết định đó" [43, tr.33-34]. Cách tiếp cận khác của nhà chính trị học Mỹ
G.Almold cho rằng: "Hệ thống chính trị đó là các kiểu khác nhau của hành vi chính trị,

củng cố, duy trì và phát triển chế độ xã hội đương thời" [19, tr.197].
Nhìn chung, ở Việt Nam, cách tiếp cận khái niệm hệ thống chính trị là mô tả
các yếu tố thực thể cơ bản cấu thành và phản ánh chức năng tổng quát của hệ thống
chính trị. Phù hợp với quan điểm đó, có thể nêu lên định nghĩa chung về hệ thống
chính trị như sau: "Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính
trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và các phong
trào chính trị...) được xây dựng trên các quyền và chuẩn mực xã hội, phân bố theo
một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan
hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị" [55, tr.262].
Như vậy, có thể thấy, hệ thống chính trị là một hệ thống cấu trúc, một chỉnh
thể bao gồm các bộ phận cấu thành, có quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí, chức
năng, vai trò khác nhau. Hệ thống ấy được thể hiện ở những cấp khác nhau: trung
ương, địa phương, cơ sở. Cấu trúc hệ thống chính trị rất đa dạng, ở mỗi quốc gia lại
có đặc thù khác nhau, nhưng cơ bản gồm 3 bộ phận: Đảng chính trị, Nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp.
1.1.1.2. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
Trong các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản tuy trình độ phát triển về mọi mặt
rất khác nhau, nhưng đều có chung bản chất là dựa trên cơ sở của chế độ chiếm hữu
9


tư nhân về tư liệu sản xuất và duy trì quyền áp bức bóc lột của giai cấp thống trị đối
với đông đảo nhân dân lao động. Vì vậy, hệ thống chính trị của các chế độ xã hội ấy
hình thành và phát triển với quá trình vận động của mâu thuẫn giữa các giai cấp đối
kháng. Sự vận động của mâu thuẫn giai cấp trong các chế độ người áp bức, bóc lột
người, gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ
chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi các hệ thống chính trị theo hướng tiến bộ,
hoặc thủ tiêu thay thế nó bằng một hệ thống chính trị dân chủ, tiến bộ hơn.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, hệ thống chính trị ra đời dựa trên tiền đề chính
trị là thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân giành

chính trị đặc thù. Trong đó, Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân của hệ thống
chính trị, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước và xã hội; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là trụ cột, là trung tâm của hệ thống chính trị; Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là cơ sở chính trị của nhà nước và xã
hội. Về mặt tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị nước ta được tổ chức thành 4 cấp
gắn liền với nền hành chính quốc gia: cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố; cấp
huyện, quận, thị xã và cấp xã, phường, thị trấn.
Hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức theo mô hình có đỉnh quyền lực.
So với nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước có cùng mô hình hệ thống
chính trị, thì hệ thống chính trị Việt Nam vẫn có những đặc điểm khác biệt. Những
đặc điểm chủ yếu của hệ thống chính trị Việt Nam là:
Một là, hệ thống chính trị ở Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, chỉ
do một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nó thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền tảng tư tưởng chung của cả hệ thống; chủ nghĩa
xã hội là mục tiêu chung; không chấp nhận các khuynh hướng chính trị trái với chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trái với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội.
Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, nhưng đồng
thời cũng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị. Sự lãnh đạo của Đảng đối
với xã hội nói chung, hệ thống chính trị nói riêng xuất phát từ điều kiện cụ thể của
nước ta như: truyền thống lịch sử; phẩm chất vốn có của Đảng; những thành tựu to
lớn mà Đảng ta đem lại cho nhân dân trong quá trình lãnh đạo cách mạng.
Hai là, các tổ chức chính trị - xã hội do Đảng Cộng sản thành lập, có lịch
sử đấu tranh vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ
và xây dựng đất nước. Các đoàn thể quần chúng luôn gắn mình với sự nghiệp
cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc, thể hiện rõ là các tổ chức quần
chúng có chức năng xã hội gắn với đời sống của các tầng lớp nhân dân, vừa tổ
11


chức nhân dân trực tiếp thực hiện quyền làm chủ; vừa giúp Đảng, Nhà nước

những loại hình và mô hình này không nằm trong đối tượng nghiên cứu của đề tài.
12


Cơ sở được nghiên cứu ở đây là khái niệm dùng để chỉ một cấp quản lý trong
hệ thống bốn cấp quản lý hành chính nhà nước hiện hành ở nước ta. Ở nước ta hiện
nay, xã, phường, thị trấn được gọi chung là cấp cơ sở và do số lượng xã là tuyệt đối,
thị trấn cũng tương đương với xã; còn phường ở các tỉnh vẫn gắn một phần với sản
xuất và cư dân nông nghiệp nên cấp cơ sở được gọi chung là cấp xã.
Đến tháng 12 năm 2012 ở nước ta có 11.120 đơn vị cơ sở xã, phường, thị trấn
[45, tr.13]. Đây là địa bàn cư trú, làm ăn của nhân dân lao động, nơi diễn ra mọi
hoạt động của đời sống xã hội. Ở đó, vừa diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của người lao động, vừa diễn ra quá trình trao đổi, lưu thông hàng hóa, là đầu
mối của thị trường, nơi hình thành các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể sản xuất và
tiêu dùng. Nói tới cơ sở là nói tới nơi diễn ra các hoạt động của người dân và cuộc
sống của họ; nói tới các hình thức tổ chức hoạt động sống của cộng đồng và các mối
quan hệ xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng. Tại đây, vai
trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của các tổ chức chính
trị - xã hội đều hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng
an ninh, giữ vững ổn định chính trị và tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư. Tất
cả những hoạt động đó đều nằm trong khuôn khổ lãnh đạo, quản lý, điều hành trực
tiếp của toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở.
Khi nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Cách tiếp cận thứ nhất, xem xét hệ thống chính trị cơ sở như một hệ thống
về mặt tổ chức và chức năng của các bộ phận hợp thành: tổ chức Đảng, chính quyền
(Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân (Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) ở xã,
phường, thị trấn. Mỗi bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở có vị trí, vai trò và
chức năng khác nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, cụ thể:
Đảng bộ cơ sở, mà nòng cốt là Ban Chấp hành Đảng bộ là hạt nhân chính trị,

đồng, góp phần tạo ra sự đoàn kết, đồng thuận trong xã hội. Những tổ chức này tuy
không phải là bộ phận hợp thành hệ thống chính trị cơ sở nhưng có mối quan hệ mật
thiết với hệ thống này. Vì vậy, nếu hệ thống chính trị cơ sở biết tạo điều kiện, phát
huy ưu thế của các tổ chức này thì sức mạnh của tinh thần đoàn kết, hợp tác, sáng
tạo trong cộng đồng xã hội ở cơ sở sẽ được nhân lên gấp bội, đem lại sự ổn định ở
cơ sở, tạo ra sức bật lớn cho cơ sở phát triển, làm cho nền tảng xã hội của Đảng,
Nhà nước và của cả chế độ được củng cố vững mạnh ngay từ cơ sở.
Như vậy, xét về phương diện cơ cấu tổ chức, hệ thống chính trị cơ sở có khá
nhiều tổ chức hợp thành với vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền khác nhau. Củng
14


cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở phải củng cố và nâng cao chất lượng
hoạt động của từng tổ chức này, cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ
thống theo tư tưởng: nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu
quả trong quản lý điều hành của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Cách tiếp cận thứ hai, không chỉ về mặt tổ chức pháp lý mà còn bao gồm cả
các yếu tố thể hiện bản chất của hệ thống chính trị nói chung và những điều kiện
đảm bảo cho các bộ phận của hệ thống đó vận hành. Ở nghĩa này, hệ thống chính trị
cơ sở được hiểu theo tính chất của việc thực hiện dân chủ cơ sở, thể hiện quyền lực
của nhân dân. Cách tiếp cận này đòi hỏi phải nghiên cứu những vấn đề như: quyền
dân chủ trong bầu cử, chất vấn đại biểu Hội đồng nhân dân, những việc dân được
biết, được bàn và thực hiện kiểm tra; tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân,
đại biểu Hội đồng nhân dân; vai trò của tổ chức Đảng, Mặt trận và các đoàn thể
trong việc phát huy quyền dân chủ của người dân; trách nhiệm của Ủy ban nhân dân
trong việc đảm bảo và thực hiện quyền dân chủ của dân.
Việc nghiên cứu về hệ thống chính trị cơ sở theo nội dung dân chủ cho thấy
mối liên hệ bên trong của hệ thống, từ đó đi đến nhận thức: củng cố, nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn không chỉ là vấn đề về tổ chức
pháp lý, mà còn là vấn đề cơ chế thực hiện dân chủ. Có như vậy mới tạo ra động lực

phần lớn ở cơ sở. Vì vậy, cần phải nhận thức rõ rằng cơ sở là cấp thấp nhất, nhưng
không vì thế kém quan trọng nhất. Ngược lại, xét theo khía cạnh thực thi mọi đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thì đây lại là cấp quan trọng nhất. Thông qua cơ
sở các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước mới được cụ thể hóa vào trong đời
sống của cộng đồng dân cư.
Thứ ba, hệ thống chính trị cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế
được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất, có đội ngũ cán bộ biến động nhất, ít tính
chuyên nghiệp nhất, trực tiếp chịu sự chi phối của nhân dân.
Là cấp thấp nhất nên tổ chức bộ máy đơn giản nhất và biên chế được hưởng
sinh hoạt phí ít nhất. Theo các quy định hiện hành, hệ thống chính trị cơ sở được
biên chế và hưởng sinh hoạt phí không quá 25 người. Phần lớn đội ngũ cán bộ, nhất
là cán bộ chủ chốt không phải được tuyển dụng biên chế cố định mà họ được giữ
các vị trí đó thông qua lá phiếu bầu cử của nhân dân. Cho nên, nếu có năng lực,
hoàn thành tốt nhiệm vụ, được nhân dân tín nhiệm thì sẽ có cơ hội tái cử ở nhiệm kỳ
tiếp theo, ngược lại khi hết nhiệm kỳ nhân dân sẽ bầu người khác thay thế. Tâm lý
không ổn định cũng chính là nguyên nhân dẫn đến đội ngũ cán bộ cơ sở biến động
thường xuyên và ít được chuyên môn hóa, ít được đào tạo cơ bản và bản thân họ
16


cũng có tâm lý ngại học tập nâng cao trình độ theo xu hướng "quan nhất thời, dân
vạn đại". Phần lớn những người được đào tạo bài bản cả về chuyên môn nghiệp vụ
và lý luận chính trị lại muốn tìm cách thoát ly khỏi cơ sở.
Thứ tư, cấp cơ sở có bộ máy đơn giản nhất nhưng không phải là đơn giản nhất
trong vận hành bộ máy, bởi vì, đây là cấp mà các mối quan hệ về dòng họ, văn hóa
làng xã có thể tác động mạnh nhất, ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ
chức và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị nơi đây.
Ở cấp xã đã có và hiện cũng chưa hết tình trạng "chi bộ họ ta". Tình trạng
thành viên cấp ủy được phân bổ theo dòng họ, theo cánh, theo làng vẫn còn. Quan
hệ anh em, họ hàng, chú bác... trong Đảng ủy, giữa các cán bộ xã không phải hiếm.

của cả nước. Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong
đó có nguyên nhân do chưa nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của hệ thống chính
trị cơ sở nên chưa phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ, tổ chức hoạt động của hệ
thống chính trị nơi đây. Vì vậy, muốn đổi mới hệ thống chính trị cơ sở, trước hết
phải đổi mới nhận thức về vai trò của cơ sở, để từ đó hành động đúng đắn trong
thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, cụ thể:
Thứ nhất, cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân; là cấp thấp nhất trong các
cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nước, nhưng lại là nền tảng của chế độ,
nền móng của tòa nhà; nếu cơ sở suy yếu, rệu rã là khởi đầu sự suy yếu của chế độ.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nền tảng của mọi công tác
là cấp xã" [33, tr.456] và "Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính.
Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi" [32, tr.372]. Nước lấy dân
làm gốc, chăm lo cho cuộc sống của nhân dân và sự phát triển của xã hội thì trước
hết phải dồn sức chăm lo cho sự bền vững của cơ sở, từ cơ sở; làm cho hệ thống
chính trị ở cơ sở phải thực sự là hệ thống chính trị của dân, do dân, vì dân. Do
"quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" [32, tr.698], nên có dân thì có tất cả, mất
dân thì mất tất cả. Tính thời sự bức xúc và tầm quan trọng chiến lược, lâu dài của cơ
sở và hệ thống chính trị cơ sở bắt nguồn trực tiếp và sâu xa từ thực tiễn ấy. Khẳng
định vai trò của cơ sở cũng là khẳng định nguyên lý về vai trò quyết định của quần
chúng nhân dân trong hoạt động sáng tạo lịch sử.
Thứ hai, cơ sở là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn
thể tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để nhân
dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình.
Nếu dân chủ là "dân là chủ" và "dân làm chủ" theo quan điểm Hồ Chí Minh,
thì cơ sở là nơi thể hiện rõ nhất, trực tiếp nhất ý thức và năng lực dân chủ của dân

18


bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Chế độ ủy quyền và

19


đích chung. Hành động của dân vừa là lao động cần mẫn, sáng tạo góp phần vào sự
phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, vừa kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của tổ
chức và cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể, đảm bảo cho mọi việc thực hiện sự ủy
quyền không bị biến dạng, không gây tổn hại tới quyền và lợi ích của dân.
Thứ tư, cơ sở không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách, mà là cấp
hành động, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết, chính sách vào cuộc sống.
Là cấp gần nhất với thực tiễn và trực tiếp nhất với cuộc sống của dân nên cơ
sở là cấp tổ chức triển khai, thực hiện nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước; đảm bảo một cách thiết thực nhất những yêu cầu an sinh và an ninh
cho dân, cho sự phát triển cộng đồng. Thước đo hiệu quả hoạt động của hệ thống
chính trị cơ sở, phẩm chất và năng lực của cán bộ cơ sở là không ngừng nâng cao
dân sinh, dân trí, dân chủ của dân; thực hiện và phát huy tối đa quyền làm chủ của
nhân dân; tổ chức tốt và ngày càng tốt hơn đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho
dân cư trong cộng đồng. Là cấp trực tiếp hành động, chỉ đạo thực hiện đường lối,
chính sách, nghị quyết, cơ sở và cán bộ cơ sở phải gần dân, hiểu dân, sát dân; năng
lực của cán bộ cơ sở phải là năng lực thực hành, tổ chức công việc và thường xuyên
giáo dục, tuyên truyền, vận động quần chúng. Tránh xa quan liêu hành chính, thói
mệnh lệnh áp đặt, nói suông, bàn suông, xa rời thực tiễn, thoát ly các công việc cụ
thể, dẫn tới xa dân, cách biệt dân chúng.
Bằng tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên mà thuyết phục, lôi
cuốn và thúc đẩy mọi người, mọi nhà làm việc tốt, ích nước, lợi nhà, dân giàu, nước
mạnh... Điều ấy đòi hỏi sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, năng lực quản lý tốt
của chính quyền, tính chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong
hệ thống chính trị cơ sở. Đặc biệt, cán bộ cơ sở phải thực sự có thái độ, trách nhiệm,
tận tụy, công tâm, thạo việc, liêm khiết, vừa có đức vừa có tài, thấm nhuần lý luận với
thực tiễn, sáng tạo một cách thiết thực, biết rõ phương hướng hành động, có bản lĩnh
dám chịu trách nhiệm, có phương pháp và phong cách dân vận "Óc nghĩ, mắt nhìn,
Trích đoạn Ủy ban nhân dân Nhận xét chung Nâng cao năng lực của chính quyền cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status