Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện cẩm xuyên tỉnh hà tĩnh hiện nay - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

HOÀNG VĂN CHƯƠNG

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

HOÀNG VĂN CHƯƠNG

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Minh Quân


Tác giả luận văn

Hoàng Văn Chƣơng

ii


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG ..................................................... 4
1.1. Tổ chức cơ sở đảng và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng .................... 4
1.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ......................................... 25
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC
CƠ SỞ ĐẢNG Ở HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY ......... 30
2.1. Thực trạng tổ chức cơ sở đảng ở đảng bộ huyện Cẩm Xuyên hiện nay ............ 30
2.2. Thực trạng năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở các xã, thị trấn trong
huyện Cẩm Xuyên hiện nay ...................................................................................... 41
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC
LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG Ở HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY ................................................................................. 59
3.1. Những quan điểm về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở
huyện Cẩm Xuyên hiện nay ...................................................................................... 59
3.2. Những giải pháp về nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
các xã, thị trấn ở huyện Cẩm Xuyên hiện nay .......................................................... 63
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 77
PHỤ LỤC

iii


THPT

Trung học phổ thông

TSVM

Trong sạch vững mạnh

TW

Trung ương

UBND

Ủy ban nhân dân

iv


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đảng Cộng Sản Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
luôn luôn chăm lo xây dựng và phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng, coi đó là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, là nơi đề xuất, đồng thời là
nơi triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của
Nhà nước. Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân chính trị, lãnh đạo tổ chức thực
hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng.
Vấn đề đặt ra hiện nay là năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng
có sự khác nhau nên thực tế có nơi Đảng bao biện làm thay, có nơi Đảng và

lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh là vấn
đề mới mẻ, chưa được nghiên cứu, nhất là từ góc độ Chính trị học.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn - cơ bản, cần thiết và có
liên quan - về tổ chức cơ sở đảng và năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở
đảng, luận văn xác định những quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực
lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ một số cơ sở lý luận về tổ chức cơ sở đảng và năng lực lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng.
Làm rõ thực trạng năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ở huyện
Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
Nêu một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh hiện nay và những
năm tới.

2


4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu là năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng các
xã, thị trấn ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh hiện nay. Khách thể nghiên cứu
là đảng bộ các xã, thị trấn ở huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh hiện nay. Phạm
vi nghiên cứu là các tổ chức cơ sở đảng các xã, thị trấn ở đảng bộ huyện Cẩm
Xuyên trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Các vấn đề được tiếp cận nghiên cứu
từ góc độ của Chính trị học - nâng cao năng lực của tổ chức cơ sở đảng cũng
có nghĩa là nâng cao khả năng thực thi quyền lực chính trị (quyền lãnh đạo)
của một loại hình tổ chức quyền lực chính trị, mà ở đây là ở cơ sở (ở huyện
Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh).

Hồ Chí Minh, người sáng lập rèn luyện Đảng ta, trong quá trình lãnh
đạo cách mạng đã nhấn mạnh: Đảng ta có một tổ chức chặt chẽ, thống nhất từ
Trung ương đến cơ sở, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, vì vậy phải
được thành lập, được tổ chức tại các đơn vị cơ sở. Người nói “ở mỗi xửơng
máy, hầm mỏ, xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, địa đôi
- có 3 đảng viên trở lên thì lập một chi bộ” [49, tr. 242].
Khái niệm tổ chức cơ sở đảng được ghi trong Điều lệ Đảng Cộng Sản
Việt Nam, qua các kỳ đại hội có sự điều chỉnh về nội dung và ý nghĩa của nó.
Tại Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam (Khóa XI) quy định: “Tổ chức
cơ sở đảng là tổ chức được thành lập tại đơn vị cơ sở hành chính, sự nghiệp,
kinh tế hoặc công tác, đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy quận, huyện, thị xã,
thành phố trực thuộc tỉnh, v.v..
4


1. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của
Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở.
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ
chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy huyện). Ở cơ quan, doanh nghiêp, hợp tác
xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba
đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ
trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc
tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba
đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh
hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở có các
tổ đảng trực thuộc.
4. Tổ chức cơ sơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ
cơ sở, có các chi bộ trực thuộc đảng ủy.
5. Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được

các đoàn thể ở cơ sở; nơi kiểm nghiệm đường lối, chủ trương, chính sách,
đóng góp kinh nghiệm cho Đảng; đảm bảo cho kinh tế - xã hội ở cơ sở phat
triển theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã
luôn chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng. Hệ thống tổ chức cơ sở đảng về
cơ bản được tổ chức song trùng với hệ thống hành chính Nhà nước. Tổ chức
cơ sở đảng là cấp cuối cùng trong hệ thống tổ chức của Đảng, là cấp nhỏ nhất
nhưng có số lượng nhiều nhất. Để tiếp tục tiếp tăng cường và nâng cao hiệu
quả lãnh đạo toàn diện, trong sự nghiệp đổi mới, để đáp ứng yêu cầu của Việc
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chính sách đối
ngoại mở rộng của Đảng nên ngoài các loại hình tổ chức cơ sở đảng được tổ

6


chức, các đơn vị cơ sở hành chính xã, phường, thị trấn), các đơn vị sự nghiệp,
cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, quân đội, công an, trong các tổ chức hội,
v.v. còn có các loại hình tổ chức cơ sở đảng ở các đơn vị doanh nghiệp tư
nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
1.1.2.1. Chức năng của tổ chức cơ sở đảng
Từ khi có chính quyền, Đảng là người thiết lập hệ thống chính trị,
lãnh đạo hệ thống chính trị đó và là một bộ phận của hệ thống chính trị đó.
Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa dù được thành lập ở loại hình nào, chi bộ
cơ sở hay đảng bộ cơ sở, tổ chức cơ sở đảng đều có hai chức năng đó là: chức
năng hạt nhân chính trị ở cơ sở và chức năng xây dựng nội bộ Đảng.
Với chức năng là hạt nhân chính trị, tổ chức cơ sở đảng là nơi bảo
đảm tính chất lãnh đạo chính trị của Đảng trên tất cả các lĩnh vưc hoạt động
của đơn vị cơ sở. Tính chất lãnh đạo chính trị được biểu hiện ở các mặt sau:

nghị quyết của cấp trên.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt nội bộ. Tổ
chức cho quần chúng tham gia xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của cấp trên và cấp mình;
tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
Theo qui định tại điều 23, Điều lệ Đảng sản Việt Nam (Khóa XI), tổ
chức cơ sở đảng có năm nhiệm vụ cơ bản sau:
1. Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước; đề
ra nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả.
2. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất
lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và
tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn

8


luyện và quản lý cán bộ đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng,
tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển
đảng viên.
3. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch, vững
mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
4. Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây
dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị
của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra
giám sát tổ chức Đảng và đảng viên chấp hành điều lệ Đảng. Đảng ủy cơ sở

viện - nhà trường; doanh nghiệp quân đội; bệnh viện quân đội
- Qui định 124,125,126-QĐ/TW ngày 28-9-2004 về chức năng nhiệm
vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sỏ trong đơn vị chiến đấu tập trung; đơn vị trinh sát
điều tra; đơn vị trại giam, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng
trong công an
- Qui định 140, 141-QĐ/TW ngày 16-5-2005 về chức năng nhiệm vụ
của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong công ty cổ phần có vốn nhà nước; doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài.
- Qui định 163, 164-QĐ/TW ngày 15-4-2006 về chức năng, nhiệm
vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong trường học, bệnh viện ngoài công lập;
hợp tác xã.
- Qui định 165/QĐ-TW ngày 21-4-2006 về chức năng nhiệm vụ của
chi bộ, đảng bộ cơ sở trong cơ quan báo chí.
Như vậy, ngoài những qui định chung, thì mỗi lại hình tổ chức cơ sở
đảng Ban Bí thư Trung ương sẽ có những qui định về chức năng, nhiệm vụ cụ
thể, phù hợp và nghiên cứu để có những qui định đối với một số loại hình tổ
chức cơ sở đảng có tính chất đặc thù.
10


1.1.3. Khái niệm năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
Năng lực, theo Từ điển Tiếng Việt, là khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; là phẩm chất tâm lí
và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó
với chất lượng cao. Năng lực, theo nhà tâm lý học người Nga Cơvaliốp, là
một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính cá nhân con người đáp ứng
những nhu cầu của hoạt động và bảo đảm cho hoạt động có kết quả cao.
Với cách hiểu trên, năng lực lãnh đạo là khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có của chủ thể lãnh đạo để thực hiện có hiệu quả một mục
tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Năng lực lãnh đạo của Đảng là sự thể hiện một cách

đắn làm biến đổi hiện thực. Năng lực tư duy lý luận của tổ chức cơ sở đảng
có giá trị định hướng đúng đắn hoạt đông nhận thức và hoạt động thực tiễn
của tổ chức cơ sở đảng. Cơ sở của năng lực tư duy lý luận là chủ nghĩa Mác
- Lênin, tưởng Hồ Chí Minh, là tri thức của nhân loại là thực tiễn của địa
phương cơ sở
Năng lực tổ chức là khả năng đề ra chủ trương, phương hướng công tác
đúng của Đảng bộ, tổ chức thực hiện chủ trương, phương hướng công tác
đúng của đảng bộ, tổ chức thực hiện chủ trương, phương hướng đó tại cơ sở
đạt hiệu quả cao; kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện
các chủ trương công tác của đảng bộ. Là năng lực tổ chức vận hành bô máy
hệ thống chính trị, các bộ phận, các lực lượng, tập hợp, tổ chức cho cán bộ,
đảng viên, vận động quần chúng nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ hiệu quả.
1.1.5. Những nhân tố quy định và ảnh hưởng đến năng lực lãnh
đạo của tổ chức cơ sở đảng
Nhân tố hay yếu tố là những điều kiện, những cơ sở, những tiền đề
cần thiết gây ra, tạo ra cái gì đó. Trong cấu trúc của một sự vật hiện tượng
12


nhất định, bao gồm nhiều nhân tố hay yếu tố cấu thành. Trong quá trình vận
động và phát triển của sự vật, hiện tượng cũng như hoạt động của con người,
v.v. hiện diện một loạt các nhân tố hay yếu tố nối tiếp nhau. Các nhân tố, yếu
tố là hết sức phong phú, để nhận biết các nhân tố, yếu tố cần có một hệ thống
tiêu chí để phân biệt. Để nhận biết các nhân tố, yếu tố thì cần có các phương
pháp tiếp cận khác nhau. Giữa các nhân tố hay yếu tố cũng có sự chuyển hóa
lẫn nhau, sự phân biệt các nhân tố, yếu tố chỉ có tính chất tương đối.
Một là, nhân tố về lịch sử - xã hội:
Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia, dân tôc, mỗi giai cấp, tầng lớp xã
hội đều chịu sự ảnh hưởng chi phối của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội
và lịch sử. Các nhân tố lịch sử - xã hội này ảnh hưởng ở những mức độ khác

như tính chất họ hàng, dòng tộc, cục bộ địa phương, gia trưởng, độc đoán,
thói quen, tập quán cũ đã ăn sâu trong mỗi cán bộ đảng viên, đây chính là
những nhân tố gây cản trở sự phát triển và làm giảm năng lực lãnh đạo của
Đảng với nhân dân.
Hai là, nhân tố về tổ chức, cán bộ và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng:
Công tác tổ chức, cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng, bảo
đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng. Thuật ngữ “tổ chức” (organization)
bắt nguồn từ chữ Hy lạp (organon) có nghĩa là công cụ, dụng cụ. Khái niệm
công cụ ở đây, chỉ chức năng chung của các loại hình tổ chức: tổ chức chính
trị, tổ chức xã hội, tổ chức đoàn thể, v.v. thực tế cho đến nay, tuỳ góc độ nhìn
nhận khác nhau mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau. ở phương
diện chung nhất có thể nhận thấy rằng tổ chức luôn phản ánh hình ảnh của xã
hội, là sợi dây liên kết, gắn bó con người, các thành viên lại với nhau, thành
các nhóm các bộ phận xã hội tồn tại và hoạt động trên cơ sở mục tiêu chung,
có sự qui định của pháp luật. Vì vậy, khái niệm tổ chức được hiểu như sau: Tổ
chức là một nhóm xã hội (một tập thể) bao gồm những cá nhân được tập hợp
theo sự phân công lao động thống nhất về mục đích và hành động chặt chẽ,
trên cơ sở pháp qui qui định.
14


Cán bộ là một xưng danh, xuất hiện trong đời sống xã hội nước ta
mấy chục năm gần đấy, để chỉ một lớp người là những chiến sĩ cách mạng,
lớp người mới, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân,
phục vụ cho sự nghiệp cao cả, giành độc lập tự do cho nhân dân. Trong từ
điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là “người làm công tác nghiệp vụ
chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng, đoàn thể, người làm công tác có
chức vụ”.
Công tác tổ chức, cán bộ là công tác đối với con ngưới, đối với các
nhân cách khác nhau. Đây là nhân tố tác động, rất quan trọng, bảo đảm cho

thu phục nhân tâm, biết tổ chức và phát huy sức mạnh cộng động, nếu loại trừ
những hạn chế, thì những tư tưởng đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
V.I.Lênin ngay từ ngày đầu thành lập Nhà nước Xô viết, đã rất coi
trọng công tác tổ chức, theo ông lĩnh vực trọng yếu nhất của cuộc cách mạng
xã hội chủ nghĩa, tức là nhiệm vụ tổ chức và khi đường lối, chính sách đã
được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ tổ chức thực
hiện phải đặt lên hàng đầu và “điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn
thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh (đấy là chúng ta u mê đến ngu xuẩn) sang việc
lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện. Đó là vấn đề then chốt”.
Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam trong quá
trình lãnh đạo cách mạnh đã xác định vị trí, vai trò của công tác tổ chức cán
bộ. Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi việc, muốn việc thành công
hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.
Phát triển tư tưởng đó, Đảng ta luôn coi trọng công tác tổ chức cán bộ
và xem đấy là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng
nước ta. Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh, đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp, là
mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy các cuộc cải
cách có ý nghĩa cách mạng. Đại hội X của Đảng tiếp tục xác định, đổi mới tổ
chức, bộ máy và công tác cán bộ; Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ

16


cấu hợp lý, chất lượng tốt, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững
vàng. Chú ý đào tạo cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ
công nhân, chuyên gia trên các lĩnh vực; có cơ chế, chính sách phát hiện,
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có
đức, có tài; thay thế kịp thời những người kém năng lực và kém phẩm chất, có
khuyến điểm nghiêm trọng.
Tổ chức và cán bộ có sự khác nhau về chức năng nhiệm vụ, nhưng lại

cường sức chiến đấu của Đảng, đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới.
Nhận thức mới của Đảng ta còn thể hiện ở sự khẳng định lấy chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì và làm phong phú
thêm chủ nghĩa Mác-Lênin qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, biểu hiện rõ
trong đường lối đổi mới, không khô cứng, giáo điều mà là một hệ thống tư
tưởng sống động, có khả năng kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, không từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ nguyên tắc tập trung dân
chủ, Đảng ta nhận thức đầy đủ hơn, phát triển nhân tố ảnh hưởng tích cực
thực hiện nền dân chủ hóa một cách rộng rãi; xây dựng một nhà nước pháp
quyền của dân, do dân và vì dân. Đảng có quyền lực chính trị, nhưng không
để trở thành quan quyền, đây là nhận thức mới nhất, sâu sắc nhất của Đảng ta,
v.v..
Điều nổi bật trong nhận thức mới của Đảng ta là nhận thức hoàn thiện
về mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, coi đây là nhân tố quan trọng nhằm
phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngay từ đầu mới thành lập đã được nhân
dân ủng hộ, yêu thương, đùm bọc. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa
vào dân để xây dựng Đảng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng đã
biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, phát huy tính tích cực của quần chúng
nhân dân, giữ mối quan hệ chặt chẽ với dân như cá với nước. Trong lúc khó
khăn nhất, Đảng ta lại nhờ nhân dân mà tồn tại và phát triển. Đảng ta luôn coi

18


dân là nhân tố quyết định tạo nên thắng lợi của cách mạng, “dễ trăm lần
không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Đảng ra đời từ nhân dân (giai cấp công nhân và nhân dân lao động) và
phục vụ nhân dân, đảng viên là những phần tử ưu tú trong nhân dân, trưởng
thành từ phong trào của dân, gắn bó và phát huy sức mạnh toàn dân tộc đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status