Những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh thanh hóa hiện nay - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________

LÊ THỊ SEN

NHỮNG NHÂN TỐ BẢO ĐẢM
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TRONG ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH
Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ


2

NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
___________

LÊ THỊ SEN

NHỮNG NHÂN TỐ BẢO ĐẢM
SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
TRONG ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH
Ở TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ



4
LÊ THỊ SEN

MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU …………………………………………………………………...07
B. NỘI DUNG ………………………………………………………………...15
Chương 1. Tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh
đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ………...15
1.1. Tổ chức cơ sở đảng và sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ
khối các cơ quan tỉnh …………………………………………………………..15
1.1.1. Khái niệm về tổ chức cơ sở đảng ……………………………………….15
1.1.2. Khái niệm về Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh …………………………...16
1.1.3. Vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng ………....17
1.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng ……...20
1.2.1. Khái niệm về nhân tố và phân loại các nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng ………………………………………………………...20
1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong
Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ………………………………………………...23
Kết luận Chương 1……………………………………………………………..38
Chương 2. Thực trạng tổ chức cơ sở đảng và những nhân tố ảnh hưởng đến
sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở
tỉnh Thanh Hóa hiện nay……………………………………………………..39
2.1. Tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa
hiện nay ………………………………………………………………………..39
2.1.1. Tỉnh Thanh Hóa và Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa …………………………..39
2.1.2. Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong
Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay …………………...43

3.2.3. Đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ
khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ……………………………………………83


6
3.2.4. Nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, chi bộ của tổ chức cơ sở đảng
trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa ………………………86
3.2.5. Tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn
và đẩy lùi nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng
bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ………………………………………...89
3.2.6. Đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng trong các tổ chức
cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa ……………….93
Kết luận Chương 3 …………………………………………………………….98
C. KẾT LUẬN ………………………………………………………………..99
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………….101


7

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- BCH

:

Ban chấp hành

- BTV

:


những đóng góp vào công cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì những mục tiêu
tiến bộ.
Với tinh thần đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận
dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào
thực tiễn cách mạng nước ta, hơn 80 năm qua Đảng Cộng sản Việt Nam luôn
giữ vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị, tiến hành cách mạng Tháng Tám thành
công lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực
dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước,
tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc
nền độc lập của Tổ quốc. Đảng ta đã trở thành một Đảng cầm quyền, Đảng lãnh
đạo Nhà nước và toàn xã hội trong phạm vi cả nước, năng lực và phương thức
lãnh đạo của Đảng đã có những chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu
cầu đổi mới.
Trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn chăm lo xây dựng và phát huy vai
trò của hệ thống tổ chức cơ sở đảng, coi đó là cầu nối giữa Dân với Đảng, là nơi
đề xuất, cũng là nơi trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của


9
Đảng, Pháp luật của Nhà nước, tổ chức cơ sở đảng đã có những đóng góp quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an
ninh, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Nhiều
nhân tố mới tích cực đã xuất hiện, nhất là ở cơ sở, tác động tích cực đến sự lãnh
đạo của Đảng và tổ chức cơ sở đảng.
Tuy nhiên, do tính chất đa dạng của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, vai
trò chức năng nhiệm vụ của nó cũng khác nhau, nhưng thực tế nhận thức chưa
có sự phân biệt, nên có nơi Đảng bao biện làm thay, có nơi Đảng và Chính
quyền chồng chéo, làm cho một số cơ sở đảng trở nên yếu kém, đánh mất vai trò
hạt nhân lãnh đạo, buông lỏng quản lý, chưa tạo sự chuyển biến cơ bản để ngăn

các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa không tránh khỏi những hạn chế, chất lượng còn
chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Nhận thức được những hạn chế và tầm
quan trọng của vấn đề này, chúng tôi chọn đề tài Những nhân tố bảo đảm sự
lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh
Thanh Hóa hiện nay làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng nói chung và trong Đảng ủy
khối các cơ quan tỉnh nói riêng là một chủ đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối
với Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ đề này thường được đề cập nghiên cứu và
giải quyết dưới nhiều góc độ: Chính trị học; sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền;
hoặc dưới góc độ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và phương thức
lãnh đạo của Đảng; hoặc từ góc độ chuyên ngành an ninh quốc gia, trật tự an
toàn xã hội…
Trong quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, trải qua hơn 80
năm xây dựng và trưởng thành, nhất là từ khi đổi mới đất nước đến nay, Đảng,
Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết liên quan
đến chủ đề này. Trong đó, đặc biệt là các vấn đề: Xây dựng Đảng trong sạch,
vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao vao trò lãnh đạo, sức chiến đấu và


11
nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng; một số vấn đề cấp bách về
xây dựng đảng hiện nay…
Trong khoa học chính trị ở nước ta cho đến nay có một số đề tài, công
trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài viết về đổi mới, nâng cao chất
lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức sơ sở đảng.
Một số đề tài khoa học tiêu biểu: “Phương thức Đảng lãnh đạo Nhà
nước”, đề tài cấp bộ, cơ quan chủ trì, Học viện Hành Chính Quốc gia, Hà Nội
2001, Chủ nhiệm PGS. Trần Đình Huỳnh; “Đảng cầm quyền trong thời đại
ngày nay và những vấn đề rút ra cho công cuộc đổi mới và chỉnh đốn Đảng ta”,

Vũ Oanh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999; “Đổi mới về phương thức lãnh
đạo của Đảng”, Lê Đức Bình, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 9/2000; “Nâng cao
sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt
với nhân dân, Đảng - Dân một ý chí”, Lê Khả Phiêu, Tạp chí Cộng sản, số
4/2000; “Sự gắn bó máu thịt của Đảng và nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận của
Đảng”, TS. Đào Duy Quát, Báo Nhân dân, 02/02/2000; “Tiêu chuẩn đảng viên
và những vấn đề bức thiết trong công tác đảng viên hiện nay”, PGS.TS. Tô Huy
Rứa, Hội thảo đề tài KX - 05, ngày 11/01/1999; “Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ
then chốt, tạo bước chuyển biến cơ bản trong công tác xây dựng Đảng”,
Nguyễn Đức Hạt, Tạp chí Xây dựng Đảng, 5/2006; “Vận dụng tư tưởng của
Lênin về Đảng cầm quyền và cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta trong thời kỳ
đổi mới”, PGS-TS. Dương Xuân Ngọc, Tạp chí Lý luận chính trị, số
6/2006; “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc đẩy mạnh công cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển”, Nông Đức Mạnh, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 5/2006;
“Để nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”, Trương
Thị Mỹ Trang, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 2 + 3/2007; “Biện pháp xây dựng
chi bộ trong sạch, vững mạnh”, Vũ Cao Hội, Tạp chí Kiểm tra, số 2/2007; “Vai


13
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước”,
PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
Trong các công trình đó, các tác giả đã bàn đến vai trò, tầm quan trọng
của công tác xây dựng Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ
chức cơ sở đảng trong công cuộc đổi mới, nêu lên một số phương hướng, giải
pháp nhằm nâng cao vao trò lãnh đạo, sức chiến đấu và bảo đảm sự lãnh đạo của
tổ chức cơ sở đảng trong Đảng nói chung và ở các Đảng bộ cơ sở nói riêng.
Phần lớn các công trình nghiên cứu và các bài viết này đề cập đến vấn đề
Đảng, là cơ sở lý thuyết và cách tiếp cận về xây dựng Đảng. Cho đến nay cũng

4.1. Cơ sở lý luận
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở ý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, các chủ trương, đường lối về xây dựng
Đảng, đặc biệt là về tổ chức, hoạt động và những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo
của tổ chức cơ sở đảng. Khảo sát thực tiễn của các đảng bộ, chi bộ thuộc Đảng
bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa cũng như báo cáo của Đảng bộ về
công tác xây dựng Đảng của đảng bộ thời gian gần đây.
- Tham khảo, kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có
liên quan đến đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; sử dụng
các phương pháp chuyên ngành, liên ngành khác nhau như các phương pháp lịch
sử - lôgic, điều tra, khảo sát, phân tích, tổng hợp, thống kê, kết hợp nghiên cứu
lý luận và tổng kết thực tiễn…
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức cơ
sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay, đánh
giá thực trạng tổ chức cơ sở đảng trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự


15
nghiệp thuộc Đảng bộ khối các cơ quan tỉnh ở Thanh Hóa (có thể có những liên
hệ, chứng minh, so sánh sự cần thiết với các cơ quan khác, địa phương khác,
nước khác).
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vị nghiên cứu là các tổ chức cơ sở đảng trong Đảng bộ khối các cơ
quan tỉnh ở tỉnh Thanh Hóa trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận về tổ chức

đạo cách mạng đã nhấn mạnh: Đảng ta có một tổ chức chặt chẻ, thống nhất từ
Trung ương đến cơ sở, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng, vì vậy phải
được thành lập, được tổ chức tại các đơn vị cơ sở. Người nói: “Ở mỗi xưởng
máy, hầm mỏ, xí nghiệp, cơ quan, trường học, đường phố, nông thôn, đại đội có 3 đảng viên trở lên thì lập một chi bộ” [34; 242].
Với tinh thần đó, khái niệm tổ chức cơ sở đảng được ghi rõ trong Điều lệ
Đảng Cộng sản Việt Nam và qua các kỳ đại hội có sự điều chỉnh và từng bước
hoàn chỉnh về nội dung và ý nghĩa của nó. Tại Điều 21 Điều lệ Đảng Cộng sản
Việt Nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI ghi rõ:
1. Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng,
là hạt nhân chính trị ở cơ sở.


17
2. Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức
cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng
viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực
thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức
đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên
chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức
cơ sở đảng thích hợp.
3. Tổ chức cơ sở đảng dưới ba mươi đảng viên, lập chi bộ cơ sở, có các tổ
chức đảng trực thuộc.
4. Tổ chức cơ sở đảng có từ ba mươi đảng viên trở lên, lập đảng bộ cơ sở,
có các chi bộ trực thuộc đảng ủy.
5. Những trường hợp sau đây, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp
ủy cấp trên trực tiếp đồng ý mới được thực hiện:
- Lập đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ ba mươi đảng viên.
- Lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở có hơn ba mươi đảng viên.
- Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở [17; 35, 36, 37].

vai trò hết sức quan trọng, tác động đến quá trình phát triển một cách toàn diện
trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng, C.Mác và Ph.Ăngghen là
những người đầu tiên chỉ ra vị trí, vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, hai
Ông cho rằng các chi bộ buông lỏng về mặt tổ chức, sẽ làm cho Đảng “mất chỗ
dựa vững chắc và duy nhất v.v.. [33; 167]. C.Mác và Ph.Ăngghen luôn luôn coi
trọng việc củng cố các chi bộ, làm cho chi bộ thành trung tâm và hạt nhân của
các hiệp hội công nhân. Phát triển tư tưởng đó V.I.Lênin trong quá trình xây
dựng và lãnh đạo Đảng Bônsêvích Nga - Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân,
đã xây dựng và kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, làm nơi rèn luyện, phân công công
tác, quản lý, sàng lọc đảng viên, biến mỗi chi bộ thành trung tâm hạt nhân của
các hiệp hội công nhân, là điểm tựa để tiến hành công tác tuyên truyền, cổ động


19
và tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối lãnh đạo của Đảng trong quần
chúng.
Trên tinh thần đó, Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam đã đặc biệt quan tâm chăm lo đến việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng, theo
quan điểm mỗi chi bộ của Đảng là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở,
đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lực
lượng vĩ đại của quần chúng. Hồ Chí Minh chỉ rõ “Chi bộ là gốc rễ của Đảng”
và “Chi bộ là đồn lũy của Đảng chiến đấu ở trong quần chúng” [34; 242], giống
như một cây không thể thiếu gốc rễ, một ngôi nhà không thể thiếu nền tảng, điều
đó đủ nói lên vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của mỗi chi bộ với tư cách là tổ
chức cơ sở đảng. “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh” [35; 270] và “các chi bộ
mạnh tức là Đảng mạnh” [34; 242].
Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với mọi mặt của đời sống xã hội,
các tổ chức cơ sở đảng là những hạt nhân chính trị, là nền tảng của Đảng ở cơ
sở, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Mỗi chi bộ ta phải là một hạt nhân vững chắc,
lãnh đạo đồng bào thi đua yêu nước, cần kiệm xây dựng nước nhà” [35; 205].

Từ chức năng nói trên, Điều 23, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, được
thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng năm 2011, quy định năm nhiệm vụ
của tổ chức cơ sở đảng như sau:
1. Chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đề
ra chủ trương, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ và lãnh đạo thực hiện có
hiệu quả.
2. Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng
và tổ chức; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng
sinh hoạt Đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường
đoàn kết thống nhất trong Đảng; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý
cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình
độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.


21
3. Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự
nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội trong sạch,vững
mạnh; chấp hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
4. Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và
bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
5. Kiểm tra giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra giám
sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.
Đảng ủy cơ sở nếu được cấp trên trực tiếp ủy quyền thì được quyết định
kết nạp và khai trừ đảng viên [17; 39, 40, 41].
Với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ Đảng, trong thời
gian qua tổ chức cơ sở đảng đã cơ bản phát huy bản chất vai trò là hạt nhân lãnh
đạo chính trị, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác tổ chức cán
bộ, xây dựng tổ chức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở,

độ phát triển của sản xuất, của xã hội, những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội,
v.v..
- Nhân tố chủ quan, là hoạt động của quần chúng của các giai cấp, các
đảng phái, nhà nước hay những con người cá biệt với ý thức, ý chí và khả năng
hoạt động của họ v.v.. Có thể thấy một số nhân tố chủ quan tiêu biểu, biểu hiện
như hoạt động của quần chúng, các giai cấp, đảng phái, nhà nước, những con
người cá biệt với ý thức, ý chí, khả năng của họ v.v..
Trong đời sống xã hội những nhân tố khách quan bao giờ cũng là những
nhân tố quyết định, nhưng tác động của chúng chỉ thể hiện thông qua sự tác
động của các nhân tố chủ quan của con người. Những nhân tố chủ quan chỉ có
thể đóng vai trò quyết định chỉ khi nào những điều kiện khách quan đã được
chuẩn bị cho chúng. Sự tác động của các nhân tố chủ quan đến sự phát triển của
xã hội tăng lên cùng với sự quá độ từ một hình thái kinh tế - xã hội này sang một
hình thái kinh tế - xã hội khác, tiến bộ hơn. Vai trò của những nhân tố chủ quan


23
tăng lên mạnh mẽ đặc biệt trong xã hội xã hội chủ nghĩa, khi lần đầu tiên trong
lịch sử loài người có khả năng phát triển sáng tạo và hài hòa tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội, khi đông đảo quần chúng nhân dân được thu hút tham gia
một cách tự giác vào công cuộc xây dựng xã hội mới.
- Nhân tố bên ngoài, là sự phản ánh phía mặt ngoài của sự vật, hiện tượng,
mà cảm giác của con người thu nhận được hoặc phản ánh hiện thực tồn tại bên
ngoài sự vật, hiện tượng.
- Nhân tố bên trong, là phạm trù chỉ cái bên trong, phản ánh mặt thực chất
của sự vật, hiện tượng. Cái bên trong không được tiếp thu một cách trực tiếp, mà
nhận thức thông qua cái bên ngoài, thông qua những biểu hiện của sự vật, hiện
tượng. Những mặt bên ngoài của sự vật, hiện tượng được quy định bởi cái bên
trong, bởi quy luật, bởi bản chất và thông qua những cái đó mà người ta phát
hiện và nhận thức được chúng. Việc xem xét bản chất bên trong của sự vật đưa

đã trải qua mấy nghìn năm lịch sử lâu dài có thể sánh vai cùng các quốc gia, dân
tộc hình thành sớm trên thế giới. Trong lịch sử ấy, dẫu thuở một nghìn năm Bắc
thuộc đất nước vẫn chói sáng với những cuộc khởi nghĩa vũ trang, những anh
hùng dân tộc, những tinh thần quật cường và quật khởi, ý chí độc lập dân tộc.
Lịch sử dân tộc lại càng rạng danh hơn từ khi có Đảng ra đời, tên tuổi Việt Nam
không chỉ được khôi phục mà ngày càng thêm rạng rỡ trước toàn thế giới. Dân
tộc Việt Nam ngẩng cao đầu đi lên.
Có được trang sử vẻ vang mấy ngàn năm lịch sử đó chính là nhờ dân tộc
Việt Nam có tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần đoàn kết dân tộc vững chắc
và truyền thống đánh giặc giữ nước anh hùng bất khuất. Những nhân tố quan
trọng này được thấm nhuần, ngấm sâu đối với mỗi con người Việt Nam trong
suốt cả chiều dài lịch sử. Nhìn lại lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của
dân tộc Việt Nam; đánh giá vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
chúng ta càng khẳng định vai trò to lớn của giá trị truyền thống lịch sử - xã hội,
cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản việt Nam.


25
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế, Việt Nam vẫn là một quốc gia có lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị và địa
văn hoá, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi và khó khăn thách thức lớn đan xen
nhau, thì việc phát huy và nhân lên sức mạnh lịch sử - xã hội, kế thừa có chọn
lọc và phát huy vai trò lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng trong sự nghiệp đổi
mới là vấn đề cần kíp, được quan tâm lãnh đạo của Đảng ta, bởi lẽ đây là những
nhân tố để vun đắp và xây dựng nên của bao thế hệ cha ông, chính vì thế mà họ
nâng niu, quý trọng. Các giá trị truyền thống trong Đảng càng có ảnh hưởng trực
tiếp đến mỗi cá nhân, đảng viên trong các tổ chức cơ sở đảng ở Đảng bộ khối
các cơ quan tỉnh ở tỉnh Thanh hoá và tăng thêm vai trò lãnh đạo của Đảng ở
từng tổ chức cơ sở đảng cũng như khả năng, năng lực lãnh đạo của đảng viên
trong các chi bộ. Tuy nhiên, cũng phải chú trọng khắc phục những mặt trái của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status