HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG QUỐC HUY
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
Ở HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA HIỆN NAY
Chuyên ngành : Văn hóa học
Mã số
: 60 31 06 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa từng được
ai sử dụng để công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ
nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trương Quốc Huy
MỤC LỤC
2.3. Kết quả bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể ở huyện Hậu Lộc
2.4. Kết quả bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể tại huyện
Hậu Lộc
2.5. Những vấn đề đặt ra trong công tác bảo tồn và phát huy di sản
văn hóa tại huyện Hậu Lộc
43
43
66
69
76
80
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ
PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA Ở HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH
THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
3.1. Dự báo về hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện
Hậu Lộc giai đoạn 2013 - 2020
3.2. Phương hướng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc
3.3. Nhiệm vụ và hệ thống giải pháp tăng cường hoạt động bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa
3.4. Kiến nghị, đề xuất
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
88
Di sản văn hóa chính là một trong những cội nguồn sức sống tiềm tàng
to lớn của dân tộc được tạo ra trong quá khứ, cần phải được bảo vệ, duy trì và
phát huy trong các giai đoạn phát triển xã hội sau này. Văn hoá là tiềm lực
tinh thần to lớn của mỗi dân tộc, thể hiện ra ở những giá trị hàm chứa trong
vốn di sản văn hóa dân tộc được tích lũy theo thời gian lịch sử. Di sản văn hóa
dân tộc bao gồm nguồn lực vật thể (hữu hình) và nguồn lực phi vật thể (vô
hình). Trong xu thế giao lưu hội nhập và toàn cầu hoá hết sức sôi động hiện
nay, vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa lại càng có ý nghĩa vô cùng
quan trọng nhằm gìn giữ và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc, để hội nhập
mà không bị hoà tan. Di sản văn hóa trở thành điểm tựa quan trọng, tạo thế đi
vững chắc cho hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc.
Nghị quyết Trung ương 5 - Khóa VIII nêu rõ:
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt
lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị mới và giao lưu
văn hóa. Hết sức coi trọng và bảo tồn, kết thừa, phát huy những giá
trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng,
bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể [16, tr.371].
Để tiến hành xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc ta cần phải kế thừa một cách khoa học, tích cực, có
2
chọn lọc đúng đắn kho tàng di sản văn hóa của quá khứ. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định:
Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng nền văn hoá
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về
tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường
văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Kế thừa và phát huy các
giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật
của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá danh thắng
huy di sản văn hóa để xây dựng nền văn hóa mới.
Tuy nhiên, trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc còn bộc
lộ một số vấn đề như: tình trạng xâm hại, phá hoại di tích; trùng tu, tu bổ di tích
tràn lan không theo tinh thần bảo tồn, nạn lấy cắp cổ vật và đồ thờ tự trong đền,
chùa; hiện tượng mê tín dị đoan gia tăng; lễ hội truyền thống còn nhiều lộn xộn...
Hiện trạng này khiến cho môi trường văn hóa xã hội nói chung, môi trường bảo
tồn di sản văn hóa nói riêng kém lành mạnh, bền vững, đây vẫn là những thách
thức đặt ra cho toàn xã hội trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa, xây dựng
nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Huyện Hậu Lộc là một địa phương tiêu biểu của tỉnh Thanh Hóa có đặc
điểm văn hóa đồng bằng ven biển, hội tụ đầy đủ địa hình: đồi núi, đồng bằng
chiêm chũng, sông biển và hải đảo, có vị trí là cửa ngõ trên con đường Bắc
Nam. Là một huyện có di chỉ khảo cổ của người Việt cổ, Huyện Hậu Lộc có
nhiều địa danh, di tích lịch sử gắn bó với quá trình hình thành và phát triển
của dân tộc như: Di chỉ khảo cổ Hoa Lộc, Đền Bà Triệu, Chùa Sùng Nghiêm
Diên Thánh, Chùa Vích, Chùa Liên Hoa, Diêm Phố, Đền Đức Ông và Lễ Hội
Cầu ngư… Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu tổng thể để khảo
cứu, đánh giá ý nghĩa cũng như đề ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy
giá trị của các di sản, kiến nghị và đề xuất những phương hướng và giải pháp
có tính khả thi, nhằm bảo tồn và phát huy tốt hơn. Với những lý do đó tôi
chọn đề tài: “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc, tỉnh
Thanh Hóa hiện nay” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ chuyên
ngành Văn hóa học.
4
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như tổ chức Giáo
dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO), chương trình phát
triển của Liên hiệp quốc (UNDP) đều nỗ lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng
hóa nước ta. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả đã đưa ra các nhóm giải
pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
Năm 2002, Luật Di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được
coi là văn bản pháp quy về di sản văn hóa. Trong sách Bảo vệ di sản văn hóa
phi vật thể do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch phát hành năm 2007, GS,TS.
Ngô Đức Thịnh (nguyên Viện trưởng viện Văn hoá dân gian) đã bàn đến Văn
hóa phi vật thể: Bảo tồn và phát huy. Trưởng Ban Di sản phi vật thể Văn
phòng UNESCO Pari - Ông Rieks Smeets đã nghiên cứu về: Bối cảnh, nhận
thức và quá trình xây dựng Công ước về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể.
Công trình “Một con đường tiếp cận di sản văn hóa” do Bộ Văn hóa Thông tin ấn hành, Hà Nội năm 2006, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý
luận di sản văn hóa cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho
đề tài. Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và
phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền), Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng
của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh); Di tích lịch sử và văn hóa đồng
bằng sông Hồng (Đặng văn Bài).
Năm 2007, trong tư cách một nhà nghiên cứu có nhiều năm quan tâm
đến di sản văn hóa, PGS,TS. Nguyễn Chí Bền viết bài nghiên cứu “Bảo tồn di
sản văn hóa phi vật thể ở nước ta hiện nay” đăng trên báo Văn hóa. Bài báo
bàn sâu về cách thức bảo tồn văn hóa phi vật thể hiện nay.
Trên cơ sở kế thừa một số bài viết của các nhà nghiên cứu trên website
của trường Đại học văn hóa Hà Nội, Cục di sản văn hóa, Luận văn tốt nghiệp
của tác giả: Nguyễn Thị Nữ Y, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí
Minh - “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Tỉnh Hà Tĩnh trong thời
kỳ đổi mới hiện nay”…Các công trình nghiên cứu này đã viết khá kỹ về lý
luận văn hóa về di sản văn hóa và thực tiễn khảo cứu tại một số địa phương.
Hậu Lộc mang đậm nét nền văn hóa đồng bằng ven biển, trong quá
trình lịch sử lâu dài, nền văn hóa ấy được in sâu trong không gian sinh hoạt lễ
6
7
Huyện Hậu Lộc. Việc nghiên cứu về các di sản văn hóa, phương án bảo tồn
phát huy giá trị di sản văn hóa ở Huyện Hậu Lộc là vấn đề mới và cần thiết.
Song với số lượng địa chỉ văn hóa nhiều tôi chỉ nghiên cứu trên phạm vi một
số kiến trúc, lễ hội truyền thống tiêu biểu trong toàn huyện và sự kế thừa có
chọn lọc các công trình nghiên cứu, tài liệu quý từ trước đến nay sẽ tạo điều
kiện cho luận văn được hoàn chỉnh và khả thi.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở vận dụng những thành tựu về lý luận di sản văn hóa, luận
văn nghiên cứu, trình bày một cách có hệ thống về di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể tiêu biểu của huyện Hậu Lộc thể hiện nét đặc trưng truyền thống
của văn hóa miền đồng bằng ven biển.
Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa tại huyện
Hậu Lộc, phân tích những mặt tích cực, hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân từ đó
đề xuất một số ý kiến, kiến nghị cho công tác bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa tại huyện Hậu Lộc trong giai đoạn 2013 - 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo tồn và
phát huy hệ thống di sản văn hóa ở huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở
Hậu Lộc từ năm 1998 - 2014.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Trên cơ sở quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá,
luận văn tiếp cận một cách có hệ thống những tiền đề lý luận về di sản văn
hóa, về bảo tồn di sản văn hoá và phát huy di sản văn hóa.
9
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA
1.1. QUAN NIỆM VỀ DI SẢN VĂN HÓA
Văn hóa hình thành trong hoạt động sống của con người và mối quan
hệ tương tác giữa con người với tự nhiên. Trong quá trình hình thành và phát
triển, văn hóa hàm chứa một hệ giá trị được xã hội, cộng đồng thừa nhận. Các
giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa. Giá trị văn hóa chứa đựng, kết tinh trong
di sản văn hóa và thông qua di sản văn hóa để thực hiện các chức năng xã hội.
GS, TS Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống Việt
Nam đã định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh
thần do con người sáng tạo và tích lũy trình quá trình hoạt động thực tiễn,
trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của mình” [56, tr.19].
Di sản văn hóa là hình thức tồn tại của giá trị văn hóa, hệ giá trị văn
hóa có nguồn gốc từ nhu cầu của con người, nó thể hiện một chuẩn mực xã
hội mà con người muốn hướng tới, nói cách khác nó là tiêu chí để đánh giá,
điều chỉnh hành vi, suy nghĩ… của một cá nhân trong một cộng đồng xã hội
nhất định.
Các giá trị văn hóa là yếu tố cốt lõi của văn hóa, nó được sáng tạo
và kết tinh trong quá trình lịch sử của mỗi cộng đồng, tương ứng
với môi trường tự nhiên và xã hội nhất định. Giá trị văn hóa hướng
tới thỏa mãn những nhu cầu và khát vọng của cộng đồng về những
điều tốt đẹp, bồi đắp và nâng cao bản chất người [56, tr.22].
Như vậy giá trị văn hóa đóng vai trò là thành tố để phân biệt di sản văn
hóa với các hiện tượng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình lịch sử
của một cộng đồng, xã hội nhất định. Di sản văn hóa được xem như là những
Tại Ảrập - xêút, Pháp lệnh của nhà vua quy định về quản lý di tích lịch
sử được công bố ngày 3 tháng 8 năm 1972 đã có định nghĩa chung về cổ vật
động sản và cổ vật bất động sản.
11
Năm 1897 Nhật Bản đã ban hành Luật bảo vệ di tích chùa chiền cổ, đến
năm 1950 tiếp tục ban hành Luật bảo vệ tài sản văn hóa, đây là bộ luật được
đánh giá là hoàn thiện nhất về di sản văn hóa vào thời gian bấy giờ. Đến năm
1975, Nhật Bản ban hành Luật số 214 về Bảo vệ di sản văn hóa, các di tích
lịch sử văn hóa, chúng được gọi chung là di sản văn hóa vật chất, di sản văn
hóa phi vật chất, di sản văn hóa dân gian và những công trình kỷ niệm.
Tiếp theo đó Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh năm
1983 đó định nghĩa “di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và
chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng
trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [76, tr.7].
UNESCO đã ra công ước bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới
vào năm 1972, công ước đã đưa ra các quan niệm di sản văn hóa bao gồm các
di tích, quần thể, thắng cảnh. Công ước nhấn mạnh đến các đối tượng miêu tả
là các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, các di chỉ khảo cổ, các công
trình của con người tạo ra hoặc những công trình có sự kết hợp của con người
với thiên nhiên…có ý nghĩa, giá trị quốc tế về phương diện lịch sử, nghệ thuật,
thẩm mỹ, khoa học. Từ đó ta nhận thấy rằng điểm nổi bật thấy rõ rằng quan
niệm này của UNESCO đã nghiêng về yếu tố vật chất của di sản văn hóa. Đến
năm 1992 UNESCO đã đưa ra khái niệm mới đối với di sản hỗn hợp hay cảnh
quan văn hóa để miêu tả mối quan hệ giữa văn hóa và thiên nhiên. UNESCO
họp phiên thứ 32 tại Paris từ 29/9 đến 17/10/2003 đã bàn thảo và ra Công ước về
Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Công ước đó ghi nhận: Các quá trình toàn cầu
hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội cộng với các điều kiện khác đó tạo nhiều cơ hội
đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe
Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 khóa
VIII nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là
cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở sáng tạo giá trị mới và giao lưu văn hóa”
[16, tr.63]. Nghị quyết Đại hội Đảng khóa IX, khóa X và khóa XI của Đảng
tiếp tục đưa nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
là nhiệm vụ then chốt trong nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân và củng
cố, thúc đẩy kinh tế phát triển. Đảng và Nhà nước ta xác định việc bảo tồn và
phát huy di sản văn hóa là nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng nền văn
13
hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, đưa văn hóa trở thành động lực tinh thần thúc
đẩy kinh tế phát triển, các lĩnh vực của đời sống được nâng cao và từng bước
xây dựng đất nước hiện đại văn minh, bắt kịp với các quốc gia trong thời kỳ
hội nhập toàn cầu hóa.
1.2. PHÂN LOẠI DI SẢN VĂN HÓA
Trước khi tổ chức UNESCO ra đời, ở mỗi quốc gia có một cách phân loại
di sản theo quan niệm khác nhau, có thể là hữu hình - vô hình, tĩnh - động, vật
thể - phi vật thể… Trong công ước về bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên trên thế
giới vào năm 1972, UNESCO cũng chỉ nghiêng về yếu tố vật thể của di sản văn
hóa khi quan niệm di sản văn hóa là những công trình kiến trúc, những kết cấu
hay cảnh quan. Trải qua một quá trình lâu dài, khi xác định yếu tố phi vật chất
đang tồn tại song song cùng với yếu tố vật thể và có vai trò quan trọng không
kém trong việc phát triển văn hóa, năm 2003, UNESCO công bố Công ước về
bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. Ngày nay người ta đều chấp thuận nghiên cứu
theo quan niệm của UNESCO, di sản văn hóa bao gồm hai loại:
Di sản văn hóa vật thể được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thế “sờ
thấy được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu
dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường
một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng
đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người [63, tr.2].
Văn hóa phi vật thể cũng có thế bị mai một, biến dạng, hoặc mất đi
vĩnh viễn bởi thử thách của thời gian, bởi sự vô ý thức của con người. Di sản
văn hóa phi vật thể không chỉ gắn bó với các chủ thể văn hóa mà cũng hòa
quyện vào không gian sinh thái - nhân văn, nơi chúng được sáng tạo ra và
đang hiện diện, tiến diễn trong đời sống đương đại của cộng đồng. Điều đó có
nghĩa là, di sản văn hóa phi vật thể không “nhất thành bất biến”, chúng nhất
định phải hàm chứa những nhân tố mang tính lịch sử, đồng thời lại phải mang
hơi thở của thời đại mà chủ thể văn hóa cũng như chủ sở hữu di sản văn hóa
phi vật thể đang sống, làm việc và sáng tạo. Điều đó cũng có nghĩa là, di sản
văn hóa phi vật thể được sáng tạo ra, được bảo lưu và chuyển giao qua nhiều
thế hệ là cả một quá trình sàng lọc và sáng tạo không ngừng nghỉ. Các thế hệ
kế tiếp nhau có quyền bình đẳng trong việc thừa hưởng các giá trị di sản văn
hóa do cha ông để lại, đồng thời phải có trách nhiệm chọn lựa những gì là tinh
15
hoa nhất để bảo lưu, chuyển giao và trên cơ sở kế thừa có chọn lọc. Trong
thực tế, người ta thường có xu hướng thêm bớt trong quá trình lưu giữ những
giá trị phi vật thể. Cho nên, văn hóa phi vật thể vừa có tính bền vững (trong
ký ức của cộng đồng) lại vừa mang tính mong manh, dễ bị tổn thương (phụ
thuộc vào cuộc sống của một cá nhân - nghệ nhân với những may rủi bất
ngờ). Hơn nữa, văn hóa phi vật thể cũng có nguy cơ biến dạng rất cao bởi tính
dị bản của nó do sự can thiệp của các nhóm xã hội qua các thời đại.
Trên cơ sở đồng thuận với quan niệm của UNESCO, Luật Di sản văn
hoá của Việt Nam (2001) phân loại di sản văn hóa như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền
miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao
định xã hội, làm tiền đề cho phát triển bền vững.
1.3. VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA
1.3.1. Quan điểm của UNESCO
Đời sống di sản văn hóa đang chịu nhiều tác động bởi nhiều xu hướng.
Thứ nhất là xu hướng "du lịch hóa di sản", với những hoạt động du lịch
chỉ chú trọng những di tích có tiềm năng thu hút du khách, dẫn đến tình trạng
nhiều di sản văn hóa bị lạm dụng, khai thác quá mức.
Thứ hai là xu hướng "thương mại hóa di sản", là nguyên nhân dẫn đến
việc trùng tu và phục dựng tùy tiện, thiếu khoa học, hoặc làm biến dạng, đánh
mất tính nguyên gốc của di sản. Dưới tác động của xu hướng này, công tác
bảo tồn di sản mang nặng tính thực dụng.
Thứ ba là xu hướng "xã hội hóa di sản" tuy nhiên việc thực hiện giao
khoán công tác bảo tồn di sản ở các địa phương cho các hội quần chúng cơ sở,
thiếu sự giám sát, không có sự hỗ trợ của chuyên gia văn hóa, đó đưa đến
những hệ quả ngoài ý muốn.
Di sản là những giá trị được hình thành qua quá trình lịch sử, phản ánh
đời sống của cộng đồng; bao gồm những giá trị vật thể và phi vật thể. Bảo tồn
di sản văn hóa là hoạt động bảo vệ, gìn giữ các giá trị đó, tránh sự mai một,
xuống cấp và biến mất. Phát triển, bảo tồn di sản có mục tiêu chủ yếu là: tôn
vinh các giá trị truyền thống, phát huy nó trong điều kiện xã hội mới. Sự tách
biệt giữa bảo tồn và phát huy chỉ có ý nghĩa về nhận thức, bởi nó là hai mặt
17
của một vấn đề. Sự quá đề cao mặt này hay xem nhẹ yếu tố kia đều không tốt
cho công tác bảo tồn và phát huy di sản.
Quan điểm của UNESCO về bảo tồn di sản văn hóa
Trong nghiên cứu, cũng như trong hoạt động thực tiễn về di sản văn
hóa, ta thường hay dùng các thuật ngữ: bảo quản, bảo vệ và bảo tồn.
chỉ. Hiến chương này nhấn mạnh việc bảo tồn đòi hỏi phải giữ gìn tính nguyên
gốc, không được phép thêm vào hay bớt đi mà phải bảo tồn nguyên vẹn.
Trên cơ sở tôn trọng các điều khoản của Hiến chương Venice,
UNESCO đã ban hành Công ước về việc bảo tồn các di sản văn hóa và thiên
nhiên thế giới vào năm 1972. Tiếp đến năm 2003, UNESCO ban hành Công
ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, được sự đồng thuận của trên 120 quốc
gia thành viên mà Việt Nam là một trong số những thành viên đó. Với mục
tiêu tăng cường nhận thức về tầm quan trọng và thống nhất hoạt động bảo vệ
di sản văn hóa phi vật thể, Công ước yêu cầu các nước cam kết có những biện
pháp bảo đảm việc bảo vệ và duy trì sự tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể,
cùng với sự phối hợp chặt chẽ ở cấp vùng và cấp quốc tế cho mục tiêu này.
Có thể thấy, các biện pháp bảo vệ do Công ước đề ra, nhất là biện pháp kiểm
kê (xác định giá trị di sản), tư liệu hóa cho thấy quan điểm tôn trọng yếu tố
gốc của loại hình di sản này.
Về quan điểm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá cũng có
nhiều quan điểm khác nhau. Nhưng trên thế giới vẫn tựu trung 2 quan điểm
như sau: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Như vậy quan
điểm của UNESCO những năm 1972 nghiêng về dạng bảo tồn nguyên vẹn,
di sản văn hóa bị “đóng gói” và bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh
mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng. Khuynh hướng này
mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm, như các công trình kiến trúc
vẫn tồn tại dù trải qua một giai đoạn thời gian rất dài... Tuy nhiên, văn hóa
nói chung trong đó có di sản văn hóa luôn gắn bó tồn tại song song với đời
sống, con người, với môi trường xã hội. Do đó, nó luôn trong tình trạng
giao lưu, tiếp biến, biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống.
Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế, làm cho di sản
văn hóa không phát huy hết giá trị.
19
20
tồn có ý thức, thích hợp và đảm bảo các khả năng lan tỏa ý nghĩa văn hóa
trong cộng đồng, phát huy giá trị của di sản văn hóa vào đời sống tinh thần
cộng đồng, là động lực cho sự phát triển.
Quan điểm của UNESCO về phát huy giá trị di sản văn hóa
Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt
tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản
đến phức tạp. Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm
một cách có hiệu quả. Công việc này xuất phát từ nhu cầu thực tế, con người
mong muốn sản phẩm của họ tạo ra phải được nhiều người cùng biết đến hoặc
đem về những lợi ích kinh tế. Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động
có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của
xã hội, gúp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc, đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu. Cách thức phát huy của
mỗi di sản, mỗi thời điểm có khác nhau, điều đó tùy thuộc vào văn hóa của
mỗi vùng, vào nhận thức của từng người. Nhưng tất thảy các hoạt động này
đều phải dựa vào giá trị sẵn có của di sản, làm tôn vinh vẻ đẹp và phát triển
các giá trị văn hóa đó.
Phát huy di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có nguyên
tắc chung để đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động này. Do tính đa dạng của di
sản văn hóa nên cách thức phát huy từng di sản văn hóa có thể khác nhau ở từng
thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của từng vùng cũng như
nhận thức của chủ thể tổ chức các hoạt động phát huy cũng như cộng đồng,
nhưng nguyên tắc cao nhất của phát huy di sản văn hóa là phải dựa vào những
giá trị hiện có của di sản văn hóa, tôn vinh giá trị và phát triển những tinh hoa
của giá trị di sản văn hóa vì lợi ích cộng đồng cũng như sự phát triển văn hóa.
Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trị di sản văn hóa
là làm cho các ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống tốt
tàng khác ở cơ sở.
Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do
Hội đồng Nhà nước công bố ngày 31/3/1984, đó chứng tỏ sự quan tâm của Đảng
và Chính phủ đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc.
Công cuộc đổi mới là một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát
triển đất nước. Những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, ở đó,