Báo chí với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Hà Nội - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ***********************

HOÀNG HƯƠNG TRÀ BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
DI SẢN VĂN HOÁ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BÁO CHÍ
HÀ NỘI, 2007

MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài:
Trong cuốn 50 sự thật làm thay đổi thế giới, [20, 275 – 281] tác
giả Jessica Williams viết: “Ethnologue, một cơ sở dữ liệu về tất cả các
ngôn ngữ đƣợc sử dụng trên thế giới cho biết mỗi năm có khoảng 10
ngôn ngữ không đƣợc sử dụng nữa. Hãy tƣởng tƣợng, nhƣ vậy tất cả
những đầu mối nhỏ nhoi về lịch sử, văn hóa, tri thức chung đều biến mất.
Nhƣ một kết quả trực tiếp và tất yếu, số liệu đáng giật mình đó nói lên
rằng bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc đã bị xóa sổ, sự đa dạng văn hóa
của thế giới đang bị nghèo nàn đi”.
Kể từ khi công ƣớc Di sản thế giới của UNESCO đƣợc thông qua
cách đây hơn 30 năm, ngày càng nhiều quốc gia nhận thức đƣợc rằng
cùng với các di sản vật thể, di sản văn hóa phi vật thể là một nhân tố giữ
vai trò quan trọng trong bản sắc văn hóa, trong việc thúc đẩy tính sáng
tạo và gìn giữ đa dạng văn hóa, giữ vai trò thiết yếu trong sự phát triển
của quốc gia và quốc tế, trong sự khoan dung và trong sự giao lƣu hài
hoà giữa các nền văn hóa. Hơn nữa, trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nhiều

tinh hoa ngàn năm của văn hóa Việt Nam. Nghiên cứu di sản văn hóa Hà
Nội cũng là nghiên cứu tinh hoa trong di sản văn hóa Việt Nam. Trong
bối cảnh hiện nay, di sản văn hoá là một thành tố có vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc tạo dựng, tôn vinh giá trị văn hoá của mảnh đất kinh kỳ.
Tuy nhiên, việc bảo vệ, khai thác các di sản văn hoá ở Hà Nội hiện nay
đang đặt ra rất nhiều thách thức: Các di sản văn hóa vật thể bị xâm hại ở
mức báo động. Nhiều di tích lịch sử trên địa bàn thành phố gần nhƣ bị
xoá sổ, một số khác chƣa tìm đƣợc cách khai thác, quy hoạch phù hợp.

3
Nhiều di sản văn hóa phi vật thể bị lãng quên, chƣa có sự đầu tƣ thích
đáng để bảo tồn và phát huy.
Việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa Hà Nội trở thành một
yêu cầu bức thiết không chỉ đối với các cơ quan quản lý văn hóa. Báo chí
phải tham gia tích cực vào việc bảo vệ di sản văn hóa thủ đô thông qua
hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho nhân dân. Đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay, khi Hà Nội cùng cả nƣớc đang hƣớng tới đại lễ Kỷ
niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Đối với ngƣời làm báo ở thủ đô,
nhất là những ngƣời làm văn hoá, việc nghiên cứu các giá trị văn hoá
truyền thống là một yêu cầu thiết thực.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Di sản văn hoá Hà Nội là đề tài đƣợc các nhà nghiên cứu văn hoá,
lịch sử tìm hiểu từ cách đây rất lâu và tập trung vào các hƣớng:
+ Nghiên cứu cụ thể từng di sản: di sản văn hóa vật thể, văn hóa
phi vật thể theo hƣớng giới thiệu văn hoá, lịch sử chiếm đa số các công
trình nghiên cứu về di sản văn hoá Hà Nội. Các nhà nghiên cứu thƣờng
tập trung vào việc tìm hiểu tên địa danh, các câu chuyện lịch sử hoặc
truyền thuyết xung quanh di tích. Có thể kể ra một vài công trình: Thăng
Long Đông Đô Hà Nội (tác giả: Chu Thiện, Sơn Chi, Lê Tám); Sổ tay
văn hoá (Sở Văn hoá Hà Nội, H.1961); Hà Nội xƣa và nay (Sở Văn hoá

Đánh giá những ƣu điểm và hạn chế của báo chí trong việc bảo tồn
và phát huy di sản văn hoá Hà Nội.
Kiến nghị, đề xuất những giải pháp để báo chí có thể phát huy hơn
nữa sức mạnh của mình trên lĩnh vực văn hoá nói chung và bảo tồn, phát
huy giá trị di sản nói riêng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

5
Các di sản văn hóa Hà Nội qua phản ánh của báo chí: giá trị, thực
trạng, công tác quản lý bảo vệ, gìn giữ, khai thác từ đó rút ra những bài
học, kinh nghiệm cần thiết.
Giới hạn tài liệu: Các tờ báo: Hànộimới, Văn hóa, Tạp chí xƣa và
nay, Tạp chí Di sản… trong thời gian từ năm 2000 đến tháng 6 năm
2006.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những nhiệm vụ mà khoá luận đặt ra, chúng tôi dựa
trên đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về phát
triển văn hoá. Đây là cơ sở phƣơng pháp luận để tiếp cận vấn đề này, để
đánh giá những thành tựu và hạn chế của báo chí trong việc góp phần
bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá Hà Nội. Đồng thời chúng tôi
sử dụng các phƣơng pháp: so sánh – phân tích – tổng hợp… để phân tích
hệ thống tƣ liệu đƣợc khảo sát để rút ra những kết luận cũng nhƣ những
kiến nghị có tính khả thi nhất.
6. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3
chƣơng:
Chƣơng I: Lý luận chung về di sản văn hoá và vai trò của báo chí
Chƣơng II: Di sản văn hoá Hà Nội phản ánh qua báo chí
Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và những kiến nghị


chính trị và xem nó bao gồm cả tƣ tƣởng, học thuật (=khoa học, giáo
dục), nghệ thuật…Tuy nhiên, giới nghiên cứu vẫn thƣờng nhắc tới một
vài định nghĩa tiêu biểu nhƣ định nghĩa của GS. Đào Duy Anh, GS. Trần
Ngọc Thêm… GS. Đào Duy Anh định nghĩa ngắn gọn: “Văn hoá là sinh

7
hoạt của con ngƣời về mọi phƣơng diện sinh hoạt” [12]. Còn GS.Viện sĩ
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị
vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên
và xã hội của mình [44, 25].
Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: “Văn hóa là sự tổng hợp của
mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã
sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn” [18, 431]
Tuy có nhiều cách hiểu với nội dung khác nhau song các khái
niệm về văn hoá này đều xoay quanh các điểm chính:
1. Văn hoá là các giá trị;
2. Những giá trị đó phải do con ngƣời sáng tạo ra (phân biệt với
cái tự nhiên);
3. Sự sáng tạo đó là cả một quá trình lịch sử liên tục;
4. Những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ.
Cấu trúc văn hoá:
Theo cách chia truyền thống, văn hoá có cấu trúc 2 phần rất đơn
giản là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần (hay văn hóa vật thể và văn
hóa phi vật thể). Chính cách cấu trúc này đã dẫn tới việc phân chia các
bộ phận khác của văn hóa thành hai dạng: vật chất và tinh thần nhƣ: di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể… Đây cũng là cách cấu trúc cơ sở để
từ đó ngƣời ta tìm ra những cách cấu trúc mới về văn hoá. Song chính sự
đơn giản lại là nhƣợc điểm của cách cấu trúc này bởi đôi khi với một

hóa đồng tình, đó là cách chia theo đề xuất của GS.Trần Ngọc Thêm.

9
Theo Trần Ngọc Thêm, văn hoá có thể xem là một hệ thống gồm 4 thành
tố (bốn tiểu hệ) cơ bản là:
Văn hóa nhận thức: Mỗi nền văn hoá đều là tài sản của một cộng
đồng ngƣời nhất định- một chủ thể văn hoá. Trong quá trình tồn tại và
phát triển, cộng đồng ngƣời- chủ thể văn hoá luôn có nhu cầu tìm hiểu và
do vậy đã tích luỹ đƣợc một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú
về vũ trụ và về bản thân con người.
Văn hóa tổ chức cộng đồng: Bao gồm hai vi hệ là văn hoá tổ chức
đời sống tập thể (những vấn đề liên quan đến tổ chức xã hội trong quy
mô rộng lớn nhƣ tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị) và văn hoá tổ chức
đời sống cá nhân (những vấn đề liên quan đến đời sống mỗi ngƣời nhƣ
tín ngƣỡng, phong tục, đạo đức, văn hoá giao tiếp, nghệ thuật…)
Cộng đồng ngƣời, chủ thể văn hoá, hiển nhiên là tồn tại trong
quan hệ với 2 loại môi trƣờng- môi trƣờng tự nhiên (thiên nhiên, khí
hậu…) và môi trƣờng xã hội (hiểu ở đây là các xã hội, dân tộc, quốc gia,
láng giềng). Cho nên, hệ thống văn hoá còn bao gồm hai tiểu hệ nữa liên
quan đến cách thức xử sự của cộng đồng dân tộc với 2 loại môi trƣờng
ấy:
Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên.
Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.
Với mỗi loại môi trƣờng đều có thể có hai cách xử thế phù hợp với
hai loại tác động của chúng (tạo nên hai vị hệ): tận dụng môi trƣờng (tác
động tích cực) và đối phó với môi trƣờng (tác động tiêu cực).
Văn hóa bao gồm những lĩnh vực rộng và bao quát nhƣ nghệ
thuật, giải trí, xã hội, tôn giáo.
Cách phân chia cấu trúc văn hoá này vận dụng lý thuyết hệ thống
để lý giải các thành tố văn hoá. Mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố và

Trong phạm vi luận văn này, ngƣời viết chỉ đề cập tới loại hình di
sản văn hoá.
Cũng giống nhƣ khái niệm văn hoá, hiện có rất nhiều những định
nghĩa khác nhau về di sản văn hoá. Thông thƣờng, theo cách nhìn nhận
về hình thái tồn tại, di sản văn hóa đƣợc chia thành hai loại: di sản văn
hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể. Tuy có sự phân biệt nhƣng hai
loại hình này luôn có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng, chúng song
song tồn tại và có tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi một di tích do tiền nhân
sáng tạo đều liên quan một nhu cầu hoạt động tinh thần nào đó. Di tích
lịch sử văn hóa là sản phẩm vật chất nhƣng luôn mang trong mình những
yếu tố phi vật chất là thông điệp, sức sáng tạo, ý thức xã hội, đời sống
tinh thần, tâm linh của thế hệ trƣớc lƣu truyền cho thế hệ sau.
2.1 Di sản văn hóa vật thể:
Theo Công ƣớc di sản thế giới, di sản văn hóa vật thể gồm:
Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội
họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở
trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có
giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa
học.
Quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình
xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng,
do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi
bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: Các tác phẩm do con ngƣời tạo nên hoặc các tác phẩm
có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có
các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử,
thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.

12
Điều 4, Luật Di sản văn hóa đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội

quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền,
về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri
thức dân gian khác.
Theo GS.Tô Ngọc Thanh: Trong xã hội Việt Nam hiện nay, cũng
nhƣ cách hiểu của UNESCO, khi nói đến giá trị văn hoá phi vật thể là
ngƣời ta nghĩ ngay đến các giá trị văn hoá cổ truyền, chứ không phải là
giá trị văn hoá đƣơng đại. Có hai lý do chủ yếu: Thứ nhất, để hình thành
các giá trị văn hoá thì phải có một quá trình kết tinh, mà ngƣời ta gọi quá
trình đó là “độ lùi lịch sử”. Có những cái hôm nay chúng ta cho là tốt
nhƣng lịch sử sẽ phủ định, có cái ta cho là phải vứt bỏ đi thì chính đó lại
là giá trị mà lịch sử sau này thừa nhận. Thứ hai vì khối lƣợng văn hoá cổ
truyền của tất cả các dân tộc trên thế giới là đồ sộ, đƣợc tạo ra trong quá
trình hình thành loài ngƣời hàng ngàn năm mà đến nay ngƣời ta chƣa
hiểu biết hết và ngƣời ta thấy rằng nó cực kỳ quý giá bởi tính nhân văn
và tính dân tộc. Mặt khác, chúng đang có nguy cơ bị mất, bị quên lãng
bởi sự xâm lấn của các kỹ thuật, lối sống đƣơng đại… cho nên, khái
niệm văn hoá phi vật thể tập trung vào các giá trị văn hoá cổ truyền là
đúng” [34,15]
Trong cuốn “Văn hoá phi vật thể ở Hà Nội” do TSKH Phan Hồng
Giang (Chủ biên) [34, 16], di sản văn hoá phi vật thể đƣợc cấu trúc gồm
các thành tố:
1. Các hình thái đƣợc biểu thị thông qua các dấu hiệu ngôn
ngữ nói (văn chƣơng, hò vè, tục ngữ, ca dao truyền
miệng)

14
2. Các hình thái đƣợc biểu thị thông qua các dấu hiệu âm
thanh (ca, nhạc)
3. Các hình thái đƣợc biểu thị thông qua các hành vi, ứng
xử của con ngƣời (phong tục, tập quán, lễ- tết-hội)

loại". Định nghĩa này sau đó đã đƣợc Đại hội đồng khoá 31 của
UNESCO xem xét kỹ lƣỡng và thông qua.
Trên thực tế, các Kiệt tác phi vật thể và truyền khẩu của nhân lọai
đƣợc UNESCO tôn vinh là:
1- Các hình thức biểu đạt mang tính truyền thống hoặc
dân gian nhƣ ngôn ngữ, văn học truyền miệng, âm nhạc,
múa, trò chơi, chuyện kể thần thoại, nghi lễ, trang phục,
kỹ thuật thủ công, kiến trúc;
2- Các không gian văn hoá tức là các địa điểm, nơi các
hoạt động văn hoá truyền thống và dân gia diễn ra một
cách tập trung (chẳng hạn nhƣ những nơi kể chuyện, nơi
diễn ra các nghi lễ, nơi họp chợ, các lễ hội, v.v ) hoặc
diễn ra một cách thƣờng xuyên (nhƣ các nghi lễ hàng
ngày, các đám rƣớc đƣợc tổ chức hàng năm).
Tựu trung, có thể hiểu Di sản văn hóa phi vật thể là tập hợp các
hình thức biểu đạt mang tính văn hóa và xã hội đặc trƣng cho các cộng
đồng và bắt rễ từ trong truyền thống. Những hình thức di sản phi vật thể
này đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và có thể đƣợc biến đổi
theo thời gian bởi một quá trình tái tạo mang tính tập thể. Do tồn tại ở
dạng phi vật thể nên những di sản này đặc biệt dễ bị đe dọa.
3. Tiến trình văn hoá với việc hình thành di sản

16
Là một trung tâm của nền văn hoá Việt, Hà Nội mặc nhiên là nơi
tập trung những đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hoá Việt Nam. Xét về
mặt tiến trình văn hoá, GS. Trần Ngọc Thêm [44,75] cho rằng tiến trình
văn hoá Việt Nam có thể chia thành 6 giai đoạn: văn hoá thời tiền sử,
văn hoá Văn Lang- Âu Lạc, văn hoá thời chống Bắc thuộc, văn hoá Đại
Việt, văn hoá Đại Nam và văn hoá hiện đại. Sáu giai đoạn này tạo thành
ba lớp chồng lên nhau: lớp văn hoá bản địa, lớp văn hoá giao lƣu với

phỏng theo mô hình Trung Hoa và Ấn Độ; văn hoá bình dân (văn hoá
dân gian) bảo lƣu văn hoá lúa nƣớc bản địa.
Lần thứ ba tiếp xúc với văn hoá Pháp và phƣơng Tây hiện đại đã
hiện đại hoá nền văn hoá Việt Nam với hai thành tố: Văn hoá hiện đại
mô phỏng theo mô hình văn hoá phƣơng Tây, văn hoá dân tộc hợp lƣu cả
văn hoá bác học và văn hoá bình dân.
Lần thứ tƣ tiếp xúc với văn hoá xã hội chủ nghĩa. Khác với trƣớc
đây, sự tiếp xúc lần này mang tính tự giác và có cơ sở lý luận khoa học
của chủ nghĩa Mác.
Nói một cách hình ảnh hơn, GS.Trần Quốc Vƣợng trong cuốn
“Thăng Long- Hà Nội tìm tòi và suy ngẫm” [47, 268-302] đã cụ thể hoá
tiến trình văn hoá ấy thông qua việc chứng minh bằng các di sản văn hoá
vật thể và phi vật thể. Khi phân tích cuộc “giao thoa văn hoá” lớn với
Trung Hoa và khu vực, ông chỉ ra rằng “sự giao thoa – tƣơng tác văn hoá
Việt- Hoa không thể quy giản thành “bên cho” (Hoa)- “bên nhận” (Việt)
mà bao giờ cũng “có đi có lại”. Ngƣời Hoa tiếp thu một số hoa văn trên
trống đồng Đông Sơn đƣa vào gƣơng đồng, kỹ thuật chế tác thuỷ tinh,
một vài giống lúa chịu hạn, vải bông, mía đƣờng (nhƣ đƣờng phèn), kỹ

18
thuật dùng kiến trừ sâu cam và một vài truyền thuyết nhƣ vợ chồng
Ngâu… Ngƣời Việt- đất Việt tiếp thu- hội nhập ở văn hoá Hán trƣớc hết
là mô hình tổ chức hành chính (xã- hƣơng – huyện – quận - đạo – trấn –
tỉnh…), ở hệ thống quan chức (tuy có giản lƣợc đi), ở chế độ khoa cử…
GS. Trần Quốc Vƣợng cũng đã lấy một ví dụ rất hay, đó chính là sự phát
triển của mỹ thuật Việt Nam để chứng minh cho việc “Âu hoá” và
“chống Âu hoá” của văn hoá Việt Nam trong cuộc tiếp xúc với văn hoá
phƣơng Tây.
Về dấu ấn rõ nét của tiến trình văn hoá thể hiện trên các di sản,
GS. Trần Ngọc Thêm chỉ ra rằng: Lớp văn hoá giao lƣu với Trung Hoa

là vô cùng rõ nét. Thông qua “ngôn ngữ” của di sản hôm nay, công
chúng có thể thấy đƣợc tiến trình lịch sử của văn hoá dân tộc.
Tóm lại, tiến trình văn hoá ảnh hƣởng trực tiếp và sâu sắc đến quá
trình hình thành các di sản văn hoá. Đồng thời, các di sản văn hoá tại
Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng chính là sự thể hiện sinh động,
rõ nét nhất tiến trình văn hoá Việt Nam.

20
B. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO VỆ DI SẢN VĂN HOÁ
1. Quy định của Nƣớc CHXHCN Việt Nam:
Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận, ngay từ thời kỳ phong kiến, vấn đề
bảo vệ các di sản văn hoá đã đƣợc chú trọng và đƣợc chính thức đƣa vào
nội dung các bộ luật. Luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông (Thế kỷ XV)
đã ghi rõ các hình phạt của nhà nƣớc trừng phạt những ngƣời lấy cắp và
phá huỷ tƣợng phật và chuông đồng cổ.
Trƣớc năm 1945, các hoạt động nghiên cứu và liệt hạng di tích
lịch sử, văn hoá ở Việt Nam và các nƣớc Lào, Cam-pu-chia đƣợc thực
hiện theo những quy định của "Luật Bảo vệ Di sản Văn hoá" của Cộng
hoà Pháp ban hành năm 1913 và đến năm 1925 đƣợc bổ sung thêm
những quy định cụ thể đối với các nƣớc thuộc địa.
Năm 1943, Đảng Cộng sản Đông Dƣơng xây dựng và ban hành

+ Luật Di sản Văn hoá (29/6/2001), Luật đã đƣợc Quốc hội nƣớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua.
Luật gồm 7 chƣơng, 74 điều.
+ Nghị định 92 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Di sản văn hóa (năm 2002)
+ Quy chế bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích lịch sử, văn hóa,
danh lam thắng cảnh (năm 2003)
2. Những văn bản, cam kết quốc tế:
+ Công ƣớc La Hay (14/5/1954) về bảo vệ tài sản văn hoá trong
trƣờng hợp xung đột quân sự có sự tham gia ký kết của 43 quốc gia trong
đó yêu cầu việc nhất thiết không đƣợc phá và làm hƣ hỏng các di tích

22
văn hoá (trong trƣờng hợp các giá trị văn hoá bị tổn thất do những xung
đột vũ trang cần nhờ đến các cấp trọng tài can thiệp).
+ Những nguyên tắc về bảo vệ di sản văn hoá của UNESCO:
UNESCO luôn đi đầu trong các nỗ lực quốc tế nhằm bảo vệ các di
sản của thế giới. Kể từ năm 1972, khi Công ƣớc về bảo vệ các di sản văn
hoá và thiên nhiên của thế giới ra đời đã trở thành một nỗ lực có tính tiên
phong trong việc gìn giữ các di sản vật thể. Với vai trò bảo vệ các di sản
văn hoá, (Danh mục các di sản thế giới gồm 754 di sản văn hoá và thiên
nhiên có giá trị nổi bật toàn cầu), UNESCO đã tìm cách mở rộng khái
niệm này bằng cách thúc đẩy việc tôn vinh các di sản văn hóa phi vật thể
và truyền khẩu với nhận thức Di sản vật thể là "một bộ phận cơ bản và
có tầm quan trọng không kém các loại hình di sản khác trong kho tàng di
sản của nhân loại" (K. Matsura, Tổng giám đốc UNESCO).
Trong suốt hơn 20 năm qua, UNESCO đã đi đầu trong việc gìn
giữ các di sản phi vật thể và truyền khẩu bằng cách sử dụng các công cụ
pháp lý quốc tế, các chƣơng trình hoạt động và các ấn phẩm trong đó có:
- Khuyến nghị về việc bảo vệ văn hóa truyền thống và văn hóa dân

vật thể và phi vật thể , cùng đƣợc bảo vệ và tôn vinh.
Trƣớc yêu cầu của cộng đồng quốc tế cũng nhƣ để khắc phục hạn
chế của Công ƣớc 1972, UNESCO đã đề ra một “Chiến lƣợc toàn cầu"
cho việc bảo vệ các di sản văn hóa phi vật thể nhằm tái khẳng định cam
kết của tổ chức này đối với việ bảo vệ các di sản văn hóa, đồng thời tăng
cƣờng các mục tiêu chiến lƣợc trong lĩnh vực văn hoá của tổ chức này,
đó là:
- Thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện các công cụ định chuẩn
trong lĩnh vực văn hóa;

Trích đoạn Chƣa có một hệ thống chính sách, pháp luật đủ mạnh đảm bảo cho việc bảo tồn và phát huy di sản Hoàn thiện hệ thống pháp luật đảm bảo cho việc bảo tồn và phát huy di sản Mấy nhận xét về nội dung: Về hình thức
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status