Nghiên cứu phát triển mô hình sản xuất nhãn muộn trên địa bàn Hưng Yên - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-------------***---------------

TRẦN THỊ MAI HƯƠNG

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH SẢN XUẤT
NHÃN MUỘN TRÊN ĐỊA BÀN HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số

: 60.31.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS MAI THANH CÚC

HÀ NỘI - 2010


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và tất cả những trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2010
Người cam đoan

Trần Thị Mai Hương

DANH MỤC BẢNG..............................................................................................................v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ.........................................................................................vii
1. MỞ ĐẦU............................................................................................................................1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.........................................................................................................3
1.2.1 Mục tiêu chung......................................................................................................3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể......................................................................................................3
1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu........................................................................................4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu............................................................................................4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu...............................................................................................4
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.........................................................5
2.1 Cơ sở lý luận....................................................................................................................5
2.1.1 Một số vấn đề chung về phát triển mô hình sản xuất............................................5
2.1.2 Hiệu quả kinh tế các mô hình..............................................................................12
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển mô hình sản xuất cây ăn quả....................15
2.2 Cơ sở thực tiễn...............................................................................................................19
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển mô hình sản xuất cây ăn quả trên thế giới.....................19
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển mô hình sản xuất cây ăn quả ở Việt Nam.....................24
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.........................................................................................34
3.1.1 Giới thiệu chung..................................................................................................34
3.1.2 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên...........................................................................35
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội....................................................................................38
3.2 Phương pháp nghiên cứu................................................................................................44
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu...................................................................44
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu..............................................................................47
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu............................................................................48
3.3 Hệ thống chỉ tiêu phân tích............................................................................................49
3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất của hộ................................................49
3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả......................................................50

STT

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Yêu cầu nhiệt độ, lượng mưa của một số cây ăn quả..........................16
Bảng 2.2 Yêu cầu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả..............................17
Bảng 2.3: Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả trên thế giới...........................19
Bảng 3.1: Đặc điểm thời tiết khí hậu tỉnh Hưng Yên...........................................37
Bảng 3.2: Đất đai phân theo công dụng kinh tế và theo huyện, Thành phố.........39
Bảng 3.3: Một số chỉ tiêu KT - XH chủ yếu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2000 2008......................................................................................................................42
Bảng 3.4: Số mẫu, đối tượng điều tra, phỏng vấn................................................47
Bảng 4.1 Đặc điểm một số giống nhãn trồng ở tỉnh Hưng Yên...........................53
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn của tỉnh từ 2001 - 2008..............54
Bảng 4.3 Diện tích nhãn phân theo huyện, thành phố qua các năm.....................58
Bảng 4.4 Diễn biến giá nhãn qua các năm...........................................................64
Bảng 4.5 Đặc điểm về năng suất, chất lượng quả................................................68
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu về quả...........................................................................69
Bảng 4.7 Số hộ trồng nhãn điều tra theo cách thức trồng....................................70
Bảng 4.8 Số hộ trồng nhãn điều tra theo quy mô.................................................71
Bảng 4.9 Thông tin chung về hộ điều tra năm 2009............................................72
Bảng 4.10 Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn muộn BQ năm 2009................76
Bảng 4.11 Thông tin chung về hộ điều tra năm 2009..........................................76
Bảng 4.12 Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn muộn BQ năm 2009................78
Bảng 4.13 Thông tin chung về hộ điều tra năm 2009..........................................78
Bảng 4.14 Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn muộn BQ năm 2009................81
Bảng 4.15 Thông tin chung về hộ điều tra năm 2009..........................................82
Bảng 4.16 Diện tích, năng suất, sản lượng nhãn muộn BQ năm 2009................84
Bảng 4.17 Chi phí sản xuất nhãn muộn của mô hình trồng tập trung năm 2009. 86


vii


1. MỞ ĐẦU
1.1

Tính cấp thiết của đề tài
Trong vòng 10 năm qua, diện tích cây ăn quả cả nước tăng khá nhanh,

chỉ tính riêng các tỉnh, thành phía Bắc đã có khoảng 314.600ha, chiếm gần
40% tổng diện tích cây ăn quả cả nước. Tính trung bình mỗi năm diện tích
cây ăn quả ở phía Bắc tăng 8,9%, điều này làm mất cân đối về cơ cấu cây ăn
quả. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các tỉnh, thành đã nhiều lần rà
soát điều chỉnh quy hoạch diện tích cây ăn quả nhưng trên thực tế tình trạng
trồng cây theo phong trào vẫn khá phổ biến ở nhiều địa phương, hậu quả là
người nông dân chịu thiệt thòi do ế thừa sản phẩm dẫn đến bán rẻ như cho.
Qua thống kê của Bộ NN & PTNT hiện nay vải và nhãn là hai loại cây ăn quả
chiếm tỷ lệ cao nhất với 45% và diện tích trồng nhãn của miền Bắc chiếm
khoảng 44.000ha.
Hưng Yên với đặc trưng về đất trồng, khí hậu, kỹ thuật bản địa truyền
thống là những yếu tố cơ bản làm nên đặc sản Nhãn Lồng, giống nhãn được
coi là vua của các loài nhãn và đã rất nổi tiếng từ thế kỳ 17. Trong những năm
gần đây, tổng giá trị sản lượng thu được từ cây nhãn chiếm khoảng 12 - 15%
tổng giá trị sản lượng nông nghiệp của tỉnh và cây nhãn luôn được coi là một
trong các cây trồng nông nghiệp chủ yếu của địa phương. Sản lượng nhãn của
Hưng Yên được tiêu thụ tươi ở nhiều tỉnh phía Bắc, đặc biệt là cung cấp cho
thị trường Hà Nội; các sản phẩm chế biến từ nhãn được tiêu thụ rộng rãi hơn
tới nhiều tỉnh thành trong cả nước, đặc biệt là xuất khẩu đi một số nước trong
khu vực. Sản lượng nhãn của tỉnh tăng dần qua các năm, chất lượng giống đã

yếu trong tỉnh và các vùng lân cận, họ hàng xa của người dân trong vùng,
chưa có mặt trong hệ thống các siêu thị, rất ít sản phẩm nhãn được bán đi các
thị trường xa. Nhiều hộ nông dân trồng nhãn muộn đã không chú ý tới cây
giống đúng tiêu chuẩn được bán ở các viện, trường, trạm, cơ sở được công

2


nhận mà mua của những người bán dạo, nên khi cho thu hoạch các sản phẩm
nhãn không cho phẩm chất như nhau, có quả chín sớm, chín muộn, to, nhỏ
khác nhau… bán không được giá. Đất thích hợp với cây nhãn muộn phải tơi
xốp, đủ ẩm, nhưng phần lớn hộ trồng nhãn muộn chưa có quy hoạch cụ thể,
trồng trên mương, máng, đất màu và các hộ có áp dụng biện pháp kỹ thuật
nhưng mức độ không đồng đều, như hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trừ các
loại sâu gây hại không đúng thuốc, nồng độ sử dụng và sử dụng thuốc không
đúng thời điểm, kỹ thuật thu hoạch thủ công, sản phẩm vận chuyển bằng
phương tiện thô sơ, không có bao bì, nhãn hiệu được sử dụng riêng cho các
sản phẩm nhãn…
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu phát triển mô hình sản xuất nhãn muộn trên địa bàn
Hưng Yên”.
1.2

Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng phát triển mô hình sản xuất nhãn muộn, từ đó đưa
ra giải pháp nhằm tăng cường phát triển có hiệu quả mô hình sản xuất nhãn
muộn trên địa bàn Hưng Yên trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể


Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số vấn đề chung về phát triển mô hình sản xuất
2.1.1.1. Khái quát về mô hình sản xuất
Trong thời đại ngày nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về phát
triển, theo quan điểm cổ điển thì: Trong nhiều thế kỷ, loài người luôn bị ám
ảnh bởi mục tiêu thoát khỏi đói nghèo, ngày càng có được cuộc sống đầy đủ,
sung túc hơn cho tất cả mọi người. Xét theo nghĩa hoàn toàn kinh tế thì “Phát
triển” được coi là khả năng của một nền kinh tế quốc dân có thể tạo ra và duy
trì được một mức tăng hàng năm trong tổng sản phẩm quốc dân với tốc độ 5 7% [12]. Giáo sư Dudley Seers có quan điểm mới về phát triển: “Điều gì đã
và đang xảy ra với sự nghèo khổ, đã và đang xảy ra với sự thất nghiệp, đã và
đang xảy ra với sự bất bình đẳng. Nếu cả ba vấn đề này trở nên ít nghiêm
trọng hơn thì không có gì đáng nghi ngờ rằng nước đang xem xét đang trải
qua một thời kỳ phát triển. Nhưng nếu một trong hai vấn đề trung tâm này trở
nên xấu đi, đặc biệt nếu cả ba xấu đi thì việc gọi kết quả đó là “phát triển” thì
thật là lạ lùng, ngay cả khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên đáng kể”.
Quan điểm về phát triển của Liên Hợp Quốc tập trung vào phát triển con
người: “Phát triển là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt tới
một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con
người”. Raaman Weitz cho rằng: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục
làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội”. [19]. Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có
ý nghĩa rộng lớn hơn, bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến
hệ thống giá trị của con người, đó là: “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự
do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong

5




Theo các quan điểm khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội
dung, cách hiểu riêng. Trong từ điển tiếng việt thì: Mô hình được hiểu là vật
cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt
động của một vật thể khác để trình bày, nghiên cứu hoặc là hình thức diễn đạt
hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ nào đó, các đặc trưng chủ yếu của một
đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy [29]. Dưới góc độ kinh tế thì Mô hình
là cách thức mô tả thực thể kinh tế đã được đơn giản hóa bằng cách loại bỏ
các chi tiết không quan trọng, giữ lại đặc điểm quan trọng nhất để giới thiệu
vấn đề nghiên cứu nhằm hiểu và dự đoán được mối quan hệ của các biến số
trên cơ sở dựa vào hành vi của các biến số đó, nó cung cấp cách thức giải
quyết vấn đề.
Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau. Sự khác nhau đó
là tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình đều có
chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu.
Sản xuất là hoạt động có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải, vật
chất cho xã hội bằng cách sử dụng những tư liệu lao động để tác động vào đối
tượng lao động. Hay sản xuất chính là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu
tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa
hoặc dịch vụ (đầu ra). Vậy mô hình sản xuất là hình mẫu trong sản xuất, thể
hiện sự kết hợp của các nguồn lực trong điều kiện sản xuất cụ thể, nhằm đạt
được mục tiêu về sản phẩm và lợi ích kinh tế [13].
2.1.1.2 Phân loại chung về mô hình
Tuỳ vào mục đích nghiên cứu mà người ta sử dụng phương pháp mô
hình hoá để tiếp cận đối tượng nghiên cứu. Phương pháp mô hình hoá là một
phương pháp nghiên cứu bằng cách lập các mô hình về sự vật và hiện tượng
nghiên cứu để hiểu được sự vật và hiện tượng đó. Sử dụng phương pháp mô
hình hoá còn nhằm hiểu được bản chất quá trình vận động của sự vật và các

7

8


Bảng tính hoặc một dãy số liệu là một dạng ngôn ngữ của mô hình
được trình bày một cách tổng quát và có hệ thống gồm một số chỉ tiêu nhất
định, nhằm mô phỏng hiện tượng kinh tế, xã hội hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật của
sự vật, hiện tượng trình bày và nghiên cứu.
- Sự thể hiện của mô hình thông qua việc mô tả bằng lời
Sự mô tả bằng lời cũng là một dạng ngôn ngữ của mô hình. Sự mô tả
bằng lời trong trường hợp này được hiểu là thông qua lời nói hoặc bằng chữ
viết để diễn đạt một cách ngắn gọn những nội dung chủ yếu nhất của sự vật,
hiện tượng nghiên cứu. Sự mô tả này hết sức ngắn gọn những vẫn thể hiện
được bản chất của sự vật và hiện tượng nghiên cứu.
Tuy nhiên tùy theo góc độ nghiên cứu mô hình để vận dụng vào thực
tiễn sản xuất chia thành các loại mô hình khác nhau
1) Nếu đứng trên góc độ nghiên cứu mô hình để vận dụng vào thực tiễn sản
xuất người ta chia mô hình thành hai loại
+ Mô hình lý thuyết (mô hình lý luận)
+ Mô hình thực nghiệm (mô hình thực tế)
Mô hình lý thuyết là mô hình bao gồm một hệ thống các quan niệm
được phân tích khoa học hoặc được trình bày dưới dạng các phương trình
toán học, các phép tính toán, phương pháp loại suy với các thông số nhất định
giúp cho người ta đánh giá, khái quát được bản chất của hiện tượng hoặc
những vấn đề nghiên cứu.
Mô hình tồn tại trong thực tế hoặc dựa trên cơ sở của mô hình lý thuyết
mà vận dụng, triển khai trong thực tiễn thì đó gọi là mô hình thực nghiệm.
Các mô hình thực nghiệm hay là “mô hình vật chất là hiện thân của những vật
thể trong quá trình nào đó”
2) Nếu xét trên góc độ tính chất thể hiện của mô hình người ta chia mô hình
thành hai loại

với mô hình kinh tế vĩ mô tạo thành một hệ thống mô hình thống nhất, làm cơ

10


sở để ra các quyết định kinh tế có căn cứ khoa học.
4) Nếu đứng trên góc độ về cơ chế quản lý kinh tế tầm vĩ mô người ta chia
mô hình kinh tế thành 3 loại
+ Mô hình kinh tế thị trường tự do
+ Mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung (kinh tế chỉ huy)
+ Mô hình kinh tế hỗn hợp
Mô hình kinh tế thị trường tự do là mô hình kinh tế sản xuất hàng hoá
phát triển ở trình độ cao khi tất cả các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản
xuất xã hội đều được tiền tệ hoá. Mô hình kinh tế kế hoạch tập trung (kinh tế
chỉ huy) là mô hình kinh tế mà từ khâu sản xuất đến khâu phân phối lưu thông
đều do một trung tâm điều hành đó là Nhà nước. Mô hình kinh tế hỗn hợp là
mô hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triển vận động theo các quy luật của
kinh tế thị trường nhưng có sự can thiệp của Chính phủ.
5) Nếu xét góc độ về thời gian người ta chia mô hình kinh tế thành hai loại
+ Mô hình kinh tế tĩnh
+ Mô hình kinh tế động
Mô hình kinh tế tĩnh là mô hình mô tả các hiện tượng kinh tế tồn tại ở
một thời điểm hay trong một khoảng thời gian xác định. Mô hình kinh tế động
là mô hình mô tả sự vật, hiện tượng kinh tế mà trong đó các yếu tố biến động
theo thời gian.
6) Nếu xét theo phạm vi về lãnh thổ người ta chia mô hình sản xuất thành các
mô hình sau:
+ Mô hình sản xuất của vùng, lãnh thổ
+ Mô hình sản xuất của địa phương
Ngoài ra, nếu xét theo phạm vi sản xuất của ngành người ta chia mô

phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành
sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc
một quá trình sản xuất kinh doanh.

12


Các quan điểm truyền thống chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả
kinh tế. Thứ nhất, nó coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tính,
chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất
quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn
giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao
nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa
đáp ứng đầy đủ được. Thứ hai, nó không tính đến yếu tố thời gian khi tính
toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, thu và chi
trong tính toán hiệu quả kinh tế theo quan điểm này thường chưa tính đủ và
chính xác. Thứ ba, hiệu quả kinh tế theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm
hai phạm trù cơ bản là thu và chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu
tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá
cả. Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động
không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu tố khác nữa.
- Quan điểm mới về hiệu quả kinh tế: Gần đây các nhà kinh tế đã đưa
ra quan niệm mới về hiệu quả kinh tế, nhằm khắc phục những điểm thiếu của
quan điểm truyền thống. Theo quan điểm mới khi tính hiệu quả kinh tế phải
căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối
quan hệ này cần phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật; Hiệu quả phân
bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm thu
thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư tăng thêm. Hiệu quả phân bổ nguồn lực
là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Hiệu quả

Thu nhập

thu nhập theo chi =

(2)
Tổng chi phí sản xuất

phí
+ Hiệu suất của

Lợi nhuận

lợi nhuận theo =
chi phí

(3)
Tổng chi phí sản xuất

- Theo SNA ta có các chỉ tiêu sau:
+ Tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ tạo
ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)
n
GO = ∑ Qi x Pi
i= 1

Trong đó: Qi: Khối lượng sản phẩm loại i
Pi: Đơn giá sản phẩm loại i

+ Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và
dịch vụ được sử dụng trong quá tình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ

Chủ thể sản xuất là thành phần, bộ phận giữ vai trò chủ chốt, thể hiện
đặc điểm, cấu tạo riêng của sự vật, hiện tượng. Chính những đặc điểm này là

15


cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện
tượng khác tồn tại trong hiện thực khách quan. Mô hình sản xuất nói chung và
mô hình sản xuất nhãn muộn nói riêng là một chỉnh thể thống nhất, mọi tác
động vào mô hình đều có xu hướng tập trung vào chủ thể sản xuất. Do vậy,
chủ thể sản xuất là bộ phận chính, giữ vai trò chủ đạo trong tất cả các hoạt
động của mô hình. Chủ thể trong mô hình sản xuất nhãn muộn là các chủ hộ
trồng nhãn muộn và các thành viên làm việc trong hộ. Chủ thể là người trực
tiếp điều tiết các hoạt động sản xuất và ra quyết định của mô hình. Mô hình
sản xuất có thể có một hoặc một số chủ thể, các chủ thể được sắp xếp theo
một cơ cấu nhất định. Cơ cấu này càng hợp lý bao nhiêu thì càng tạo điều
kiện để cho hoạt động sản xuất của mô hình đạt được hiệu quả bấy nhiêu.
Ngược lại, nếu cơ cấu này không hợp lý sẽ cản trở sự phát triển của mô hình.
* Khách thể sản xuất
Khách thể sản xuất là đối tượng tiếp nhận hành động của chủ thể. Khách
thể có tác động trở lại đối với chủ thể. Tuy tồn tại một cách độc lập với chủ thể
nhưng khách thể có tác động nhất đối với sự tồn tại và phát triển của mô hình.
Mức độ tác động của khách thể đối với chủ thể là tuỳ thuộc vào mối quan hệ,
mức độ lợi dụng, trình độ cải biến của chủ thể đối với khách thể. Khách thể là
trực tiếp làm ra các sản phẩm. Mức độ hoàn thiện của khách thể có tác động tích
cực hoặc tiêu cực, thậm chí còn làm thay đổi cả hoạt động của chủ thể. Khách
thể sản xuất của mô hình sản xuất nhãn muộn là hệ thống các tư liệu lao động và
đối tượng lao động. Các tư liệu lao động là công cụ sản xuất, giống, phân bón,
thuốc bảo vệ thực vật..., đối tượng lao động là cây nhãn muộn.
2.1.3.1 Các yếu tố về điều kiện tự nhiên:

22 - 30
29
10

Lượng mưa
thích hợp
(mm)
>1200
1250 – 1700
1240 – 1600
1000 – 1500

Nhãn là loại cây trồng khó tính, phụ thuộc vào thời tiết. Cây nhãn phát
dục trong điều kiện nhiệt độ thấp. Nếu thời tiết rét kéo dài nhưng không rét
đậm rất khó cho nhãn phát dục. Hoặc những cây đã ra hoa mà gặp thời tiết rét,
mưa thì khả năng thụ phấn kém. Hoặc nếu thời tiết diễn biến thất thường, lúc
nắng to, lúc mưa thì nhãn cũng khó có khả năng đậu quả.
- Đất đai và địa hình: Nguồn gốc đất đai của vùng, thuộc loại đất gì, có bao
nhiêu khu vực khác nhau trong vùng, độ dày tầng đất, thành phần cấu trúc đất,
mực nước ngầm, địa hình độ cao, độ dốc của khu vực trong vùng. Để từ đó
đưa loại cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai của vùng.
Bảng 2.2 Yêu cầu về đất đai để trồng một số loại cây ăn quả
Cây trồng
Yêu cầu về đất để trồng một số loại cây ăn quả
Nhãn
Trồng được trên đất phù sa, đất thịt nhẹ, đất đồi, đất có tầng
dày trên 70cm, tỷ lệ mùn 2%, độ PH 5,5 - 6,5
Vài
Có tính thích ứng rộng, không kén đất, chịu hạn, độ PH từ 5,5
- 6,5. Sườn đồi có tầng đất dày trên 70cm, độ dốc dưới 250.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status