BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
PHẠM THỊ HỒNG GIANG
PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI ONG MẬT Ở HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-----------------------------------------
PHẠM THỊ HỒNG GIANG
PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI ONG MẬT Ở HỘ NÔNG DÂN
HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
tổ chức, cá nhân trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS-TS.
Nguyễn Thị Minh Hiền - người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt
quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện
Nho Quan, phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Nho Quan đã hỗ trợ tôi trong quá
trình tìm hiểu, thu thập, phân tích số liệu, hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa Kinh tế và phát triển nông thôn - Học
viện Nông nghiệp Việt Nam, Bộ môn Phát triển nông thôn đã tận tình giúp đỡ
tôi trong học tập cũng như nghiên cứu để hoàn thành đề tài này.
Hà Nội, ngày
tháng 12 năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hồng Giang
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.2.1
Mục tiêu chung
2
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
2
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2
14
2.1.4
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ.
14
2.2
Cơ sở thực tiễn
19
2.2.1
Kinh nghiệm nuôi ong trên thế giới
19
2.2.2
Kinh nghiệm phát triển nuôi ong của Việt Nam
21
2.2.3
Các nghiên cứu có liên quan đến phát triển nuôi ong.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
3.2
Phương pháp nghiên cứu.
36
3.2.1
Phương pháp thu thập thông tin
36
3.2.2
Các phương pháp phân tích
38
3.2.3
Các chỉ tiêu nghiên cứu
39
Hình thức nuôi và kỹ thật nuôi ong ở hộ
51
4.1.5
Sử dụng đầu vào và tiêu thụ sản phẩm ở hộ nuôi ong
56
4.1.6
Chất lượng sản phẩm
62
4.1.7
Kết quả và hiệu quả trong nuôi ong ở hộ
62
4.1.8
Đánh giá chung về nghề nuôi ong mật ở hộ
67
4.2
Thiếu vốn đầu tư nuôi ong
75
4.2.6
Phân tích SWTO trong phát triển nghề nuôi ong của hộ
75
4.3
Định hướng và các giải pháp phát triển nghề nuôi ong mật
77
4.3.1
Định hướng phát triển nghề nuôi ong mật
77
4.3.2
Giải pháp phát triển nghề nuôi ong
82
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
(2011-2013)
3.2
Trang
31
Diện tích và cơ cấu cây trồng chủ yếu của huyện qua 3 năm
(2011-2013)
33
3.3
Cơ sở hạ tầng của huyện Nho Quan trong giai đoạn 2011– 2013
35
3.4
Số hộ điều tra theo quy mô nuôi ong mật của huyện Nho Quan
37
3.5
Bảng phân tích SWOT
38
49
4.6
Phân nhóm hộ theo quy mô đàn (2011-2013)
50
4.7
Tình hình đầu tư trong nuôi ong của hộ
58
4.9
Chi phí sản xuất của các hộ nuôi ong
63
4.10
Cơ cấu kết quả sản xuất nghề nuôi ong của hộ điều tra
65
4.11
Kết quả và hiệu quả của hộ nuôi ong
Hộp 4.1:Nhân đàn ong như thế nào
53
Hộp 4.2: Chọn ong giống
54
Hộp 4.3: Chăm sóc đàn ong
55
Hộp 4.4: Đầu ra cho sản phẩm
60
Sơ đồ 4.1: Tình hình phân phối sản phẩm của hộ
61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
Hội đồng nhân dân
Thu nhập hỗn hợp
LĐ
Lao động
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Nuôi ong mật là một nghề nông nghiệp đặc biệt có giá trị kinh tế cao bởi
những lợi ích mà ngành nuôi ong mang lại là rất lớn. Nuôi ong không những
tạo ra sinh kế bền vững, là nguồn thu nhập quan trọng cho người nông dân,
mà còn tạo ra việc làm cho nhiều người ở nhiều lứa tuổi khác nhau. Khác với
những ngành chăn nuôi khác (chăn nuôi lợn, gia cầm) cần vốn đầu tư lớn về
chuồng trại, thức ăn, chi phí thú y..., thì ngành chăn nuôi ong lại không cần
vốn đầu tư nhiều, có thể tận dụng được các nguyên vật liệu rẻ tiền, sẵn có để
làm thùng nuôi; không tốn thức ăn vì thức ăn chủ yếu của ong là mật hoa và
phấn hoa của các loại cây trồng tự nhiên do ong tự bay đi lấy về. Các sản
phẩm từ con ong đem lại giá trị dinh dưỡng cao cho con người như mật ong,
phấn hoa, sữa ong chuá, sáp ong, keo ong ...ngoài ra các sản phẩm này còn
xuất thấp. Do đó, việc nghiên cứu phát triển, đánh giá hiệu quả kinh tế, phân
tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nuôi ong mật là rất cần thiết. Chính vì
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Phát triển nghề nuôi ong mật ở
hộ nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, tiềm năng và các nhân tố tác động đến phát triển nuôi
ong mật của huyện nho quan tỉnh Ninh Bình. Từ đó đưa ra một số giải pháp phát
triển nghề nuôi ong cho hộ nông dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nghề nuôi ong mật
của hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi ong ở hộ nông dân huyện Nho
Quan, tỉnh Ninh Bình những năm qua;
- Phân tích yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ nông
dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ngành nuôi ong mật của hộ
nông dân huyện Nho Quan trong những năm tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề kinh tế, quản lý về việc phát triển nghề nuôi
ong mât của huyện Nho Quan.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu chủ yếu về:
an ninh xã hội, đặc biệt là an ninh con người, bảo tồn thiên nhiên,...phát triển
là một tổ hợp các hoạt động, một số mục tiêu xã hội, một số mục tiêu kinh tế,
dựa trên tài nguyên thiên nhiên, vật chất, tí tuệ nhằm phát huy hết khả năng
của con người, được hưởng cuộc sống tốt đẹp hơn.
Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tựu trung lại các ý kiến
đều cho rằng: phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh
thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người. Mục tiêu chung của phát
triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền
tự do công dân của mọi người dân.
2.1.1.2. Khái niệm tăng trưởng và phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được coi là tiền đề cần thiết cho sự phát triển. Tăng
trưởng kinh tế được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản
lượng nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Do vậy, để biểu thị sự tăng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế
tính toàn bộ hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ
trước. Đó là mức phần trăm (%) hay tuyệt đối hàng năm, hay bình quân trong
một giai đoạn.
Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và
chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề
về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vây, phát triển là một
quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết đinh. Nội
dung phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
Một là: sự gia tăng tổng mức thu nhập của nền kinh tế và mức gia tăng
thu nhập bình quân trên một đầu người. Đây là tiêu thức thể hiện quá trình
hiện có. Trong điều kiện hiện nay những nhân tố phát triển theo chiều rộng
đang cạn dần, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới ngaỳ càng phát
triển mạnh với những tiến bộ mới về công nghệ, tin học, khoa học kỹ thuật,
công nghệ sinh học đã thúc đẩy các nước coi trọng chuyển sang phát triển
kinh tế theo chiều sâu được biểu hiện ở các chỉ tiêu: tăng hiệu quả kinh tế,
tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, giảm hàm lượng vật tư và
tăng hàm lượng chất xám, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu suất của
đồng vốn, tăng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo đầu người.
Ở Việt Nam và một số nước chậm phát triển, do điều kiện khách quan có
tính chất đặc thù, kinh tế chậm phát triển, nên phát triển kinh tế theo chiều
rộng vẫn còn đóng vai trò quan trọng. Nhưng để mau chóng khắc phục sự lạc
hậu, đuổi kịp tốc độ phát triển của các nước trên thế giới, trước hết là các
nước trong khu vực, phát triển theo chiều sâu phải được coi trọng và kết hợp
chặt chẽ với phát triển theo chiều rộng trong phạm vi cần thiết và điều kiện
cho phép.
*Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển kinh tế
Có nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến quá trình phát triển kinh tế,
việc nghiên cứu cần thiết phải phân thành hai nhóm với tính chất và nội dung
tác động khác nhau đó là nhân tố kinh tế và nhân tố phi kinh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
- Nhân tố kinh tế
Đây là nhân tố có tác động trực tiếp đến các biến số đầu vào và đầu ra
của nền kinh tế. Có thể biểu hiện mối quan hệ đó bằng hàm số sau:
Y = F (Xi)
Trong đó:
Như vậy để tạo ra sự tăng trưởng và phát triển sản xuất chúng ta không
những chỉ chú ý đến các yếu tố vật chất của sản xuất mà cần quan tâm đến các
thể chế, chính sách, cách tổ chức của người nông dân (hay còn gọi là các yếu
tố phi kinh tế)
2.1.1.3 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là hoạt động đặc trưng của con người và xã hội loài người.
Sản xuất xã hội bao gồm: sản xuất vật chất, sản xuất tinh thần và sản xuất ra
bản thân con người. Ba quá trình đó gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sản
xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trong sản xuất
con người phải đấu tranh với thiên nhiên, tác động lên những vật chất làm
thay đổi những vật chất sẵn có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm và những
của cải vật chất khác phục vụ cuộc sống.
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài
nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ
(đầu ra). Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ
sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giưa đầu vào và đầu ra
bằng một hàm sản xuất:
Q = f(X1, X2,…, Xn)
Trong đó Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định, X1,
X2,…., Xn là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá
trình sản xuất.
Chúng ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm
+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đây là sự biến
đổi lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị
bằng đơn vị riêng của nó. Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là
lớn nhất.
+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đem chia
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả.
- Kinh tế hộ sử dụng sức lao động và nguồn vốn của chủ hộ là chủ yếu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
*) Các yếu tố ảnh hưởng tới kinh tế hộ nông dân
- Đất đai, lao động, vốn
- Kiến thức và kỹ năng của người sử dụng nguồn lực
- Cơ sở hạ tầng của sản xuất
- Biện pháp kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào sản xuất
- Thời tiết, khí hậu
- Chính sách của chính phủ
- Cơ cấu thị trường
2.1.2. Vai trò và đặc điểm của nghề nuôi ong mật
2.1.2.1. Vai trò và ý nghĩa nuôi ong mật
Hầu hết các sản phẩm từ ong mật là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng
cao và làm nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp khác:
+ Mật ong là sản phẩm chính thu được từ ong mật, là sản phẩm dinh
dưỡng, giàu năng lượng, dễ tiêu hóa. Thành phần chủ yếu gồm: đường gluco
và fructo, các chất đạm, enzin, vitamin, các axit hữu cơ, các nguyên tố
khoáng...
Mật ong gồm 3 loại: mật ong đơn hoa, mật ong đa hoa, mật ong dịch lá.
Mật ong đơn hoa: mật ong hoa nhãn, mật ong hoa vải, mật ong hoa
bạch đàn, mật ong hoa táo, mật ong hoa chôm chôm, mật ong hoa bạc hà, mật
ong hoa cỏ lào, mật ong hoa sú vẹt...
Mật ong đa hoa: mật ong vải nhãn; mật ong chôm chôm – cà phê; mật
ong hoa rừng...
thì có thể thu hoạch sau 6- 7 ngày/ lần, mỗi lần trung bình một thùng ong nội
(4 cầu) cho sản lượng từ 3- 4 lít mật, một thùng ong ngoại (9-10 cầu) cho sản
lượng từ 5- 7 lít mật, 5-10g phấn hoa....
Ong mật cho ra nhiều sản phẩm quý đa dạng như mật ong, phấn hoa,
sáp ong, ong giống, nọc ong, sữa ong chúa... Trong đó, mật ong là sản phẩm
chính của nghề nuôi ong, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của nghề
nuôi ong (trên 70%).
Ong mật là loài côn trùng trong tự nhiên, sức sản xuất lớn. Thời gian
sống của ong mật khoảng 2 tháng, sinh sản của ong mật là rất lớn. Một đàn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
ong 4 cầu (vài nghìn con) trong một năm có thể nhân ra thành 12 cầu ong (3
đàn). Do vậy nông hộ có thể tự nhân giống để phát triển đàn ong của mình và
bán cho các hộ khác. Số lượng ong mật và cơ cấu loại ong (ong đực, ong thợ)
có trong đàn phụ thuộc vào sức sinh sản của ong chúa, mùa vụ trong năm.
Cơ sở vật chất kỹ thuật để nuôi ong mật rất đơn giản. Nông hộ có thể
tận dụng các dụng cụ sẵn có của gia đình để làm thùng nuôi ong, chân thùng
ong, khung cầu... đầu tư ban đầu cho nuôi ong mật không lớn như các ngành
chăn nuôi khác phải tốn nhiều chi phí cho đầu tư chuồng trại (như chăn nuôi
lợn) đầu tư nuôi ong mật thì chỉ cần đầu tư 1.000.000 đồng/thùng (nếu quy
mô nhỏ thì chỉ cần 5 thùng).
Các sản phẩm từ ong mật khi thu hoạch không nhất thiết phải qua chế
biến mà vẫn giữ được chất lượng tốt.
Sản phẩm ong từ ong mật không chỉ cung cấp các chất dinh dưỡng,
Vitamin, chữa bệnh mà còn chiết suất thành mỹ phẩm làm đẹp cho con người.
Thành phần của mật ong bao gồm nước (22-23%), đường (chủ yếu là các loại
thời điểm, vị trí đặt tổ, đõ ong...
- Đặc điểm tiêu thụ
+ Sản phẩm từ ong mật là sản phẩm của thiên nhiên, có thể tiêu dùng
trực tiếp không nhất thiết phải chế biến. Do đó, có thể bán trực tiếp cho người
tiêu dùng, có thể bán làm nguyên liệu cho các cơ sở sản xuất các sản phẩm
khác như mỹ phẩm (làm mỹ phẩm chăm sóc sắc đẹp), thuốc chữa bệnh...
- Kênh tiêu thụ:
+ Sản phẩm để tiêu dùng phần lớn là trao đổi trực tiếp giữa người nuôi
ong và người sử dụng. Do đặc thù của sản phẩm, giá cả và tính phổ biến, chủ
yếu tiêu thụ qua kênh trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng..
+ Sản phẩm được các trung gian hay các công ty ong thu mua sau đó
bán cho người tiêu dùng hoặc xuất khẩu sang thị trường thế giới. Hiện nay, ở
một số vùng sản xuất với số lượng lớn (sản xuất hàng hoá) như Tây Nguyên,
các tỉnh phía Nam... thường bán cho các trung gian thu gom. Các trung gian
này thu mua mật sau đó về đóng thành các chai thuỷ tinh bán cho người tiêu
dùng và xuất khẩu sang một số nước như Mỹ, Nhật,...
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
2.1.3. Nội dung của phát triển nghề nuôi ong mật ở hộ .
Phát triển nghề nuôi ong mật được hiểu là:
- Quá trình tăng lên về quy mô đàn ong: tăng số hộ nuôi ong, tăng
số thùng ong, tăng số cầu ong trong một đàn, tăng số lượng ong thợ trong
một đàn,...
- Tăng năng suất, sản lượng sản phẩm từ ong mật
- Quá trình thay đổi cơ cấu loại ong mật : giống ong, quy mô nuôi
(HTX, trang trại,...),...
chuồn chuồn, ngài đầu lâu, ruồi ký sinh, chim... Do đó, trong chăn nuôi ong
cần phải có các biện pháp phòng ngừa để đảm bảo duy trì và phát triển số
lượng ong mật trong đàn - duy trì và tăng năng suất mật ong [5, tr69].
b) Nhóm nhân tố về tổ chức và kỹ thuật
* Yếu tố về tổ chức quản lý ong:
- Do điều kiện thời tiết, khí hậu Miền bắc có sự phân biệt rõ ràng giữa
các mùa, mỗi mùa mang một đặc trưng riêng nên trong phát triển nuôi ong
cần phải chú trọng công tác quản lý theo mùa vụ nhằm tăng số lượng đàn,
năng suất, sản lượng.
+ Đối với vụ xuân - hè:
Đặc điểm thời tiết và nguồn hoa xuân hè: vụ xuân hè tương ứng với
thời kỳ sau tết âm lịch, nguồn hoa rất phong phú. Vùng đồng bằng trung du có
vải chua, vải thiều, nhãn (vụ xuân), đay, bạch đàn, liễu, sú vẹt (vụ hè). Các
tỉnh miền núi có hoa muộn hơn và tháng 2 vẫn ít hoa, sau đó có 2 vụ hoa
rừng: vụ 1 vào tháng 3-4, vụ 2 vào tháng 5-6 (chủ yếu là sài đất). Ngoài vụ
xuân – hè còn có nhiều cây nguồn mật phụ quan trọng như cam, quýt, bạch
đàn trắng, cà phê, cao su, keo lá tràm.... Khí hậu, thời tiết tương đối thuận lợi
cho việc nhân đàn, tạo chúa tốt nhằm phát triển đàn ong.
Khôi phục đàn ong đầu vụ: vụ đông trời rét ong đẻ kém, thế đàn sa sút,
nhiều năm rét đậm kéo dài đàn ong chỉ có vài cầu, tuy vậy người nuôi ong
dựa vào nguồn hoa đầu vụ xuân để củng cố đàn ong bằng việc chuyển đàn
ong đến vùng có mật và phấn hoa điều chỉnh, thêm cầu mới, kích thích ong
chúa đẻ nhiều để tăng số lượng ong trong đàn và nhân đàn.
Thay chúa: đối với vụ này người nuôi ong thường thay ong chúa mới
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
để điều khiển đàn ong và đẻ nhiều. Chúa mới có thể đẻ gần 1000 trứng một