BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
TRẦN LỆ XUÂN
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TẠI LÀNG NGHỀ KHÚC TOẠI,
XÃ KHÚC XUYÊN, THÀNH PHỐ BẮC NINH,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
TRẦN LỆ XUÂN
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình
của nhiều cá nhân, tập thể trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo khoa Kế
toán và Quản trị kinh doanh Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt
cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường, đặc biệt
tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Hữu Ảnh và các thầy cô
trong Bộ môn Tài chính đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thiện
luận văn này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo các sở, ban ngành, giám đốc
các công ty, chủ các cơ sở sản xuất trong làng nghề Khúc Toại đã tận tình
cung cấp tài liệu, giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra số liệu phục vụ nghiên
cứu luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, những người thân,
bạn bè, các anh chị cùng khóa CH QTKD K21 đã giúp đỡ và động viên tôi
trong suốt quá trình học tập và rèn luyện.
Do thời gian có hạn, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cũng như toàn thể bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn !
Người thực hiện luận văn
Trần Lệ Xuân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
3
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
2.2.2 Kinh nghiệm và bài học thực tiễn
36
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
48
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
48
3.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển làng nghề Khúc Toại
48
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
49
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội – môi trường
50
3.2
58
Thông tin cơ bản và thực trạng sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản
xuất tại làng nghề
65
4.1.1 Loại hình kinh doanh của các cơ sở sản xuất
65
4.1.2 Một số thông tin về các cơ sở sản xuất
66
4.1.3 Những nguồn lực chính của các cơ sở sản xuất
68
4.1.4 Kết quả sản xuất một số sản phẩm chủ yếu của các cơ sở
74
4.1.5 Tình hình tiêu thụ sản phẩm tại làng nghề
78
4.2
82
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
112
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
114
PHỤ LỤC
116
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Khúc Xuyên 2011-2013
Trang
51
Bảng 3.2 Tình hình biến động dân số và lao động của xã Khúc
Xuyên 2011-2013
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh doanh theo quy mô nguồn vốn của các cơ sở
83
86
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh doanh theo mức độ sử dụng lao động của
các cơ sở sản xuất tại làng nghề
89
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh doanh theo mức đầu tư vào máy móc, thiết bị
của các cơ sở sản xuất tại làng nghề
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
93
Page v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
STT
Tên biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Thị trường xuất khẩu của hàng gỗ mỹ nghệ Việt Nam
Trang
47
Bình quân chung
2
CC
Cơ cấu
3
CH QTKD K21
Cao học Quản trị kinh doanh khóa 21
4
CN – TTCN
Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp
5
CNH – HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
6
DT
Làng nghề
12
LNTT
Làng nghề truyền thống
13
NCS
Nghiên cứu sinh
14
NDT
Nhân dân tệ
15
NN
Nông nghiệp
16
NTTS
Thành phố
22
TS
Tiến sĩ
23
UBND
Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì một trong
những vấn đề nóng bỏng cần được quan tâm lớn ở Việt Nam cũng như các
nước đang phát triển khác trên thế giới là công nghiệp hóa kinh tế nông thôn.
Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ trên đòi hỏi phải thu hút được nguồn vốn
đầu tư, tiếp cận được những tiến bộ khoa học công nghệ, giải quyết việc làm...
Do ở nước ta hiện nay hơn 70% dân số ở nông thôn, trong quá trình ưu tiên
phát triển công nghệ thì cần phải chú trọng phát triển công nghiệp làng nghề,
đặc biệt là sự có mặt của các khu công nghiệp. Qua một thời gian dài kiểm
chứng thực tế cho thấy rằng bên cạnh các khu công nghiệp tập trung, thì các
đó là “Đồ gỗ làng Chọi” mà nhiều vùng biết tới. Việc sản xuất, kinh doanh đồ
gỗ nội thất đã giúp cải thiện đời sống của người dân nơi đây một cách đáng
kể, bộ mặt làng nghề dần dần được thay đổi. Bên cạnh đó vẫn tồn tại rất nhiều
vấn đề trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các cơ sở sản xuất đó là
sản xuất quy mô nhỏ lẻ, phân tán rải rác; Thiếu cơ sở trưng bày, giới thiệu sản
phẩm nên chưa tạo nên sức cạnh tranh trên thị trường; Khả năng đầu tư cho
máy móc thiết bị vào sản xuất còn thấp dẫn đến chất lượng sản phẩm và năng
suất lao động chưa thực sự cao. Tất cả những điều đó dẫn đến thị trường tiêu
thụ sản phẩm của làng nghề còn hạn hẹp, sức sản xuất kém, hiệu quả kinh
doanh chưa cao.
Nhiều câu hỏi đặt ra và cần có hướng giải quyết như: Thực trạng hiệu
quả kinh doanh của các cơ sở ở làng nghề trong những năm qua như thế nào?
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các cơ sở sản xuất, phát triển làng nghề
một cách bền vững thì cần có những giải pháp nào?
Xuất phát từ những lý do thực tiễn trên tôi đã lựa chọn và thực hiện
nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các cơ sở
sản xuất tại làng nghề Khúc Toại, xã Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh,
tỉnh Bắc Ninh”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1
Mục tiêu chung
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu thực trạng hiệu
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số lý luận chung về làng nghề và hiệu quả kinh doanh
2.1.1.1 Khái niệm và phân loại làng nghề
a, Khái niệm làng nghề
Từ lịch sử phát triển lâu đời, Việt Nam vốn là đất nước của nông
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Khi điều kiện đất nước còn khó khăn, người
dân còn nghèo khổ, thì người nông dân đều phải tự làm hầu hết các sản phẩm
sử dụng hàng ngày với cách chế tác thủ công đơn giản như dệt vải, làm mộc,
rèn đúc kim loại, làm đồ gốm, đan mây tre... Đó là những việc làm lúc nông
nhàn của người dân và trở thành việc làm thường xuyên của một số hộ, dần
dần trở thành nghề phụ gắn bó mật thiết với đời sống của người dân nghèo.
Làng nghề xuất hiện và phát triển từ đó.
Làng nghề là một thiết chế gồm 2 yếu tố cấu thành là “làng” và “nghề”.
Xã hội nông thôn Việt Nam từ xưa tới nay, làng là một tế bào xã hội người
Việt. Nó là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng. Đó là một
địa vực, một không gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân cư
quần tụ lại cùng sinh sống và sản xuất. Sự khái quát chung về ruộng đất, việc
xây dựng những công trình trị thuỷ và thuỷ lợi nhỏ ở thời kỳ đầu đã gắn bó
những người không cùng huyết thống là một không gian xã hội ổn định.
Trong làng chồng xếp nhiều mối quan hệ kinh tế - xã hội – nhân văn phong
phú, phức tạp, như huyết thống, láng giềng, nghề nghiệp, hôn nhân, tín
ngưỡng và hợp tác v.v... (Dương Bá Phượng, 2001).
Sự xuất hiện các ngành nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là
ngành nghề phụ trong các gia đình tiểu nông, chủ yếu được tiến hành trong
những lúc “nông nhàn”. Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các ngành
nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
Cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về “Làng nghề”.
Trong cuốn “Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình Công nghiệp
hóa- Hiện đại hóa”, Mai Thế Hởn (2000) có viết: “Xung quanh vấn đề về các
quan điểm như thế nào là một làng nghề có rất nhiều cách khác nhau. Tuy
nhiên tựu chung lại có 3 quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất:
Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làng đều hoạt động cho nghề
ấy và nó là nghề sống chủ yếu.
Quan điểm thứ hai:
Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, nhưng không nhất thiết
toàn bộ dân làng đều làm nghề thủ công. Người thợ thủ công nhiều khi cũng
làm nghề nông nhưng do chuyên môn họ chuyển sang sản xuất thủ công ngay
tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác.
Quan điểm thứ ba:
Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và
nhiều hộ gia đình chuyên môn làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết
hỗ trợ trong sản xuất bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống
doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng có tổ nghề.”
Tuy nhiên, quan điểm như vậy xét trong điều kiện ngày nay là chưa đầy
đủ tính chất của làng nghề, nó không chỉ tồn tại và phát triển như một thực thể
sản xuất kinh doanh một cách lâu đời trong lịch sử mà nó có tác dụng to lớn
đối với đời sống văn hóa tinh thần đối với người dân.
Theo Trần Quốc Vượng (1996) thì “làng nghề (như làng gốm Bát
Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh..., làng đồng Bưởi, Vó, Hè Nôm,
Thiệu Lý, Phước Kiều..., làng giấy vùng Bưởi, Dương Ổ..., làng rèn sắt Canh
nghề thủ công duy nhất chiếm ưu thế tuyệt đối như the La Cả, lụa Vạn Phúc,
gốm Bát Tràng, chạm bạc Đồng Xâm, thêu Quất Động...
- Làng nhiều nghề: là những làng ngoài nghề nông còn có một số nghề
thủ công nghiệp như Ninh Hiệp, Kiêu Kỵ, Trai Trang, Đình Bảng...
- Làng nghề truyền thống: là những thôn (làng) có một hay nhiều nghề
thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ
công được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ nối tiếp
nhau. Cùng với sự thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này thường
là nổi trội, một nghề cổ truyền tinh xảo, một tầng lớp thợ thủ công chuyên
nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất có quy trình sản xuất
nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính nghệ thuật
và giá trị hiện trường (Mai Thế Hởn, 2000).
- Làng nghề mới: là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển
của nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của các nghề truyền thống, có những
điều kiện thuận lợi và phát triển.
Không phải bất kỳ làng nào có hoạt động ngành nghề cũng được gọi là
làng nghề mặc dù làng nào, nghề nào cũng mang bản sắc, mang nét tinh túy
riêng, mà chỉ có những nghề có khả năng đem lại cuộc sống no ấm, thu hút
được đông đảo người dân tham gia sản xuất, lâu dần tụ thành các làng cùng
sản xuất, cùng kinh doanh mới được coi là các làng nghề. Hiện nay, Chính
phủ cũng như các địa phương đã quy định các tiêu chí công nhận làng nghề để
tiện cho việc quản lý và phát triển. Các quy định này đã cụ thể hóa các tiêu
chuẩn xây dựng, phát triển ngành nghề, làng nghề, nghề cổ truyền và nghề
mới trong sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, góp phần giải quyết
Năm 1999, UBND tỉnh Bắc Ninh đã có quyết định số 1492/199/QĐUB Quy định tạm thời về Tiêu chuẩn công nhận nghề truyền thống, làng
nghề, làng nghề truyền thống. Về cơ bản tiêu chuẩn công nhận mà UBND
tỉnh Bắc Ninh đưa ra giống so với Thông Tư mà Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đưa ra, tuy nhiên tỉnh có đưa thêm quy định khác trong tiêu
chí công nhận làng nghề như sau:
- Số hộ hoặc lao động làm nghề CN-TTCN ở làng đạt 50% trở lên so
với tổng số hộ hoặc lao động trong làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ CN-TTCN ở làng chiếm tỷ trọng trên
50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm. Đảm bảo vệ
sinh môi trường theo quy định hiện hành.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
- Có hình thức tổ chức phù hợp chịu sự quản lý của chính quyền địa
phương, gắn với mục tiêu kinh tế- xã hội và làng văn hóa của địa phương.
- Các tiêu chuẩn của làng được ổn định và đạt từ ba năm trở lên.
Tên nghề của làng phải được gắn với tên làng: Nếu là làng nghề truyền
thống, cổ truyền còn tồn tại và phát triển thì lấy nghề đó đặt tên cho nghề của
làng. Nếu làng có nhiều nghề phát triển, sản phẩm nghề nào nổi tiếng nhất thì
lấy nghề đó đặt tên nghề của làng, hoặc trong làng có nhiều nghề không phải
LNTT hay chưa có sản phẩm nghề nào nổi tiếng thì tên nghề của làng do nhân
dân bàn bạc thống nhất và chính quyền địa phương xem xét đề nghị.
2.1.1.2 Lý luận về hiệu quả kinh doanh
a, Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt
động trong nền kinh tế thị trường, với các cơ chế quản lý khác nhau, nhưng
trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác
Thực chất của quan niệm này là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu
quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội. Việc phân bổ và sử dụng các
nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền
kinh tế có hiệu quả cao. Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là
cao nhất, là lý tưởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa.
- Hai tác giả Wohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh
tế. Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính
bằng đơn vị giá trị. Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau:
"Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và
lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu…)
được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật", "Mối quan hệ tỷ
lệ giữa chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí
kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị" và
"để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa
sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền". Khái niệm
hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính là năng suất lao động,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là
hiệu quả hoạt động quản trị chi phí (Lê Thanh Tùng, 2013).
- Theo các tác giả khác:
Có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ
giữa tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí. Các quan điểm này
mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ
phần tham gia vào quy trình kinh tế.
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số
hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Hai khái niệm này nhiều
khi người ta hiểu như là một, thực ra chúng có điểm riêng biệt khá lớn. Ta có thể
hiểu kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì
doanh nghiệp đã đạt được sau một quá trình hoạt động mà họ bỏ công sức, tiền, của
vào. Kết quả đạt được hay không đạt được nó phản ánh đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, mục tiêu của doanh nghiệp đề ra chính là kết quả mà họ
cần đạt được. Kết quả đạt được có thể là đại lượng cân đo đong đếm được như số
sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, khối lượng sản xuất ra, doanh thu bán hàng, lợi nhuận,
thị phần... Và cũng có thể là những đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn
toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm. Còn khái
niệm về hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thì sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết
quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Chi phí đầu vào càng nhỏ, đầu ra càng lớn, chất lượng tốt thì chứng tỏ hiệu quả kinh
tế cao. Cả 2 chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể đo bằng thước đo hiện vật và
thước đo giá trị. Trong thực tế vấn đề đặt ra là hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu
quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng chính là mục tiêu hay
phương tiện kinh doanh. Nhưng đôi khi người ta có thể sử dụng hiệu quả là mục
tiêu mà họ cần đạt, trong trường hợp khác chúng ta lại sử dụng chúng như công cụ
để nhận biết "khả năng" tiến tới mục tiêu mà ta cần đạt đó chính là kết quả (Lê
Thanh Tùng, 2013).
c, Phân loại hiệu quả kinh doanh
Có nhiều cách phân loại hiệu quả kinh doanh khác nhau, tùy vào từng
tiêu chí mà ta có các cách phân loại hiệu quả kinh doanh như sau:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Hiệu quả kinh doanh cá biệt và hiệu quả kinh tế - xã hội của nền kinh
tế quốc dân.
Hiệu quả chi phí bộ phận và hiệu quả chi phí tổng hợp.
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn liền với môi trường
kinh doanh của nó nhằm giải quyết những vấn đề then chốt trong kinh doanh
như: Kinh doanh cái gì? Kinh doanh cho ai? Kinh doanh như thế nào và chi
phí bao nhiêu?...
Mỗi doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình trong
những điều kiện riêng về tài nguyên, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ
tổ chức, quản lý lao động, quản lý kinh doanh mà Paul Samuelson,1948 gọi
đó là "hộp đen" kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Bằng khả năng của mình
họ cung ứng cho xã hội những sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định và nhà
kinh doanh nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với số lượng nhiều
nhất. Tuy nhiên, thị trường hoạt động theo quy luật riêng của nó và mọi doanh
nghiệp khi tham gia vào thị trường là phải chấp nhận “luật chơi” đó. Một
trong những quy luật thị trường tác động rõ nét nhất đến các chủ thể của nền
kinh tế là quy luật giá trị. Thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí trung bình xã
hội cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá sản phẩm. Quy luật giá trị đã
đặt tất cả các doanh nghiệp với mức chi phí cá biệt khác nhau trên một mặt
bằng trao đổi chung, đó là giá cả thị trường.
Suy đến cùng, chi phí bỏ ra là chi phí lao động xã hội, nhưng đối với
mỗi doanh nghiệp mà ta đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thì chi phí
lao động xã hội đó lại được thể hiện dưới các dạng chi phí khác nhau: giá
thành sản xuất, chi phí sản xuất. Bản thân mỗi loại chi phí này lại được phân
chia một cánh tỷ mỷ hơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể
không đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại chi phí trên, đồng thời cần
thiết phải đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí hay nói cánh khác là đánh
giá hiệu quả của chi phí bộ phận.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 16