PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ.
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ngoài quyết định đầu tư và quyết định tài trợ, quyết định chi trả cổ tức là một
trong 3 quyết định cơ bản của tài chính doanh nghiệp nhằm mục đích nhất quán là tối
đa hóa giá trị của doanh nghiệp và lợi ích cổ đông. Tuy nhiên hiện nay, các công ty cổ
phần hầu như chưa nắm rõ hết tầm quan trọng của chính sách cổ tức trong vấn đề gia
tăng giá trị của doanh nghiệp. Có một thực tế hiện nay đó là việc chi trả cổ tức tại các
doanh nghiệp nói chung và tại các ngân hàng cổ phần nói riêng tại Việt Nam hiện nay
chưa mang một tầm vóc chiến lược lâu dài mà chỉ là một hành động còn nặng về tính
chất đối phó và phục vụ mục đích trước mắt là trên hết. Hơn thế nữa, các nghiên cứu
thực tiễn và lý thuyết đã chỉ ra rằng chính sách cổ tức tại các doanh nghiệp đều chịu sự
ảnh hưởng lớn của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan khác nhau. Do đó, việc
nghiên cứu chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng này và nhận định được những ưu
khuyết điểm trong chính sách cổ tức của doanh nghiệp nhằm bước cuối cùng là xây
dựng được một chính sách cổ tức hợp lý nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp và
cổ đông là một việc làm hết sức cần thiết.
Nhìn nhận ở một khía cạnh khác, ta có thể thấy rằng mặc dù từ sau khi lý thuyết
lý thuyết chính sách cổ tức không tương thích của Merton Miller và Franco Mogliani
ra đời năm 1958 đến nay đã có thêm rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chủ
đề những yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp nói chung và
ngành ngân hàng nói riêng, nhưng nhìn chung các công trình này đều vấp phải hai
khuyết điểm. Thứ nhất, các công trình này vẫn chưa nhận được sự thừa nhận rộng rãi
khi được áp dụng vào từng ngành và từng doanh nghiệp cụ thể. Thứ hai, rất thiếu các
công trình nghiên cứu chính sách cổ tức của các doanh nghiệp tại các nước đang phát
triển và các thị trường mới nổi còn non trẻ như thị trường chứng khoán Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do trên cộng với việc do năng lực nghiên cứu và thời
gian nghiên cứu có những hạn chế nhất định nên em đã quyết định sẽ chọn đề tài “
Nghiên cứu những nhân tố tác động đến chính sách cổ tức của ngân hàng cổ phần
Á Châu (ACB)”. Tuy nhiên, em hy vọng đề tài này sẽ là một bước đệm cơ bản để sau
này có thể mở rộng thêm nhằm nghiên cứu sâu hơn về chủ đề chính sách cổ tức không
chỉ tại một ngân hàng mà có thể là cả toàn ngành ngân hàng và xa hơn nữa là tất cả các
hưởng đến chính sách cổ tức của ngân hàng TMCP Á Châu, mã chứng khoán ACB
hiện đang niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội HNX.
Thời gian: Đề tài này được thực hiện dựa trên tất cả các số liệu và văn bản cung
cấp mà ACB cung cấp từ năm 2006 đến năm 2010 1 cho tất cả các cổ đông, số liệu này
hiện tồn tại trên trang web www.acb.com.vn – trang web chính thức của ngân hàng
TMCP Á Châu (ACB)2
5. Phương pháp nghiên cứu.
- Thu thập số liệu và phân tích: Số liệu trong bài khóa luận được thu thập dựa
trên những số liệu và văn bản mà ACB cung cấp trên trang web chính thức của ngân
hàng này và một số số liệu tham khảo khác được lấy từ các bài báo trên các trang web
tài chính khác3. Từ đó xử lý để có các bảng biểu so sánh
1
Do năm 2011 ngân hàng ACB mới chỉ tạm ứng cổ tức đợt 1 mà chưa ứng cổ tức đợt 2 nên bài khóa luận này
chỉ đề cập sơ qua về cổ tức tạm ứng đợt 1 năm 2011 mà chưa đi sâu vào nghiên cứu, bởi việc nghiên cứu một
mức cổ tức chưa đầy đủ trong năm 2011 có thể dẫn đến những nhận định sai lệch về bản chất chính sách cổ
tức của ngân hàng này
2
Tất cả các số liệu và văn bản này đều có chữ ký của tổng giám đốc, kế toán trưởng hoặc chủ tịch hội đồng quản
trị của ngân hàng ACB, ngoài ra còn có con dấu xác nhận của ngân hàng ACB tại cả hội sở và cả chi nhánh Huế
xác nhận
3
Danh sách các trang web này xin xem ở phần trích dẫn nguồn tài liệu
2
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
1.1. TỒNG QUAN VỀ CỔ TỨC
1.1.1. Lợi nhuận và cổ tức của công ty cổ phần
1.1.1.1. Khái niệm lợi nhuận
Mục đích cơ bản của bất kỳ công việc kinh doanh nào là tạo ra lợi nhuận cho
chủ sở hữu. Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá
hiệu quả kinh tế.
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí doanh nghiệp bỏ ra để
sản xuất kinh doanh, tạo ra doanh thu đó. Khi công việc kinh doanh của công ty tạo ra
lợi nhuận, lợi nhuận được phân phối như sau:
- Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo luật định
- Chia lãi cho các đối tác góp vốn theo hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Trích lập các quỹ chuyên dùng cho doanh nghiệp như quỹ dự phòng tài chính,
quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khen thưởng, quỹ phúc
lợi...
- Giữ lại để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Chia cho các cổ đông.
1.1.1.2. Khái niệm cổ tức
Bất cứ sự thanh toán trực tiếp nào của doanh nghiệp cho các cổ đông đều được
coi là chính sách cổ tức. Thông thường trả cổ tức được hiểu là sự chi trả, phân phối từ
phần vốn lợi nhuận của doanh nghiệp cổ phần cho các cổ đông của doanh nghiệp. Cổ
tức là phần lợi tức mà cổ đông nhận được từ phần lợi nhuận có được từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp do cổ đông góp vốn.
Cổ tức được tính chủ yếu trên cơ sở lợi nhuận chưa sử dụng đến của doanh
nghiệp cũng như viễn cảnh kinh doanh của doanh nghiệp trong những năm tiếp theo.
Sau khi đã được đề xuất bởi hội đồng quản trị và ban kiểm soát trước đại hội cổ đông
hàng năm, cổ tức sẽ được thông báo cho các cổ đông, là lượng tiền mặt họ nhận được
tính theo số cổ phiếu sỡ hữu hay phần trăm trong lợi nhuận của doanh nghiệp.
Mọi cổ phiếu của cùng một loại có cổ tức như nhau như cổ tức của cổ phiếu
phổ thông hay cổ tức cổ phiếu ưu đãi. Sau khi được thông báo cổ tức trở thành khoản
của doanh nghiệp giảm xuống. Trong khi đó tách cổ phiếu làm giảm mệnh giá mỗi cổ
phần.
1.1.2.3. Cổ tức trả bằng tài sản
5
Doanh nghiệp trả cổ tức cho cổ đông bằng thành phẩm, hàng bán, bất động sản
hay cổ phiếu của công ty khác do doanh nghiệp sở hữu. Hình thức này rất hiếm xảy ra
trong thực tiễn.
1.1.3. Đo lường chính sách cổ tức
1.1.3.1. Đo lường chính sách cổ tức tại Việt Nam
Hiện nay mức cổ tức mà một doanh nghiệp chi trả được đo lường tại Việt Nam
hoàn toàn khác với cách đo lường trên thế giới.
Tại Việt Nam, nếu một công ty công bố mức chi trả cổ tức là 15% một năm,
nghĩa là số tiền mà cổ đông nhận được mỗi năm từ cổ tức sẽ là 15%*mệnh giá cổ
phiếu. Như vậy, nếu một doanh nghiệp có cổ phiếu mệnh giá 10.000đ, thì mức cổ tức
mà cổ đông đó nhận được sẽ là : 15%*10.000đ = 1.500đ.
Đây là một phương pháp đo lường hoàn toàn khác biệt đối với các nước khác
trên thế giới, bởi trong hầu hết các đề tài, khóa luận trước đây về chính sách cổ tức,
các tác giả khi đề cập đến việc đo lường chính sách cổ tức đã không lưu ý đến phương
pháp tính toán này mà chỉ đưa vào đề tài những phương pháp tính toán tỷ suất cổ tức
mà thế giới đang áp dụng.
1.1.3.2 Đo lường chính sách cổ tức trên thế giới
Theo thông lệ, việc đo lường chính sách cổ tức của các công ty cổ phần được
thực hiện thông qua tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức.
a, Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức : là một tỷ số phản ánh công ty trả cổ tức bao
nhiêu phần cho cổ đông từ lợi nhuận sau thuế.
Cách tính: Tỷ lệ lợi nhuận trả cổ tức = Cổ tức / Thu nhập ròng (cùng thời kỳ)
Ví dụ cách tính: Bảng lưu chuyển tiền tệ của Coca-Cola năm 2003 cho thấy
được là $5.500. Một nhà đầu tư quan tâm thu nhập cổ tức mà không quan tâm thu nhập
lãi vốn thì sẽ lựa chọn cổ phiếu thứ 2.
Kết luận: Riêng trong khóa luận này, khi tôi nói đến mức cổ tức của Ngân hàng
TMCP Á Châu (ACB) thì sẽ sử dụng khái niệm đo lường chính sách cổ tức tại Việt
Nam, ngoài ra, trong khóa luận này cũng chỉ đề cập đến mức cổ tức mà ACB chi trả
trong tương quan với lợi nhuận sau thuế của ngân hàng này. Mặc dù sử dụng khái
niệm tỷ suất cổ tức để đo lường chính sách cổ tức của doanh nghiệp là một phương
pháp rất tốt, tuy nhiên do sự phức tạp khi tính toán mức giá cổ phiếu của ACB tại thời
điểm chi trả ( hay là tại thời điểm công bố mức cổ tức, hay là tại thời điểm thống nhất
mức cổ tức của đại hội đồng cổ đông) nên tôi sẽ bỏ qua việc sử dụng khái niệm này
khi phân tích mức cổ tức của ACB chi trả hàng đợt.
1.1.4. Các chính sách chi trả cổ tức
1.1.4.1 Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
7
Chính sách này xác nhận rằng một doanh nghiệp nên giữ lại lợi nhuận khi
doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi
mong đợi mà các cổ đông đòi hỏi.
Ngoài ra, nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là các công ty
“tăng trưởng” thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các công ty đang trong giai đoạn
sung mãn (bão hòa). Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động ngụ ý việc
chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này sang năm khác tùy thuộc
vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp thường cố gắng duy
trì một mức cổ tức ổn định theo thời gian. Điều này không có nghĩa là các doanh
nghiệp đã bỏ qua nguyên lý về chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động, mà bởi vì cổ tức
có thể được duy trì ổn định hàng năm theo hai cách:
Thứ nhất, doanh nghiệp có thể giữ lại lợi nhuận với tỷ lệ khá cao trong những
năm có nhu cầu vốn cao. Nếu đơn vị tiếp tục tăng trưởng, các giám đốc có thể tiếp tục
chuyển ra khỏi doanh nghiệp. Do đó, nếu phải trả cổ tức trong khi thực tế các công ty
niêm yết lại đang rất cần vốn, công ty có thể thông qua đại hội đồng cổ đông để trả cổ
tức bằng cổ phiếu thay cho tiền mặt. Bản thân cổ đông cũng sẽ được hưởng lợi ích cho
dù không nhận cổ tức bằng tiền, vì khoản lợi nhuận giữ lại đó để tái đầu tư sẽ góp
phần làm gia tăng các giá trị nội tại của doanh nghiệp, và từ đó sẽ làm tăng giá cổ
phiếu trong tương lai. Tuy nhiên, việc chi trả cổ tức bằng cổ phiếu được các chuyên
gia khuyến nghị nên áp dụng cho những doanh nghiệp đang làm ăn tốt và có thị giá cổ
phiếu cao.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam thích chi trả cổ tức theo mệnh giá
hơn là chi trà cổ tức theo EPS. Vì trên thực tế nếu chi trả theo mệnh giá sẽ mang lại
một mức độ an toàn nhất định cho cổ đông với số cổ phiếu cùng với mệnh giá họ đang
nắm giữ. Đối với hình thức chi trả theo thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) còn phải phụ
thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp mà được
hưởng cổ tức như thế nào. Với tâm lý của người phương Đông ắt hẳn các doanh
nghiệp Việt Nam sẽ chuộng phương thức chi trả mà mình đang đứng ở vị trí an toàn
hơn.
Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích chính sách cổ tức tương đối ổn
định. Tính ổn định được đặc trưng bằng một sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền
mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang kỳ khác. Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức
cũng thường bị trì hoãn cho đến khi các giám đốc tài chính công bố rằng các khoản lợi
nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn. Như vậy, tỷ lệ cổ
tức có khuynh hướng đi theo sau một gia tăng trong lợi nhuận và đồng thời cũng
thường trì hoãn lại trong một chừng mực nào đó.
9
Ưu điểm:
- Tăng giá cổ phiếu công ty trên thị trường, tạo tâm lý tốt cho nhà đầu tư.
- Ổn định thành phần cổ đông của công ty tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản
lý công ty (chi phí đại diện ít)
chi trả cổ tức, việc tiếp theo mà Đại hội đồng cổ đông cũng như các nhà quản lý doanh
nghiệp phải cân nhắc đó là: lựa chọn phương thức chi trả cổ tức.
11
1.1.5. Các lý thuyết về vấn đề cổ tức liên quan đến khóa luận
Chính sách cổ tức và các vấn đề có liên quan đã được nhiều nhà kinh tế đề cập
đến.
Vấn đề thường gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học là việc chính sách cổ tức
có ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của doanh nghiệp.
Hiện nay có 3 quan điểm trái ngược nhau về chính sách cổ tức trên thế giới 4.
Quan điểm thứ nhất cho rằng sự gia tăng chi trả cổ tức sẽ gia tăng giá trị doanh nghiệp,
đây là quan điểm của trường phái hữu khuynh bảo thủ. Quan điểm của nhóm tả
khuynh cấp tiến thì lại cho rằng một chính sách chi trả cổ tức cao sẽ có ảnh hưởng tiêu
cực đến giá trị doanh nghiệp, hay nói cách khác, trả cổ tức sẽ làm giảm giá trị doanh
nghiệp. Quan điểm thứ 3 của trường phái trung dung thì cho rằng Cả ba quan điểm này
đều được cụ thể hóa dưới 3 lý thuyết về chính sách cổ tức rất nổi tiếng, đó là: lý thuyết
cổ tức cao sẽ gia tăng giá trị doanh nghiệp ( hay còn được gọi là lý thuyết “bird-in-thehand”- con chim trong bàn tay), cổ tức thấp sẽ gia tăng giá trị doanh nghiệp ( hay còn
gọi là lý thuyết tax-preference – lý thuyết ưu tiên thuế), và lý thuyết cổ tức không tác
động giá trị doanh nghiệp mà tiên phong là công trình nghiên cứu của Miller và
Mogliani (M&M). Nội dung của cả 3 lý thuyết này sẽ dần được trình bày ở dưới đây.
1.1.5.1. Lý thuyết của Miller và Modiglani (M&M): Chính sách cổ tức không tác
động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường hoàn hảo
M&M xây dựng lý thuyết của mình trong điều kiện thị trường vốn hoàn hảo và
nhà đầu tư có hiểu biết.
Thị trường vốn hoàn hảo giả định rằng chi phí thông tin không đáng kể và
thông tin đến với mọi người như nhau; không có sự sai lệch trong vấn đề thuế; không
có chi phí giao dịch, chi phí ký kết hợp đồng, chi phí môi giới trung gian; không có sự
1.1.5.2. Lý thuyết con chim trong bàn tay: Ưu tiên chi trả cổ tức5
Quan điểm của lý thuyết cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp của
MM đó là chính sách cổ tức không tác động đến tỷ suất sinh lợi yêu cầu của vốn chủ
sở hữu, rs. Kết luận này đã vấp phải sự tranh cãi quyết liệt của một nhóm các nhà
nghiên cứu khác. Trong đó, nổi bật nhất là Myron Gordon và John Litner, khi hai ông
này cho rằng rs sẽ giảm xuống nếu như mức cổ tức chi trả tăng lên bởi vì: trong khi
mức lợi nhuận sinh ra trong tương lai nhờ có thu nhập giữ lại là một vấn đề không
chắc chắn thì mức cổ tức mà họ nhận được hôm nay rõ ràng là một điều rất chắc chắn.
Hay nói cách khác, Gordon và Litner cho rằng, các nhà đầu tư chắc chắn đánh giá một
đô la từ cổ tức nhận được hôm nay có giá trị hơn hẳn so với với một dollar từ lợi
nhuận trong tương lai sinh ra từ thu nhập giữ lại, bởi vì cổ tức hôm nay ít rủi ro hơn
hẳn so với phần lợi nhuận tương lai sinh ra từ thu nhập giữ lại.
Tuy nhiên MM đã bác bỏ ý kiến này. Bởi vì họ cho rằng r s hoàn toàn độc lập
với chính sách cổ tức, họ cho rằng các nhà đầu tư hoàn toàn bang quang giữ cổ tức và
phần lợi vốn tương lai từ thu nhập giữ lại. MM cho rằng lý thuyết con chim trong bàn
5
Theo “Financial Management Theory and Practice 12 th Edition” của Eugene F.Brightham và Micheal C.
13
tay của Gordon-Litner là một lý thuyết hoàn toàn sai lầm, bởi vì hầu hết các nhà đầu tư
đều có kế hoạch tái đầu tư phần cổ tức họ nhận được vào cổ phiếu của cùng công ty cũ
hay ít nhất là vào cổ phiếu của các công ty hoàn toàn tương đương như công ty cũ, và
dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, rủi ro từ dòng tiền của doanh nghiệp đối với cổ đông
trong dài hạn sẽ được quyết định bởi rủi ro từ dòng tiền hoạt động, chứ không phải là
từ chính sách chi trả cổ tức.
1.1.5.3. Lý thuyết ưu tiên thuế: Ưu tiên phần lợi vốn6
Trước năm 2003, các nhà đầu tư cổ đông phải chi trả thuế thu nhập cá nhân dựa
14
1.1.5.4. Mô hình về chính sách cổ tức của Litner8
Vào những năm 1950, Litner đã thực hiện hàng loạt cuộc phỏng vấn với các
nhà quản trị doanh nghiệp về chính sách cổ tức của công ty họ. Sau đó Litner đã tạo ra
một mô hình dựa trên 4 kết luận sau:
(1) Công ty có tỷ lệ chi trả mục tiêu trong dài hạn. Với thu nhập tương đối ổn
định, các doanh nghiệp ở thời kỳ sung mãn thường có tỷ lệ chi trả cổ tức cao, các
doanh nghiệp tăng trưởng chi trả cổ tức thấp.
(2) Các giám đốc thường tập trung nhiều vào những thay đổi cổ tức hơn là so
với mức chi trả tuyệt đối. Như vậy, nếu cổ tức của năm qua là 1$ thì thanh toán cổ tức
là 2$ trong năm nay sẽ là một quyết định tài chính ấn tượng, nhưng quyết định đó lại
là vô nghĩa nếu như cổ tức năm trước cũng đã là 2$ rồi.
(3) Cổ tức thay đổi theo sau những thay đổi trong lợi nhuận ổn định và kéo dài,
Những thay đổi lợi nhuận tạm thời sẽ không tác động gì đến chi trả cổ tức.
(4) Các giám đốc tài chính đặc biệt lo lắng về việc phải hủy bỏ chính sách cổ
tức cao trước đây do những tác động ngược của quyết định này. Trong trường hợp như
thế, họ rất miễn cưỡng đưa ra những quyết định về thay đổi chính sách cổ tức.
Litner đã triển khai một mô hình đơn giản, nhất quán với các khảo sát trên cũng
như lý giải việc chi trả cổ tức. Gỉa dụ rằng một doanh nghiệp luôn bám sát tỷ lệ thanh
toán cổ tức mục tiêu. Sau đó, việc thanh toán cổ tức trong năm sắp đến DIV 1 sẽ bằng
tỷ trọng không đổi thu nhập mỗi cổ phần EPS1
DIV1 = cổ tức mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu*EPS1
Thay đổi cổ tức sẽ bằng
DIV1 – DIV0 = thay đổi mục tiêu = tỷ lệ mục tiêu*EPS1 – DIV0
Một doanh nghiệp luôn luôn bám sát tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu sẽ thay đổi cổ
tức bất kỳ khi nào lợi nhuận thay đổi. Nhưng các giám đốc tài chính trong khảo sát của
Litner đã miễn cưỡng thực hiện chính sách này. Họ tin rằng các cổ đông thích một tiến
trình ổn định trong cổ tức hơn. Do đó, thậm chí nếu như hoàn cảnh có vẻ hỗ trợ cho
nên nắm giữ cổ phiếu này.
Tương tự như vậy thì nhà đầu tư cũng phản ứng đối với trường hợp công ty
mua lại cổ phần. Việc công ty mua lại cổ phần có thể hàm ý rằng hiện cổ phần đang
được định thấp hơn giá trị của nó, ngược lại việc phát hành cổ phần có thể được hiểu
là giá cổ phần này đang được định giá cao.
Kết luận từ những kết quả hàm ý của chính sách cổ tức hay quyết định chi trả
cổ tức của doanh nghiệp đều xuất phát từ việc bất cân xứng thông tin giữa nhà quản trị
và nhà đầu tư. Nhà đầu tư có thể diễn giải theo cách của riêng họ, nhưng chính điều
này lại tác động lên giá cổ phần của doanh nghiệp.
1.1.5.3. Một số bài nghiên cứu cổ tức khác có liên quan.
16
1.1.5.3.1 Nghiên cứu kiểm nghiệm của Ross N Dickens, K.Michael Casey và
Joseph A.Newman về các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của ngành
ngân hàng dựa trên ứng dụng mô hình của Barclay, Smith, and Watts (1995)
Đây là một bài nghiên cứu hoàn toàn mới vào những 2000, bài nghiên cứu này
dựa trên mô hình Barclay, Smith và Watts(1995). Trong đó, trước hết cần phải nhắc
đến mô hình Barclay, Smith và Watts(1995) đã có đóng góp đáng kể như thế nào đến
việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty cổ phần
như thế nào.
Trước hết, mô hình Barclay, Smith, Watts (1995) đã góp một công sức rất lớn
trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách cổ tức của các công ty
thuộc ngành công nghiệp. Mô hình này đề xướng rằng cổ tức là một nhân tố chịu ảnh
hưởng của các biên số: Cơ hội đầu tư, điều lệ, quy mô và sự phát tín hiệu. Barclay,
Smith và Watts (1995) đã tìm được sự tương quan của chính sách cổ tức với 3 nhân tố
đầu tiên.
Do đó, khi đề xuất mô hình mới đồng thời kiểm nghiệm tính đúng đắn của mô
hình này, nhóm của tiến sĩ Ross và các đống sự đã căn cứ vào mô hình Barclay, Smith
A.Newman sách chi trả Nguồn thu thập và sử lý thông trong doanh nghiệp, lịch
cổ tức của tin là từ công cụ phân tích sử chi trả cổ tức và rủi ro.
các
ngân chứng khoán của Morningstar Ngân hàng có cơ hộ đầu tư
hàng phỏng 1998 (Morningstar’s principia lớn sẽ giữ nhiều tiền mặt
17
theo mô hình Pro july CDs 1999 và 2000)
Barclay,
Smith
cho cơ hội đầu tư, nên
Xây dựng mô hình sử dụng những ngân hàng có P/B
and các biến giống như mô hình lớn sẽ có giá trị cổ tức
Watt(1995)
Barclay, Smith and Watts thấp hơn.
(1995). Tuy nhiên có đề xuất Ngân hàng có qui mô lớn,
thêm các biến mới
có khả năng phá sản thấp
Sử dụng hàm hồi qui OLS để đồng thời có tổng doanh
ước lượng mô hình (chỉ có 8% thu lớn thì có mức chi trả
tức
động
năm xác định việc chi trả cổ
thu tức trong năm nay.
nhập(-) }
Ngân hàng có biến động
Kết quả:
thu nhập cao có mức chi
R2= 0.215
trả cổ tức thấp.
Kết quả của ước lượng hồi qui
OLS chỉ ra các 7 nhân tố
nghiên cứu đều ảnh hưởng tới
chính sách chi trả cổ tức của
18
doanh nghiệp, tuy nhiên trong
đó chỉ có 5 biến có ý nghĩa
thực tế
trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới tác động của thuế thu nhập” của trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
19
1.5.4.1. Tính ổn định của lợi nhuận
Thông thường các doanh nghiệp có thu nhập ổn định thường có mức chi trả cổ
tức cao hơn hẳn các doanh nghiệp có mức chi trả không ổn định 10. Hơn thế nữa, một
doanh nghiệp khi tiến hành chi trả cổ tức như đã nói ở các lý thuyết nghiên cứu ở trên,
sẽ ít có xu hướng giảm mức chi trả cổ tức qua các năm, bởi do hiện tượng thông tin bất
cân xứng, một doanh nghiệp có xu hướng giảm mức chi trả cổ tức có thể gây nên sự
suy diễn ở các cổ đông về việc công ty đang làm ăn đi xuống, mức độ lợi nhuận không
được như những năm trước.
1.5.4.2 Triển vọng tăng trưởng
Doanh nghiệp có tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu vốn lớn để tài trợ. Các
doanh nghiệp này thường giữ mức chi trả cổ tức thấp thay cho việc trả cổ tức cao và
phải bán cổ phần mới vừa tốn kém vừa bất tiện.
1.5.4.3. Đặc điểm của ngành và doanh nghiệp
Chu kỳ sống của của một ngành và doanh nghiệp có thể tạm chia thành bốn giai
đoạn:
- Giai đoạn phát triển: Trong giai đoạn này cơ hội đầu tư có khả năng sinh lợi
nhuận cao rất cao nên các doanh nghiệp thường không trả cổ tức bằng tiền mà dành
khoản lợi nhuận để tái đầu tư.
- Giai đoạn tăng trưởng: Trong giai đoạn này doanh nghiệp vẫn có mức tăng
trưởng nhanh hơn các doanh nghiệp khác ngoài ngành. Nhu cầu tái đầu tư của doanh
nghiệp vẫn cao nên doanh nghiệp thường chọn phương thức trả cổ tức bằng cổ phiếu
- Giai đoạn mở rộng: Tăng trưởng của doanh nghiệp vẫn còn nhưng không cao.
Các cơ hội đầu tư kém hấp dẫn vì sự cạnh tranh gay gắt. Khả năng trả cổ tức bằng tiền
của doanh nghiệp ngày càng lớn.
- Giai đoạn giảm sút: Tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp chững lại. Chính
Những doanh nghiệp ở giai đoạn đầu thường khó có thể huy động vốn từ bên
ngoài dù có nhu cầu lớn về vốn. Các doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình có thể
dễ dàng phát hành công cụ nợ hay phát hành cổ phiếu để chấp nhận trả cổ tức trong
hiện tại. Trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ sẽ gặp khó khăn hơn trong vay vốn nên
có khuynh hướng giữ lại phần lớn số lợi nhuận có được để đáp ứng các nhu cầu đầu
tư.
1.5.4.7 Hạn chế pháp lý
Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 quy định:
Hạn chế suy yếu vốn - Không thể dùng vốn của doanh nghiệp để chi trả cổ tức:
Nguồn vốn của doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2006, bao gồm vốn chủ sở hữu,
thặng dư vốn cổ phần – vốn góp cao hơn mệnh giá, các quỹ và lợi nhuận giữ lại. Công
ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và
các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; trích lập các quỹ công ty và
bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Cổ tức trả cho
cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản
21
chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty; ngay sau khi trả hết số
cổ tức đã định, công ty vẫn phải bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác đến hạn
Hạn chế lợi nhuận ròng - Cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay và
trong thời gian qua. Điều này nhằm ngăn cản các chủ sở hữu thường rút đầu tư ban
đầu và làm suy yếu vị thế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp. Cổ tức trả cho cổ
phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi
trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty.
Hạn chế mất khả năng thanh tóan - Không thể chi trả cổ tức khi doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán (nợ nhiều hơn tài sản), nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của chủ
nợ đối với tài sản của doanh nghiệp.
Điển hình, năm 2007, công ty cổ phần đường Biên Hòa có tỷ số thanh toán
Tỷ giá JPY do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố từ mức 154.69
VND/JPYtại thời điểm 30/09/2008 lên tới mức 166.42 VND/JPY thời điểm
19/11/2008.
Do trong hợp đồng kí kết với đối tác nước ngoài, công ty PPC đã cam kết thanh
toán hợp đồng theo tỷ giá hối đoái thực tế, với việc mất giá của VND so với JPY hiện
nay sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới lợi nhuận của PPC trong năm 2008. Nếu mức
166.42 VNĐ/JPY như hiện nay duy trì đến hết năm 2008, tại thời điểm lập báo
cáo tài chính năm 2008, PPC sẽ phải trích một khoản chi phí tài chính để xác định lại
khoản nợ vay có nguồn gốc ngoại tệ qui đổi theo tỷ giá tại thời điểm với số tiền: 872 tỷ
đồng. Vì vậy lợi nhuận còn lại có thể là 0 đồng
Căn cứ theo điều 93 Luật doanh nghiệp 2005 trường hợp PPC không có lợi
nhuận trong việc sản xuất kinh doanh của năm 2008 thì không được trả cổ tức.
Hội đồng quản trị Công ty CP Nhiệt điện Phả Lại quyết nghị việc hoãn trả cổ
tức đợt 1 năm 2008 và ghi nhận danh sách cổ đông đã được chốt danh sách tại thời
điểm 0/10/2008 đến khi kết thúc năm tài chính 2008. Công ty sẽ tiến hành chi trả theo
danh sách chốt ngày 30/10/2008 với mức cổ tức đã thông báo 3%.
1.5.4.9. Chi phí phát hành12
Nhiều loại phí trong hoạt động đầu tư chứng khoán đã tăng mạnh theo Thông tư
số 134/2009/TT-BTC về việc quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng
phí và lệ phí trong lĩnh vực chứng khoán.
Trong chi phí phát hành có các chi phí như bảo lãnh phát hành, chi phí kiểm
toán, chi phí thuê đơn vị tư vấn, chi phí phát sinh khi nộp hồ sơ, chi phí in ấn, vận
chuyển, chi phí đăng báo, chi phí phát hành khác. Mức cao nhất lên tới 100 triệu đồng
thuộc về phí bảo lãnh phát hành chứng khoán. Các khoản chi phí phát sinh này làm chi
phí sử dụng vốn của các công ty niêm yết tăng lên, làm giảm lợi nhuận doanh nghiệp.
12
Theo “ Những nhân tố tác động đến chính sách cổ tứ trong thực tiễn” của nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế
Tp.HCM
gọi chung là Tập đoàn) là huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo hình thức tiền gửi
tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận
vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, cho vay ngắn, trung và dài hạn, chiết
khấu thương phiếu, công trái và giấy tờ có giá, đầu tư chứng khoán và các tổ chức
kinh tế, làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng, kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc,
thanh toán quốc tế, bao thanh toán, môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán, lưu ký, tư
vấn tài chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành, cung cấp dịch vụ về đầu tư, quản lý
nợ và khai thác tài sản, cho thuê tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác.
2.1.1.3. Niêm yết
ACB niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội ( nay là Sở giao
dịch Chứng khoán Hà Nội) theo Quyết định số 21/QĐ-TTGDHN ngày 31/10/2006. Cổ
phiếu ACB bắt đầu giao dịch vào ngày 21/11/2006.
Loại chứng khoán
Mã chứng khoán
Mệnh giá
Số lượng chứng khoán niêm yết
13
Cổ phiếu phổ thông
ACB
10.000 đồng/cổ phiếu
935.849.684 cổ phiếu13
Trích báo cáo thường niên của ACB năm 2010
25