iii
MỤC LỤC
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH viii
TÓM TẮT LUẬN VĂN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 2
Chương 1 6
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6
Chương 2 27
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG ĐIỆN TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG. 27
(Nguồn: nangluongvietnam.vn) 29
Chương 3 35
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.4.Phương pháp lấy mẫu và thu thập số liệu 40
Chương 4 53
Chương 5 72
BÀN LUẬN KẾT QUẢ VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
Phụ lục 9.Mô hình cấu trúc tuyến nh SEM 121
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
CFA : Phân tích nhân tố khẳng định
CM : Chuẩn mực đạo đức cá nhân đối với vấn đề tiết kiệm điện
EFA : Phân tích nhân tố khám phá
EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam
GD : Giá điện
GDP : Tốc độ tăng trưởng kinh tế
HQ : Nhận thức hậu quả do lãng phí điện gây nên
found
Bảng 3.9: Thang đo Hành vi sử dụng điện (04 chỉ báo) Error: Reference source not
found
Bảng 3.10: Kiểm định các thang đo lý thuyết bằng Cronbach’s Alpha . Error: Reference
source not found
Bảng 4.1: Thôn tin cá nhân đối tượng nghiên cứu Error: Reference source not found
Bảng 4.2: Thống kê mô tả cho các biến quan sát Error: Reference source not found
Bảng 4.3: Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha Error: Reference source not found
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định KMO và Barlett Error: Reference source not found
Bảng 4.5: Ma trận đặc trưng các nhân tố 60
Bảng 4.6: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Thái độ”Error: Reference source not
found
Bảng 4.7: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Kiểm soát hành vi” Error: Reference
source not found
Bảng 4.8: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Ảnh hưởng xã hội” . Error: Reference
source not found
viiii
Bảng 4.9: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Đạo đức cá nhân” Error: Reference
source not found
Bảng 4.10: Phân tích thống kê mô tả thang đo “Nhận thức hậu quả” Error: Reference
source not found
Bảng 4.11: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Nhận thức trách nhiệm” Error:
Reference source not found
Bảng 4.12: Phân tích thống kê mô tả cho thang đo “Giá điện” Error: Reference source
not found
Bảng 4.13: Phân tích thống kê mô tả thang đo “Ý định tiết kiệm điện” Error: Reference
source not found
Bảng 4.14: Phân tích thống kê mô tả thang đo “Hành vi sử dụng điện” Error: Reference
source not found
Bảng 4.15: Các chỉ số thống kê phản ánh độ phù hợp của mô hình đo lường Error:
liệu phát thải lượng khí nhà kính khổng lồ. Sự mâu thuẫn này đang là bài toán hóc búa
đối với mọi quốc gia.
Mặt khác theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giai
đoạn 2010- 2020 nước ta sẽ mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng
nguồn điện năng. Từ một nước xuất khẩu thành nước nhập khẩu năng lượng. Nguyên
nhân chủ yếu là do việc sử dụng lãng phí điện năng hiện nay đã đến mức báo động.
Đặc biệt là ở các công ty, cơ quan nhà nước như: không tắt đèn, quạt khi ra ngoài, để
điều hoà ở nhiệt độ thấp hơn 25 độ C v.v…Trong nhân dân cũng như đối với doanh
nghiệp, ý thức sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả còn hạn chế.
Trước thực trạng đó,trên cơ sở lý thuyết về vai trò của ý định đối với hành vi và
các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiết kiệm điện, tác giả đã nghiên cứu và khảo sát gần
500 người dân sinh sống ở thành phố Nha Trang với một tập hợp biến ban đầu đại diện
cho 7 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiết kiệm điện và hành vi sử dụng điện gồm
Thái độ đối với vấn đề tiết kiệm điện, Nhận thức kiểm soát hành vi, Ảnh hưởng xã hội
đối với tiết kiệm điện, Chuẩn mực đạo đức cá nhân, Nhận thức hậu quả do lãng phí
điện gây nên, Nhận thức trách nhiệm và cuối cùng là Giá điện. Kết quả nghiên cứu đã
giúp hình thành mô hình nghiên cứu mới phù hợp với thực tế dựa trên mô hình của các
nghiên cứu trước và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiết kiệm điện và hành
vi sử dụng điện của người dân thành phố Nha Trang. Từ đó, sẽ đề xuất một số giải
pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân về tầm quan trọng
của tiết kiệm điện, hành vi sử dụng điện hiệu quả và những tác động của nó đối với
môi trường, tài nguyên và khí hậu của Việt Nam.
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Tiết kiệm điện luôn là vấn đề thiết thực không chỉ đối với mỗi quốc gia, mỗi địa
phương mà trong mỗi gia đình càng trở nên quan trọng. Tiết kiệm điện vừa có tác
dụng giảm chi phí, đồng thời góp phần tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên trong điều kiện
nguồn năng lượng chỉ có hạn. Trong khi đó, kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng, nhu
cầu năng lượng, đặc biệt là, nhu cầu về điện cho sản xuất và sử dụng ngày càng tăng.
hưởng đến ý định tiết kiệm điện và hành vi sử dụng điện hiệu quả và mức tác
động của các yếu tố trên.
- Xác định các yếu tố liên quan đến hành động tiêu chuẩn của cá nhân đối với ý
định tiết kiệm điện và hành vi sử dụng điện hiệu quả bao gồm: nhận thức hậu
quả do lãng phí điện, chuẩn mực đạo đức cá nhân và nhận thức trách nhiệm gây
nên đối với xã hội, môi trường và khí hậu của thành phố Nha Trang và mức tác
động của các yếu tố trên.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến thái
độ, mức độ kiểm soát và cảm nhận đối với hành vi sử dụng điện, đồng thời liên quan
đến các nhận thức về môi trường và yếu tố kinh tế đối với ý định tiết kiệm điện và
hành vi sử dụng điện.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thực hiện điều tra, khảo sát về vấn đề sử dụng điện và
tiết kiệm điện đối với các khách hàng cá nhân sử dụng điện tại các hộ gia đình trong
khu vực thành phố Nha Trang. Thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 6 đến tháng 9
năm 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính:
- Thăm dò ý kiến của các lãnh đạo tại công ty.
- Tham khảo đề tài và các nghiên cứu trước.
Nghiên cứu này để khám phá, điều chỉnh và xây dựng bảng câu hỏi cũng như
mô hình nghiên cứu dựa trên mô hình lý thuyết và bảng câu hỏi. Từ đó giúp xây dựng
và xác định thang đo phù hợp.
Nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua phương pháp thăm dò trực tiếp ý
kiến của khách hàng sử dụng điện.
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện.
Để phục vụ cho công tác nghiên cứu định lượng thì luận văn có sử dụng một số
phương pháp phân tích cụ thể:
Câu hỏi nghiên cứu
Do đó, công cụ hỗ trợ này sẽ giúp cho việc phân tích có kết quả chính xác và đáp ứng
cao nhất mục tiêu nghiên cứu.
5. Cấu trúc của luận văn.
5
Phần mở đầu.
Nội dung chương này sẽ trình bày các nội dung về lý do chọn đề tài, mục tiêu,
phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp và kết cấu của
luận văn.
Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết.
Nội dung của chương này trình bày một số nghiên cứu, đề tài và bài báo nghiên
cứu về ý định tiết kiệm điện và hành vi sử dụng điện của quốc tế làm cơ sở xây dựng
bảng thang đo cho phù hợp.
Bên cạnh đó, chương này sẽ trình bày các lý thuyết về mô hình hành vi dự định
và mô hình về hoạt động tiêu chuẩn và ảnh hưởng của các nhân tố đến ý định tiết kiệm
điện và hành vi sử dụng điện. Cuối cùng là đề xuất mô hình nghiên cứu và một số giả
thuyết để kiệm định mô hình.
Tóm tắt chương 1.
Chương 2: Hiện trạng sử dụng năng lượng điện tại Việt Nam.
Nội dung chương này sẽ trình bày tác động của việc khai thác và sử dụng điện
đối với kinh tế, môi trường sống của Việt Nam và thành phố Nha Trang. Bên cạnh đó
còn đưa ra các quan điểm của thế giới về phát triển bền vững dựa trên nền tảng sử
dụng hiệu quả tài nguyên, năng lượng để phát triển kinh tế đất nước, đồng thời nêu lên
các chính sách thực thi bảo tồn năng lượng của Việt Nam và những khó khăn trở ngại.
Tóm tắt chương 2.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương này sẽ trình bày khái quát phương pháp nghiên cứu bao gồm đối tượng
điều tra, phương pháp lấy mẫu, phương pháp phân tích, xác định thang đo và bảng câu
hỏi điều tra.
Tóm tắt chương 3.
Chương 4: Phân tích và đánh giá kết quả nghiên cứu.
1.1. dưới đây.
Hình 1.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua.
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Quang, 2008)
Quan điểm cơ bản về hành vi tiêu dùng của con người
Hành vi tiêu dùng của con người được hình thành từ nhiều yếu tố, hoàn cảnh
khác nhau và cũng bị chi phối bởi rất nhiều những yếu tố khác. Con người có thể hành
động theo lý tính (dựa vào kinh nghiệm và cần có tư duy, suy nghĩ) và cũng có thể
hành động theo cảm tính, hoàn toàn không theo quy luật và nguyên tắc nào cả. Vậy để
giải quyết vấn đề này, cần có các giả thuyết về con người trong nghiên cứu hành vi của
họ. Paul Pellemans đưa ra các giả thuyết về con người dưới đây:
• Con người theo đuổi lợi ích kinh tế
• Hành vi có điều kiện của con người
• Con người ý thức và vô thức
• Con người xã hội
• Con người được định hướng bởi sự lựa chọn có suy nghĩ
Các yếu tố bên ngoài
NGƯỜI TIÊU DÙNG
(lựa chọn, mua, tiêu dùng,
loại bỏ sản phẩm)
Động cơ
Lĩnh hội
Nhận thức Lối sống Thái độ
Gia đình Tình huống Nhóm tham khảo Văn hóa Giai tầng xã hội
Các yếu tố bên trong
8
• Con người được xem xét trên các đặc tính cá nhân
• Tiêu dùng là quá trình mang tính biểu tượng
1.1.2. Nghiên cứu hành vi tiêu dùng trong kinh tế xã hội và tâm lý học.
Mô hình ra quyết định tiêu dùng đầu tiên được phát triển dựa trên niềm tin rằng,
mọi người cố gắng tối đa hoá lợi ích của họ với một ngân sách hạn chế. Hansen (2007)
Quan điểm phát triển bền vững của thế giới tiếp cận con người thông qua việc
thay đổi hành vi và quyền quyết định của mỗi cá nhân. Cụ thể “tiêu thụ cho bản thân
không phải là một hành vi mà là hệ quả của các hành vi bật, tắt đèn và giảm mức tiêu
thụ điện” (Martiskainen, 2007, tr. 12).
Hành vi tiêu thụ năng lượng là một dạng hành vi đặc biệt dựa phần lớn trên thói
quen hay tập quán của người tiêu dùng. Trong cuốn phân tích hành vi của Jager
(2000), ông phân biệt giữa “lý luận hành vi” (phân tích bằng mô hình kinh tế) và
“phản ứng tự động” (theo thói quen hay tập quán). Hơn nữa, ông cũng nhận thấy rằng
hành vi và quyết định của mỗi cá nhân ít bị chi phối bởi các hành vi khác, mà phụ
thuộc vào nhận thức của những người xung quanh (về mặt xã hội). Xem mô hình tứ
diện về hành vi tại Bảng 1.1.
Bảng 1.1: Mô hình tứ diện về hành vi.
(Nguồn: MARTISKAINEN, 2007, tr. 19)
Phản ứng tự động Hành động hợp lý
Nhận thức cá
nhân
Lặp lại/ thói quen
• Hoàn cảnh
Suy nghĩ, cân nhắc
Hành vi dự định
• Thái độ
• Kiểm soát hành vi
Nhận thức xã hội
Sự bắt chước
Học tập những người quen biết
So sánh xã hội
so sánh với các đối tượng quen biết
Việc phân tích hành vi người tiêu dùng được dựa trên một số cách tiếp cận tâm
lý hoặc các mô hình tâm lý phổ biến nhất (tóm tắt trong Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Các học thuyết tâm lý về hành vi người tiêu dùng.
(Corbett 2005)
Học thuyết nhận
thức của xã hội
Học thuyết quan sát
Bandura (1986)
Lý thuyết về
chuẩn mực- giá trị
- niềm tin
VBN (Stern 2000)
Mô hình mẫu
người hợp lý
(Kaplan 2000)
Nghiên cứu hành vi được sử dụng để phân tích phản ứng cá nhân đối với một
vật hay một sự kiện cụ thể; nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng “ý nghĩa về mặt xã
hội của lợi ích kinh tế đối với vấn đề tiết kiệm năng lượng” (Heiskanen, 2006, tr. 8).
Mô hình lý thuyết về thái độ thường được sử dụng trong nghiên cứu tâm lý xã hội để
phân tích hành vi, thái độ và chuẩn mực cá nhân. Các khía cạnh đạo đức của hành vi,
giá trị và chuẩn mực cá nhân được phân tích bằng lý thuyết nhận thức xã hội hoặc lý
thuyết giá trị niềm tin (thái độ của cá nhân đối với xã hội hay chuẩn mực đạo đức cá
nhân là yếu tố dự báo cho hành vi ủng hộ hành động tiết kiệm điện).
Lý thuyết hành động hợp lý cho rằng khía cạnh lợi ích cá nhân đến từ kết quả
hành vi của con người.
1.2. Các mô hình nghiên cứu về hành vi tiêu dùng.
1.2.1. Thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior).
Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển và cải tiến của Thuyết
hành động hợp lý. Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được
Ajzen và Fishbbein xây dựng từ năm 1985 và được xem là học thuyết tiên phong trong
lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993;
Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Mark, C & Christopeher J.A.,1998,
tr. 1430). Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định của một cá nhân
ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng
tôi nên hay không nên
mua sản phẩm
Sự thúc đẩy làm theo ý
muốn của những người
ảnh hưởng
Thái độ
Chuẩn
chủ quan
Xu hướng
hành vi
Hành vi
thực sự
12
đình có thể không sẵn sàng để giảm sử dụng năng lượng, bởi vì họ cảm thấy không thể
làm như vậy. Học thuyết TPB được mô hình hóa ở Hình 1.3.
Hình 1.3: Thuyết hành vi dự định
(Ajzen, 1991)
Trong thực tế các mô hình TPB thường được sử dụng để dự báo và giải thích
hành vi của con người đối với các quyết định cụ thể, ví dụ quyết định hiến máu
(Armitage, 2001), quyết định sử dụng các loại thuốc hợp pháp hay bất hợp pháp
(Armitage, 2001), nhưng đồng thời nó cũng được sử dụng để dự đoán hành vi tiết
kiệm năng lượng trong sử dụng chất thải giấy tái chế của sinh viên đại học Hồng Kông
(Cheug, 1999); tiết kiệm năng lượng (Harland, Staats, & Wilke, 1999) và sử dụng xe
buýt (Heath & Gifford, 2002); sử dụng năng lượng hiệu quả (Lindenberg & Steg,
2007). Nói chung, nhận thức kiểm soát hành vi và thái độ có xu hướng quan hệ chặt
chẽ nhất với hành vi và ý định ủng hộ môi trường; chuẩn chủ quan có mức độ ít hơn
(Armitage & Conner, 2001).
1.2.2. Mô hình hoạt động tiêu chuẩn (The norm activation model).
Mô hình hoạt động tiêu chuẩn NAM (Schwart, 1977; Schwartz & Howard,
(Schwart, 1977; Schwartz & Howard, 1981)
Một số nghiên cứu đã mở rộng với các biến số kết hợp giữa mô hình TPB và
Nam, đặc biệt là sử dụng khái niệm chuẩn mực đạo đức cá nhân (Parker, Manstead, và
Stradling, 1995). Chuẩn mực đạo đức cá nhân đã được tìm thấy trong một số mô hình
kết hợp TPB để giải thích đáng kể cho một loạt các hành vi môi trường có liên quan
(ví dụ như việc sử dụng bóng đèn tiết kiệm năng lượng và sử dụng xe 712 W.
Abrahamse, L. Steg / Tạp chí Tâm lý học kinh tế 30 (2009); 711-720 Harland và cộng
sự, 1999).
Ngoài các biến từ mô hình TPB, tác giả hy vọng vấn đề môi trường là động lực
cho sự thay đổi hành vi. Cụ thể là nhận thức về hậu quả , nhận thức trách nhiệm và
chuẩn mực đạo đức cá nhân sẽ tích cực liên quan đến hành vi tiết kiệm năng lượng.
Chuẩn mực đạo
đức cá nhân
Nhận thức trách
nhiệm
Nhận thức
hậu quả
Xu hướng
hành vi
Hành vi thực
sự
14
1.3. Các nghiên cứu nước ngoài về hành vi tiêu thụ năng lượng.
Phần này tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu có liên quan đến hành vi tiêu thụ
năng lượng từ các chuyên ngành khác nhau (như tâm lý học hành vi, tâm lý học nhận
thức và tâm lý xã hội), đặc biệt là chúng tôi tập trung vào các biện pháp can thiệp khác
nhau từng được áp dụng để thay đổi hành vi tiêu dùng năng lượng như: cam kết, thiết
lập mục tiêu, thông tin, hội thảo, thông tin đại chúng, truyền hình, thông tin phản hồi,
phần thưởng, nhóm sinh thái, đo lường tổng thể…, cũng như xem xét các điều tra xã
hội học về lối sống, thói quen, môi trường…có ảnh hưởng đến hành vi tiết kiệm năng
thụ năng lượng trong suốt 12 tuần theo dõi. Tuy nhiên, các khoản tiết kiệm thực tế của
nhóm là gần như tương tự với các nhóm khác, kết luận rằng “hành vi tiêu thụ năng
lượng của các nhóm đều thể hiện mong muốn tiết kiệm năng lượng” (McCALLEY,
2006, tr.130).
Thiết lập mục tiêu tương tự như cam kết, cũng xác định các điểm tham chiếu
tiết kiệm điện tạo nên sự khác biệt (ví dụ tiết kiệm điện mức 10%). Becker (1978) thử
nghiệm tính hiệu quả của bước can thiệp thiết lập mục tiêu cho thấy các mục tiêu đặt
ra cần không quá dễ dàng để đạt được. Trong nghiên cứu của mình, ông được phân
công theo dõi mức tiết kiệm điện của hộ gia đình với 2 mục tiêu. Đầu tiên, họ đã phải
tiết kiệm 2% điện năng, sau đó, ông đặt ra mục tiêu khó khăn hơn với mức tiết kiệm
20% điện năng. Ông cũng hỗ trợ bằng việc cung cấp thông tin về mức tiêu thụ điện
của các thiết bị. Becker (1978) xác định rằng việc đặt mục tiêu với mức tiết kiệm điện
20% được chứng minh là có hiệu quả hơn mức tiết kiệm 2%. Do đó một mục tiêu đặt
ra cần phải có độ khó nhất định chứ không nên quá dễ dàng đạt được.
Thông tin là một trong những bước can thiệp thường xuyên được sử dụng để tác
động đến hành vi cá nhân về tiết kiệm năng lượng. Thông tin có thể được đưa ra với
nhiều cách khác nhau như: hội thảo, chiến dịch truyền thông hoặc thông qua các báo
cáo kiểm toán năng lượng. Geller (1981) đã nghiên cứu hiệu quả của bảy hội thảo về
vấn đề tiết kiệm năng lượng. Ông đã tiến hành khảo sát 117 người trước và sau khi
tham dự hội thảo. Ông xác định được những thay đổi trong thái độ và hành vi của
người tham dự hội thảo về vấn đề tiết kiệm năng lượng. Hơn nữa, sau 6 tuần kết thúc
hội thảo ông tiếp tục thực hiện cuộc điều tra thực tế tại nhà của một nửa số người tham
gia và kết luận rằng hội thảo đã có tác động tối thiểu đến hành vi tiết kiệm năng lượng
của họ. Nói cách khác, thông tin cũng ảnh hưởng đến mọi người trong việc bảo tồn và
tiết kiệm năng lượng nhưng không có nghĩa nó dẫn đến việc thay đổi hành vi cá nhân
(Geller, 1981).
Staats (1996) xác định hiệu quả của một chiến dịch truyền thông đại chúng và
đánh giá chiến dịch truyền thông đối với vấn đề hiệu ứng nhà kính. Trong hơn hai
16
tháng, phương tiện truyền thông đại chúng của Hà Lan (truyền hình quốc gia, báo chí,
tiết kiệm điện năng của hộ gia đình” (Abrahamse, 2005, tr. 278). Chúng đại diện cho
17
tần suất sử dụng điện năng của hộ gia đình. Van Houwelingen(1989) đã nghiên cứu
ảnh hưởng của sự phản hồi liên tục về mức tiêu thụ năng lượng của các hộ gia đình
tham gia dự án. Nhóm mục tiêu của nghiên cứu là 325 hộ gia đình và được tách thành
2 nhóm: nhóm đầu tiên cam kết tiết kiệm 10% lượng điện, trong khi nhóm thứ hai
không đồng ý với các mục tiêu tiết kiệm năng lượng. Năm mươi hộ gia đình trong 325
hộ gia đình nhận được các thiết bị giám sát điện tử để theo dõi mức sử dụng điện và
cập nhật chỉ số mức tiêu thụ điện mỗi ngày so với mục tiêu tiết kiệm. Các hộ gia đình
còn lại được chia thành hai nhóm: nhóm đầu tiên nhận được thông tin phản hồi về mức
tiêu thụ điện và nhóm thứ hai giám sát việc tiêu thụ năng lượng dựa trên diện tích căn
hộ của họ. Kết quả Van Houwelingen (1989) phát hiện ra rằng nhóm tự theo dõi dựa
trên diện tích căn hộ giảm ở mức trung bình 5,1% và nhóm nhận được phản hồi về giá
và mức tiêu thụ điện trung bình giảm được 7,7%. Trung bình giảm lớn nhất 12% phải
kể đến nhóm nhận được thiết bị giám sát điện tử và cập nhật chỉ số mỗi ngày. Van
Houwelingen (1989) kết luận rằng “các thông tin phản hồi về chỉ số điện, giá điện và
diện tích căn hộ có tác động tích cực đến hành vi tiết kiệm năng lượng của cá nhân”
(Van Houwelingen, 1989, tr. 103).
Staats (2004) đã thực hiện chương trình nghiên cứu với một "Nhóm sinh thái"
nhằm mục tiêu xác định các hành vi khác nhau có liên quan về quản lý chất thải, sử
dụng khí đốt, điện, nước, vận chuyển và tiêu thụ thực phẩm. Họ tập trung vào mối
quan hệ giữa ý định và thay đổi thói quen trong hành vi sử dụng năng lượng. Các
nhóm sinh thái là các nhóm nhỏ gồm sáu đến mười thành viên (như hàng xóm, bạn bè,
các thành viên nhà thờ, vv.). Thông thường, họ tổ chức cuộc họp hàng tháng để trao
đổi kinh nghiệm, ý tưởng và thành quả liên quan đến tiết kiệm năng lượng. Trong giai
đoạn một năm, Staats (2004) thực hiện các cuộc điều tra bằng bảng câu hỏi đến 60
nhóm sinh thái cam kết tiết kiệm điện năng. Kết quả là những người tham gia đã tiết
kiệm được 20,5% với khí thiên nhiên, tiết kiệm 4,6 % mức sử dụng điện, tiết kiệm trên
2,8% mức nước sử dụng và giảm chất thải với mức 28,5%. Sau 2 năm một báo cáo
phân tích đánh giá về mức tiết kiệm như sau: 16,9% sử dụng khí đốt tự nhiên, 7,6% sử
khác nhau của thói quen, văn hóa đến việc tiêu thụ năng lượng. Aune (1998) nhấn
mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu và đưa ra các tài liệu liên quan đến quá trình và nhu
cầu sử dụng năng lượng . Wilhite (2000) cho rằng “bản chất và nguyên nhân của nhu
cầu năng lượng” đã bị đơn giản hóa, cắt giảm hoặc bị lược bỏ trong các nghiên cứu
về chính sách sử dụng năng lượng. Họ cho rằng các nghiên cứu khoa học xã hội về
nhu cầu tiêu thụ năng lượng phần lớn đã bị giới hạn bởi những “hành vi” của “người
sử dụng năng lượng” (Wilhite, 2000, tr. 1). Mặc dù trong những năm qua, nhiều biện
19
pháp tiết kiệm năng lượng đã được phát triển dựa trên nhu cầu năng lượng tăng lên tại
Hoa Kỳ và Châu Âu và hỗ trợ cho các chính sách mới trong giảm thiểu biến đổi khí
hậu . Phương pháp tiếp cận mới không chỉ xem xét đến việc “đánh giá mức độ nhận
thức của người tiêu dùng, mà còn xét trên chuẩn mực xã hội và mạng lưới các tổ chức
xã hội” (Wilhite, 2000, tr. 109). Nói cách khác với cách tiếp cận mới, tác giả không
chỉ phân tích các nhân tố quyết định liên quan đến hành vi tiết kiệm năng lượng mà
còn hướng mọi người cách thức tổ chức mạng lưới cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, công nghệ
trong việc bảo tồn nguồn năng lượng.
Shove (2000) đã thực hiện phân tích xã hội học về công nghệ tiết kiệm năng
lượng trong các tòa nhà đối với hiệu quả tiết kiệm năng lượng . Ông sử dụng cách tiếp
cận thông qua mô hình tuyến tính kinh tế- kỹ thuật thể hiện sự phát triển hành động
tiết kiệm năng lượng. Họ xác định các nhân tố “xã hội” và “phi kỹ thuật” là rào cản
tiếp cận các kiến thức và công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng.
Trong một nghiên cứu gần đây Wilhite (2007 ) lập luận rằng công nghệ đóng
một vai trò quan trọng trong việc gia tăng sử dụng năng lượng. Sự ra đời của các công
nghệ có thể làm tăng sử dụng năng lượng “nhưng đồng thời tạo ra tiềm năng về cách
thức sử dụng năng lượng hiệu quả” (Wilhite , 2007, tr. 23). Ông nhấn mạnh sự cần
thiết phải thay đổi về công nghệ trong bối cảnh kinh tế- xã hội - văn hóa ngày càng
phát triển.
Martiskainen (2007) trong tài liệu nghiên cứu của mình về vấn đề tiêu thụ năng
lượng hộ gia đình, đã xác định hai nhóm hành vi tiết kiệm năng lượng: (1) Hành vi cắt
giảm (trong đó bao gồm các nỗ lực tiết kiệm điện thông qua việc sử dụng các thiết bị
(2004) phát hiện ra rằng mức tiêu thụ điện phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập. Tuổi tác,
giáo dục, giới tính và dân tộc dường như có ảnh hưởng rất ít (Gam, 2004, tr. 11). Hơn
nữa khi phân tích hành vi sử dụng thiết bị điện, ông dường như cũng tìm thấy những
bằng chứng thể hiện mối liên hệ giữa việc sử dụng thiết bị điện hiệu quả và bảo tồn
năng lượng.
1.3.2. Các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng đến hành vi tiêu thụ năng lượng.
Phần lớn các nghiên cứu phân tích hành vi tiêu thụ năng lượng của người tiêu
dùng trong hộ gia đình đều tập trung vào các đặc điểm kinh tế, tâm lý học và xã hội
học có liên quan: (1) đặc điểm của dân cư, (2) đặc điểm nơi cư trú, (3) đặc điểm của
công nghệ áp dụng, (4) Các yếu tố kinh tế, (5) thời tiết và các yếu tố khí hậu, (6) thông
tin nhận được, (7) và thái độ đối với môi trường (Carlsson-Kanayama, 2007).
Nhiều nhà tâm lý học đã thực hiện những điều tra về các hành vi liên quan đến
sử dụng năng lượng và nhấn mạnh tầm quan trọng của sự phối hợp tham gia của người
dân, bối cảnh xã hội, cũng như các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến bảo tồn năng lượng