BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DIỆP KHẢI DUY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI
TUÂN THỦ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2016
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
DIỆP KHẢI DUY
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI
TUÂN THỦ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI THÀNH PHỐ NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành:
Mã số:
Quyết định giao đề tài:
Quyết định thành lập hội đồng:
Ngày bảo vệ:
Người hướng dẫn khoa học:
iii
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, với sự hỗ trợ, giúp đỡ nhiệt tình của quý
Thầy, Cô; các Sở, Ngành cùng các Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Nha Trang, Tôi
đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ với đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố tác
động đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại thành phố Nha Trang”.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trường Đại học Nha
Trang đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập
và nghiên cứu. Đặc biệt, Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến TS.Lê Chí Công
và ThS. Nguyễn Thị Hải Anh đã tư vấn, hướng dẫn Tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài này.
Cho phép Tôi được gởi lời cám ơn đến các đồng nghiệp, Ban lãnh đạo Cục
Thuế, cùng các Doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Nha Trang đã đóng góp những ý
kiến quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho Tôi trong quá trình thu thập số liệu phục vụ
cho nghiên cứu đề tài.
Xin cảm ơn các anh, chị học viên cao học của Trường đã nhiệt tình hỗ trợ,
động viên và chia sẽ những kinh nghiệm, kiến thức trong suốt thời gian học tập và
nghiên cứu.
Nhân đây, Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
ủng hộ, động viên Tôi trong suốt quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này.
Trân trọng!
Khánh Hòa, ngày
tháng
Người thực hiện
2.2.1. Kết quả thu ngân sách của Cục thuế tỉnh Khánh Hòa .......................................35
2.2.2. Kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách trên địa bàn thành phố Nha Trang: ....36
2.3. Thực trạng về quản lý hành vi tuân thủ thuế tại cục thuế Khánh Hòa ..................38
v
2.3.1. Quản lý kê khai, kế toán thuế ...........................................................................38
2.3.2 Công tác kiểm tra thuế ......................................................................................39
2.3.3 Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế .................................................40
2.4. Đánh giá về thực trạng công tác quản lý thuế ......................................................41
2.4.1. Những ưu điểm ................................................................................................41
2.4.2. Những hạn chế .................................................................................................42
Kết luận chương 2......................................................................................................43
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU HÀNH VI TUÂN THỦ THUẾ CỦA
DOANH NGHIỆP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU..................................................44
3.1. Thiết kế nghiên cứu.............................................................................................45
3.2. Xây dựng thang đo..............................................................................................47
3.2.1. Thuế suất (TS) .................................................................................................47
3.2.2. Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KK) ........................................................48
3.2.3. Hiệu quả công tác kiểm tra thuế (KTR)............................................................48
3.2.4. Nhận thức tích cực về thuế (KTB)....................................................................49
3.2.5. Nhận thức về hình phạt (HP)............................................................................49
3.2.6. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp ............................................................49
3.2.7. Hành vi tuân thủ thuế (TTT) ............................................................................50
3.3. Nghiên cứu sơ bộ ................................................................................................50
3.4. Nghiên cứu chính chức .......................................................................................53
3.4.1. Thiết kế mẫu điều tra........................................................................................53
3.4.2. Công cụ nghiên cứu .........................................................................................53
Tóm tắt chương 3.......................................................................................................55
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI TUÂN
PHỤ LỤC
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
NNT
:
Người nộp thuế
DN
:
Doanh nghiệp
TNDN
:
Thu nhập doanh nghiệp
GTGT
TS
:
Thuế suất
KK
:
Tính đơn giản của việc kê khai
KTR
:
Hiệu quả công tác kiểm tra thuế
KTB
:
Nhận thức tích cực về thuế
HP
:
Nhận thức về hình phạt
Bảng 2.3: Kết quả quản lý kê khai thuế......................................................................38
Bảng 2.4: Kết quả công tác kiểm tra, thanh tra của ngành Thuế tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn 2012-2015 .........................................................................................................39
Bảng 3.1: Các giả thuyết nghiên cứu..........................................................................44
Bảng 3.2: Thang đo thuế suất.....................................................................................48
Bảng 3.3: Thang đo tính đơn giản của việc kê khai thuế ............................................48
Bảng 3.4: Thang đo công tác kiểm tra thuế ................................................................48
Bảng 3.5: Thang đo nhận thức tích cực về tính công bằng của thuế ...........................49
Bảng 3.6: Thang đo nhận thức về hình phạt ...............................................................49
Bảng 3.7: Thang đo hiệu quả kinh doanh ...................................................................50
Bảng 3.8: Thang đo hành vi tuân thủ thuế ..................................................................50
Bảng 3.9: Kết quả Cronbach’s Alpha các thang đo sơ bộ ...........................................51
Bảng 3.10: Các thang đo chính thức trong mô hình nghiên cứu .................................52
Bảng 4.1: Thống kê loại hình doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu ............................56
Bảng 4.2: Thống kê độ tuổi trong mẫu nghiên cứu.....................................................57
Bảng 4.3: Thống kê giới tính trong mẫu nghiên cứu...................................................58
Bảng 4.4: Thống kê mô tả các biến quan sát ..............................................................59
Bảng 4.5: Kiểm định độ tin cậy thang đo TTT ...........................................................60
ix
Bảng 4.6: Kiểm định độ tin cậy thang đo đo các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế...60
Bảng 4.7: Kết quả EFA thang đo các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế ................62
Bảng 4.8: Kết quả EFA thang đo các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế..............62
Bảng 4.9: Kết quả EFA thang đo tuân thủ thuế TTT...................................................64
Bảng 4.10a: Kết quả phân tích tương quan Nhóm 1 ...................................................65
Bảng 4.10b: Kết quả phân tích tương quan Nhóm 2 ...................................................65
Bảng 4.11a: Kết quả hồi quy sử dụng phương pháp Enter của mô hình......................67
Bảng 4.12a: Kết quả kiểm định phương sai ANOVA..................................................67
Đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của các
doanh nghiệp tại thành phố Nha Trang”được thực hiện với mục đích xác định và đo
lường các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại thành
phố Nha Trang. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm cải thiện
việc tuân thủ thuế của các doanh nghiệp.
Trên cơ sở các lý thuyết về tuân thủ thuế, các nghiên cứu thực nghiệm được
thực hiện trước đây. Tác giả đã xây dựng mô hình và giả thuyết nghiên cứu các nhân
tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Mô hình lý thuyết cho thấy:
có 06 nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp và được chia thành
02 nhóm. Nhóm 1 gồm các nhân tố liên quan đến chính sách thuế: (i) Thuế suất; (ii)
Tính đơn giản của việc kê khai thuế; (iii) Hiệu quả công tác kiểm tra thuế; Nhóm 2
gồm các nhân tố liên quan đến người nộp thuế: (i) Nhận thức tích cực về thuế; (ii)
Nhận thức về hình phạt; và (iii) Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Dữ liệu thu thập từ các doanh nghiệp kê khai thuế trên địa bàn thành phố Nha
Trang với cỡ mẫu là 265 quan sát (trong đó 250 phiếu hợp lệ). Dữ liệu thu thập từ các
doanh nghiệp được xử lý bằng kỹ thuật phân tích độ tin cậy thông qua hệ số
Cronbach’s Alpha, Phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình hồi quy tuyến tính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: 05/06 nhân tác động có ý nghĩa thống kê đến hành vi
tuân thủ thuế tại Cục thuế Khánh Hòa: (1) Nhận thức về hình phạt (HP); (2) Công tác
kiểm tra thuế (KTR); (3) Thuế suất (TS); (4) Nhận thức tích cực về thuế (KTB) và (5)
Tính đơn giản của việc kê khai thuế (KK).
Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các gợi ý chính sách nhằm cải
thiện việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Đây sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị, là cơ
sở cho các nhà quản lý kinh tế, các nhà hoạch định chính sách thuế trong việc tiếp tục
nghiên cứu đề xuất và hoạch định cơ chế, chính sách, giải pháp cụ thể nhằm cải thiện
hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp.
Từ khóa: Hành vi, Tuân thủ thuế, Nha Trang
xii
cho người nộp thuế tuân thủ thuế tốt hơn. Trong khi đó, hầu hết các nghiên cứu đã có
về vấn đề này đều thống nhất rằng yêu cầu tất yếu là các cơ quan thuế cần quan tâm
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế, nhất là
1
khi áp dụng hệ thống tự khai tự nộp, nhằm đảm bảo hiệu quả và hiệu lực công tác
trong quản lý thuế. Ngoài ra, hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế chịu sự tác
động phức tạp của nhiều nhân tố khác nhau, và thay đổi tùy theo tình hình riêng của
mỗi quốc gia. Chính vì vậy, nhất thiết cơ quan thuế phải quan tâm cải thiện tuân thủ
thuế cho người nộp thuế sau khi đã xác minh các nhân tố tác động đến tuân thủ thuế
của người nộp thuế nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhất vai trò của mình.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn ấy, với vai trò là một học viên cao học và là một
công chức ngành Thuế, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến
hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại thành phố Nha Trang” làm đề tài
thạc sĩ của mình để khám phá những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế tại địa
phương đóng góp ngân sách đáng kể cho cả nước, từ đó kiến nghị các chính sách
nhằm cải thiện mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
2. Mục tiêu của nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố chính tác động
đến hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp tại Nha Trang, trên cơ sở đó đề xuất một
số hàm ý chính sách nhằm góp phần cải thiện mức độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Khám phá các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp
tại Nha Trang
- Xác định mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ
thuế của doanh nghiệp tại Nha Trang.
- Đề xuất những kiến nghị chính sách nhằm cải thiện mức độ tuân thủ của
doanh nghiệp tại Nha Trang.
xuất kinh doanh tại Nha Trang là nơi hoạt động kinh tế năng động nhất ở tỉnh Khánh
Hòa, với các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đa dạng nhằm đảm bảo tính đại diện tốt cho
mẫu nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp đối
với các khoản thuế nội địa (như thuế Thu nhập doanh nghiệp, thuế Giá trị gia tăng, thuế
khác) dưới sự quản lý thuế của Tổng cục Thuế, Cục thuế tỉnh Khánh Hòa và các Chi cục
Thuế, không bao gồm các khoản thuế quan dưới sự quản lý của cơ quan hải quan.
- Do giới hạn về thời gian và chi phí nên tác giả chỉ nghiên cứu các dữ liệu thu
thập liên quan đến các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố Nha Trang
thuộc Cục thuế Khánh Hòa quản lý.
- Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất liên quan đến lý
thuyết về hành vi tuân thủ thuế của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn
thành phố Nha Trang.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp (điều tra của doanh nghiệp trong năm 2016).
- Luận văn cũng sử dụng số liệu thứ cấp dựa trên báo cáo tài chính và thông tin
cung cấp của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn thành phố
Nha Trang.
3
5. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Nghiên cứu định
lượng được thực hiện thông qua kỹ thuật thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát từ các
doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn thành phố Nha Trang với 01 mẫu với số
phiếu khảo sát được đưa vào phân tích là 250/265 doanh nghiệp. Toàn bộ dữ liệu
được xử lý bằng phần mềm SPSS18.0 và tiến hành các bước phân tích sau:
Làm sạch dữ liệu.
liên quan đến hành vi gian lận thuế được đưa ra từ nghiên cứu là: (1) Do người nộp
thuế chưa hiểu sâu sắc về nghĩa vụ và quyền lợi từ khoản tiền thuế mà mình đóng góp;
(2) Chưa hiểu rõ về nội dung chính sách và nghiệp vụ thuế, kê khai và nộp thuế; (3)
Chưa nhận thức đúng trách nhiệm pháp luật về nghĩa vụ phải kê khai, nộp thuế của
mình, cũng như các hình thức xử phạt nếu doanh nghiệp vi phạm luật thuế; (4) Tính
4
tuân thủ, tự nguyện chưa cao trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế. Tuy nhiên, hạn
chế của đề tài chưa sử dụng các phương pháp phân tích định lượng nhằm cung cấp
những luận cứ xác đáng và thuyết phục cho kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu của Võ Đức Chín (2011) “Các nhân tố tác động đến hành vi tuân
thủ thuế của doanh nghiệp - trường hợp tỉnh Bình Dương”, tác giả đã sử dụng phương
pháp nghiên cứu định tính và định lượng và đã xác định được các nhân tố tác động đến
hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp. Mô hình nghiên cứu theo đề xuất của tác giả
gồm nhóm nhân tố về đặc điểm doanh nghiệp, ngành kinh doanh, nhóm nhân tố về xã
hội, về kinh tế, hệ thống thuế và tâm lý ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của các doanh
nghiệp. Kết quả cho thấy nhân tố kinh tế, hệ thống thuế, các nhân tố về tâm lý, đặc
điểm doanh nghiệp và nhân tố xã hội của doanh nghiệp đều tác động đến hành vi tuân
thủ của doanh nghiệp tại Bình Dương. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ phù hợp với thực
tế các doanh nghiệp tại Bình Dương.
Ngoài ra, giai đoạn từ năm 2010 đến 2014 cũng có khá nhiều luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về các lĩnh vực có liên quan đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế,
mặc dù đó không phải là những nhân tố tác động trực tiếp đến hành vi tuân thủ thuế,
chẳng hạn những nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của người nộp thuế,… Tuy nhiên,
cho đến nay theo hiểu biết của tác giả, các nghiên cứu liên quan đến hành vi tuân thủ
thuế của doanh nghiệp vẫn chưa được thực hiện tại Nha Trang. Vì thế, thực hiện
nghiên cứu các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại Nha
Trang phù hợp với thực tiễn công tác bản thân những người công việc kê khai, kế toán
thuế cho các doanh nghiệp.
nhà nghiên cứu sau thực hiện nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ
thuế của của người nộp thuế.
Alm và Torgler (2011) cho rằng chiến lược tuân thủ về hành chính dựa trên
việc bắt buộc sẽ là điểm khởi đầu hợp lý nhưng chưa phải là điểm kết thúc tốt để giải
quyết khoảng cách về thuế. Vấn đề ở chỗ chất lượng những dịch vụ do cơ quan thuế
cung cấp và đặc biệt là niềm tin của người nộp thuế. Tương tự, Molero và Pujol (2011)
cho rằng tuân thủ thuế cần được phân tích trong một khuôn khổ rộng hơn về hành vi
con người, không phải chỉ dựa trên các biến về kinh tế mà còn dựa trên các nhân tố
khác chẳng hạn như sự bất bình, ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ chung, các vấn đề
về đạo đức, tinh thần vị tha, tinh thần quốc gia,…(Torgler và Werner, 2005; Alm và
Torgler, 2006). Nghiên cứu này cho rằng khi công chúng cho rằng chất lượng dịch vụ
công do chính phủ cung cấp không tốt, cách duy nhất để gia tăng đạo đức về thuế cho
người nộp thuế là tăng cường chất lượng của những dịch vụ này. Ngược lại, một khi
họ cảm nhận chất lượng dịch vụ công tốt, bản thân họ sẽ có quan điểm nhìn nhận và
tuân thủ thuế tốt hơn.
6
Một nghiên cứu khác rộng hơn và khá phù hợp với tình hình của Việt Nam với
đề tài “Các nhân tố quyết định của hành vi tuân thủ thuế ở Châu Á - trường hợp của
Malaysia” được thực hiện bởi Palil và Mustapha (2011). Chín nhân tố quyết định tuân
thủ thuế được xác định gồm khả năng xác suất bị kiểm tra, nhận thức về chi tiêu chính
phủ, nhận thức về sự công bằng, hình phạt, những áp lực về tài chính, những thay đổi
trong chính sách của chính phủ hiện tại, ảnh hưởng từ các nhóm tham chiếu, hiệu quả
hoạt động của cơ quan thuế và kiến thức về thuế, đặc biệt khi áp dụng cơ chế tự khai
tự nộp. Nghiên cứu cũng giúp các nhà quản lý thuế nhận thấy tầm quan trọng của kiến
thức thuế với việc hỗ trợ thiết kế một chương trình giáo dục về thuế, đơn giản hóa hệ
thống thuế và phát triển một sự hiểu biết rộng hơn về hành vi của người nộp thuế.
Nghiên cứu này được xem là phù hợp với thực tế Việt Nam.
Như vậy, tuân thủ thuế là một vấn đề phức tạp, chịu sự tác động của hàng loạt
trở thành đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hành vi (Waston, 1913). Các nhà hành vi
chính thống cho rằng các tác nhân gây ra phản ứng của con người, do đó thông qua các
phản ứng có thể hiểu trở lại các tác nhân. Waston (1913) - một đại diện tiêu biểu của lý
thuyết hành vi trong tâm lý học đã đưa ra mô hình hành vi gồm một chuỗi kích thích
và phản ứng:
S (tác nhân) → R (phản ứng)
Theo sơ đồ này thì hành vi con người hoàn toàn máy móc, cơ học mà không có
sự tham gia của ý thức hay một nhân tố nào khác.
Về sau trong quá trình phát triển thuyết hành vi, khái niệm hành vi dần được
mở rộng và chứa đựng thêm nhiều nhân tố mới. Các nhà hành vi mới (hay còn gọi là
các nhà hành vi xã hội) cho rằng giữa hai nhân tố tác nhân và phản ứng còn có các
nhân tố trung gian được chia làm hai loại là các nhu cầu sinh lý và các nhân tố nhận
thức. Nhà xã hội học Mỹ Mead (1956) đưa ra luận điểm về bản chất xã hội của hành vi
con người: “Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu xây dựng nó từ các tác nhân và
phản ứng. Nó cần được phân tích như một chỉnh thể linh hoạt, không một bộ phận nào
của chỉnh thể được phân tích hoặc có thể được phân tích độc lập”. Điều này có nghĩa,
hành vi xã hội là một thể thống nhất gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau.
8
Như vậy, hành vi của con người là một tập hợp nhiều hành động (hay việc làm
cụ thể) liên kết với nhau một cách hết sức phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân
tố bên trong (như tính cách, di truyền…) và các nhân tố bên ngoài (như kinh tế, văn
hoá, xã hội, chính trị, môi trường…) dưới nhiều góc độ và mức độ khác nhau.
Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi có dự tính (TPB)
Lý thuyết TRA được Fishbein và Ajzen đưa ra từ năm 1975 cho rằng: nhân tố
quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là ý định thực hiện hành vi đó
(Fishbein & Ajzen, 1975). Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai nhân tố:
thái độ của một người về hành vi và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi. Kết
Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các thái độ được
khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện. Nhân tố thứ hai
là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay
không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, lý thuyết hành vi được dự tính TPB được
Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm nhân tố kiểm soát hành vi nhận thức vào mô
hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó
khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các
cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động
trực tiếp đến hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát
của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi (Ajzen, 1991).
Mô hình TPB được xem như tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và
giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên
cứu. Bởi vì mô hình TPB khắc phục được nhược điểm của mô hình TRA bằng cách bổ
sung thêm nhân tố kiểm soát hành vi cảm nhận.
Thái độ
(A)
Quy chuẩn chủ
quan (SN)
Ýđịnh
(I)
Hành vi
(B)
Kiểm soát hành vi
nhận thức (PBC)
Hình 1.2 Mô hình TPB cơ bản của Ajzen, 1985
Hình 1.3 Mô hình TPB mở rộng của Ajzen, 2006
Tuy nhiên, mô hình TPB có một số hạn chế trong việc dự đoán hành vi (Werner,
2004). Các hạn chế đầu tiên là nhân tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn
chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen, 1991). Có thể có các nhân tố khác ảnh
hưởng đến hành vi. Dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu cho thấy rằng chỉ có 40% sự
biến động của hành vi có thể được giải thích bằng cách sử dụng TPB (Ajzen năm
1991; Werner 2004). Hạn chế thứ hai là có thể có một khoảng cách đáng kể thời gian
giữa các đánh giá về ý định hành vi và hành vi thực tế được đánh giá (Werner 2004).
Trong khoảng thời gian, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi. Hạn chế thứ ba là
TPB là mô hình tiên đoán rằng dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu
chí nhất định. Tuy nhiên, cá nhân không luôn luôn hành xử như dự đoán bởi những
tiêu chí đó (Werner, 2004).
1.1.2 Hành vi tuân thủ thuế
Hành vi tuân thủ thuế là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu cũng như chính các
cơ quan quản lý nhà nước về thuế quan tâm từ rất lâu. Quan điểm truyền thống cho
rằng hầu hết người nộp thuế không tự nguyện tuân thủ thuế, họ chỉ chấp hành khi có
sự cưỡng chế, bắt buộc của cơ quan thuế.
Khái niệm tuân thủ thuế còn thu hút các nhà nghiên cứu luận bàn liên quan đến
việc người nộp thuế tuân thủ tự nguyện hay tuân thủ không tự nguyện. Mục tiêu của
cơ quan thuế là gia tăng sự tự nguyện tuân thủ thuế của người nộp thuế, thay vì phải
11
cưỡng chế, ép buộc, đưa ra các hình thức xử phạt để bắt buộc người nộp thuế.Hầu hết
các quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành
thuế. James & Alley (1999) đã đưa ra câu hỏi: Sự tuân thủ có được là do hành vi tự
nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế tuân thủ chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện
pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì điều này không được cho là hoàn toàn
tuân thủ, ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt tối đa so với mức phải nộp.
mỗi năm (nếu cần) và tuân thủ khuôn khổ về thời gian thanh toán theo yêu cầu (Chow,
2004). Nghĩa là, tuân thủ thuế đòi hỏi người nộp thuế phải đạt được một mức độ trung
thực nhất định, có kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này để hoàn
thành tờ khai thuế và các hồ sơ có liên quan kịp thời, chínhxác và đầy đủ (Sing &
Bhupalan, 2001). Cùng quan điểm với Singh & cộng sự (2003) cho rằng tuân thủ thuế
trở thành một vấn đề chủ yếu trong hệ thống tự khai thuế bởi vì tổng số tiền thuế phải
nộp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế mặc dù không thể
tránh khỏi việc cơ quan thuế sẽ tìm kiếm thông tin từ những người nộp thuế khác trong
khu vực để giảm thiểu rủi ro xảy ra các trường hợp không tuân thủ, hoặc họ sẽ thường
xuyên thực hiện việc kiểm tra nhiều loại thuế khác nhau, và bằng những hình thức
khác chẳng hạn giáo dục kiến thức thuế nhằm tạo ra những tác động nhất định đến việc
tuân thủ thuế của người nộp thuế. Kirchler (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản hơn,
theo đó “Tuân thủ thuế là một thuật ngữ trung lập nhất miêu tả việc người nộp thuế
sẵn sàng nộp tiền thuế”.
Ngoài ra, một số tác giả đã xem xét tuân thủ thuế từ một góc độ khác.
Allingham & Sandmo (1972) mô tả tuân thủ thuế là một vấn đề “báo cáo thu nhập
thực tế” và cũng tuyên bố rằng hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế bị ảnh hưởng
bởi một số tình huống mà trong đó có thể người nộp thuế đưa ra quyết định trong tình
trạng không chắc chắn (Clotfelter, 1983). Tức là người nộp thuế có thể sẽ được hưởng
một khoản tiền thuế tiết kiệm được do khai báo thấp thu nhập tính thuế hoặc đối với
các khoản thu nhập không khai báo, họ sẽ bị phạt với một tỷ lệ cao hơn so với khoản
thu nhập được kê khai đầy đủ và chính xác về thời gian. McBarnet (2001) đề nghị tuân
thủ thuế nên được nhìn nhận trong 3 cách, cụ thể là: cam kết tuân thủ - sẵn sàng nộp
thuế mà không khiếu nại; tuân thủ có điều kiện - miễn cưỡng nộp tờ khai và nộp thuế;
tuân thủ có sáng tạo để giảm thiểu nghĩa vụ thuế bằng cách tận dụng khả năng để xác
định lại thu nhập và khấu trừ các khoản chi phí theo quy định của luật thuế. Spice
(1976) nhận thức mức độ tuân thủ thuế là một hình thức đặc biệt của sự may rủi (trong
đó có liên quan đến khả năng phát hiện và xử phạt), đòi hỏi cơ quan thuế phải hiểu
được các nhân tố tác động đến quyết định tuân thủ thuế của người nộp thuế.
Tuân thủ thuế không phải là một quá trình tự thân mà trái lại, nó chịu tác động