BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............
TRẦN THỊ LỆ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ
KHẢ NĂNG GIÂM CÀNH CỦA CÁC DÒNG,
GIỐNG CHÈ LDP2, LCT1, PH8, PH11 TẠI PHÚ HỘ
CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
MÃ SỐ: 60 62 01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. NGUYỄN ĐÌNH VINH
2. TS. ĐẶNG VĂN THƯ
HÀ NỘI - 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin
trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./.
MỤC LỤC
Lời cam đoan............................................................................................................ i
Lời cảm ơn .............................................................................................................. ii
Mục lục ................................................................................................................ iii
Danh mục bảng ...................................................................................................... vi
Danh mục hình và đồ thị........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1.
Tính cấp thiết của đề tài: ........................................................................... 1
2.
Mục đích của đề tài. .................................................................................. 3
3.
Yêu cầu của đề tài. .................................................................................... 3
4.
Ý nghĩa của đề tài. .................................................................................... 3
4.1.
Ý nghĩa khoa học của đề tài. ..................................................................... 3
4.2.
Nguồn gốc ................................................................................................ 6
1.2.2.
Phân loại cây chè ...................................................................................... 7
1.2.3.
Sự phân bố của cây chè ............................................................................. 8
1.3.
Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài. ................................... 9
1.3.1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới. ........................................................... 9
1.3.2.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam. .......................................................... 15
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...... 25
2.1.
Vật liệu nghiên cứu. ................................................................................ 25
2.1.1.
Các giống chè ......................................................................................... 25
2.5.
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu. .................................. 27
2.5.1.
Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi thí nghiệm 1. ................................ 27
2.5.2.
Các chỉ tiêu sinh trưởng của cành giâm: .................................................. 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................. 33
3.1
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học của các dòng, giống chè........ 33
3.1.
Đặc điểm thân cành của các dòng, giống chè. ........................................ 33
3.1.2.
Đặc điểm hình thái lá của các dòng, giống chè. ....................................... 35
3.1.3.
Thời gian nở hoa, số quả trên cây của các dòng, giống chè. .................... 37
3.1.4.
Tỷ lệ bật mầm của cành giâm các dòng, giống chè. ................................ 51
3.2.4.
Tỷ lệ sống của cành giâm các dòng, giống chè. ....................................... 53
3.2.5.
Khả năng sinh trưởng của cành chè giâm ................................................ 54
3.2.6.
Khả năng tích lũy chất khô của cành giâm các dòng, giống chè. ............. 57
3.2.7.
Đường kính gốc và tỷ lệ xuất vườn của cành giâm các dòng, giống chè. ........ 59
3.2.8.
Đánh giá tình hình sâu hại trong vườn ươm............................................ 61
3.2.9.
Đánh giá tình hình bệnh hại trong vườn ươm. ........................................ 62
3.3.
Hiệu quả kinh tế sản xuât 1000 bầu chè giống......................................... 63
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ bật mầm của hom giâm qua các giai đoạn ............................ 53
Hình 3.2. Tỷ lệ xuất vườn của các dòng, giống chè ...................................... 60
Hình 3.3. Lợi nhuận khi sản xuất 1000 bầu giống ........................................ 65
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chè (Camellia Sinensis (L) O. Kuntze) vốn là cây hoang dại được con người
thuần hóa. Cây chè là loại cây công nghiệp lâu năm có nguồn gốc ở vùng nhiệt
đới nóng ẩm. Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất khác, ngành chè trên
thế giới có bước phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập trung
chủ yếu ở các nước Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang được sử
dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều dạng khác nhau nhưng phổ biến nhất
vẫn là đồ uống.
Cây chè có nhiệm kỳ kinh tế kéo dài tới 40-50 năm, chiến lược phát triển
chọn tạo tối ưu về giống sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của vùng sản xuất
chè sau này. Vì vậy, ở tất cả các nước trồng chè, nghiên cứu, chọn tạo giống luôn
được quan tâm hàng đầu, được coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lượng và
chất lượng chè.
trương phát triển chè trên cả hai hướng: Mở rộng diện, tăng năng suất, chất lượng
chè, trồng thâm canh ngay từ đầu, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo
sản phẩm chè chất lượng cao, an toàn, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất
khẩu.
Theo hướng chọn tạo và nhân nhanh các giống chè có chất lượng cao những
năm qua Viện Nghiên cứu Chè (nay là Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp
miền núi phía Bắc) đã nghiên cứu và chọn tạo một số giống chè đáp ứng các yêu
cầu về năng suất và chất lượng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho
phép khu vực hoá. Việc mở rộng diện tích các giống chè mới vẫn còn gặp vấn đề
đòi hỏi vẫn phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra giải pháp thích hợp. Nghiên cứu đặc
điểm nông sinh học của các giống luôn được các nhà chọn tạo giống quan tâm hàng
đầu, dựa trên các đặc tính của giống để xác định những ưu, nhược điểm và các yếu
tố hạn chế của giống, từ đó đề xuất các biện pháp kỹ thuật thích hợp để nhân, trồng
các giống chè mới, tạo ra nương chè có khả năng sinh trưởng phát triển khoẻ đạt
năng suất, chất lượng cao đủ sức cạnh tranh và đáp ứng cho thị trường chè trong
nước và thế giới, góp phần vào việc phát triển vững mạnh của ngành chè Việt Nam.
Với định hướng đó chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh
học và khả năng giâm cành của các dòng, giống chè tại Phú Hộ”. Với mong
muốn tìm hiểu mối liên quan giữa đặc điểm nông sinh học với năng suất, chất lượng
và khả năng nhân giống cũng như trồng mới nhằm đề xuất quy trình kỹ thuật nhân
trồng giống chè mới đạt năng suất cao, chất lượng tốt cho các vùng sinh thái chè
trọng điểm của Việt Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
2. Mục đích của đề tài.
Nghiên cứu các đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng phát triển và năng
suất, chất lượng của các dòng, giống chè để tìm ra dòng, giống chè có năng suất
Page 3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài.
1.1.1. Cơ sở di truyền
Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotydonae),
bộ chè (Theales), họ chè (Theacea), chi chè (Camellia), loài (Sinensis), tên khoa
học là Camellia sinensis (L) O.Kuntze, được phân làm bốn thứ chè khác nhau (theo
Cohen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var
Bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var Macrophylla), thứ chè Ấn
Độ (Camellia sinensis var Assamica ) và giống chè Shan (Camellia sinensis var.
Shan). Chè là cây lâu năm, chu kì ra hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm
đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỉ lệ đậu quả
thấp. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi quả có từ 1 - 4 hạt. Mặc dù là hoa lưỡng tính.
Nhưng cây chè được xếp vào loại cây giao phấn nhờ côn trùng và gió cho nên hạt
chè khi gieo trồng không giữ nguyên được các tính trạng di truyền tốt từ cây mẹ. Vì
vậy cây con trồng từ hạt sẽ phân ly tính trạng mạnh, làm cho vườn ươm chè không
đồng đều về kiểu gen cũng như kiểu hình làm cho năng suất giảm nhanh bị thoái
hóa, không ổn định về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu với các điều
kiện ngoại cảnh. Để phát triển bền vững những vườn chè đồng đều cho năng suất
cao, phẩm chất tốt, giữ được những tính trạng từ cây mẹ thì biện pháp khuyến cáo là
nhân giống vô tính. Các phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng như: Giâm
hom, chiết, ghép và nuôi cấy mô
1.1.2. Cơ sở sinh lý học
Chè là cây lâu năm, có chu kỳ sống rất dài có thể đạt 100 năm hoặc lâu hơn, chia
làm 2 chu kỳ phát triển là: chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ.
- Chu kỳ phát triển lớn bao gồm suốt cả đời sống cây chè, tính từ khi tế bào
trứng thụ tinh bắt đầu phân chia đến khi cây chè chết. Chu kỳ phát triển lớn của cây
quan trọng. Nhiều giống chè có năng suất không cao nhưng chất lượng tốt vẫn được
chấp nhận và phát triển trong sản xuất. Mà để tạo nên chất lượng chè thành phẩm,
yếu tố giống quyết định đến 50%, còn yếu tố độ cao, chăm sóc quyết định 30%, yếu
tố công nghệ chế biến, thiết bị chỉ chiếm 20%. Tuy nhiên, trong thực tế việc đầu tư
cho nhập khẩu các giống chè tốt của nước ngoài và cho nghiên cứu, phát triển về
giống còn rất thấp. Bên cạnh đó, một số giống chè tốt của chúng ta như chè Shan
còn đang bị mai một, suy giảm chất lượng do không quan tâm đúng mức đến việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
bảo toàn giống, phương thức quản lý nương đồi chè và thu hái không hợp lý. Chính
vì thế chất lượng chè Việt Nam còn ở mức rất thấp so với thế giới, ảnh hưởng đến
uy tín và giá trị xuất khẩu. Điều đó cho thấy nhu cầu đáp ứng các giống chè có năng
suất, chất lượng cao phục vụ sản xuất là rất cần thiết. Cần lai tạo, theo dõi, chọn lọc
ra nhiều giống chè mới để mở rộng diện tích, thay thế dần các giống chè cũ năng
suất, chất lượng thấp ở Việt Nam.
Cây chè cũng như hầu hết các loại cây trồng khác có thể nhân giống bằng hai
phương pháp khác nhau: Nhân giống hữu tính và nhân giống vô tính, mỗi phương
pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.
Nhân giống hữu tính (gieo hạt) có những ưu điểm như: kỹ thuật gieo trồng đơn
giản, các thao tác kỹ thuật dễ thực hiện và đặc biệt chi phí về lao động, vật tư ít.
Tính thích ứng của cây chè sau trồng với điều kiện ngoại cảnh tốt. Tuy nhiên,
phương pháp nhân giống này còn có những nhược điểm như: Quần thể nương chè
sinh trưởng không đồng đều do tính phân ly dẫn đến năng suất thấp, chất lượng búp
kém, nhiệm kỳ kinh tế không dài và đặc biệt hệ số nhân giống thấp (1 ha chè
chuyên để lấy quả giống chỉ trồng mới được 4 ha).
Trong các phương pháp nhân giống vô tính, giâm cành là phương pháp khả thi
nhất. Phương pháp giâm cành chè là sử dụng một bộ phận gồm đoạn cành lá dài 4 - 5
hành phân tích thành phần sinh hóa để so sánh với loại chè thường được trồng trọt,
từ đó tìm ra sự tiến hóa của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc. Ông thấy rằng:
Những cây chè hoang dại chủ yếu tổng hợp nhiều catechin đơn giản, cây chè tiến
hóa tổng hợp nhiều catechin phức tạp. Cây chè ở Việt Nam chủ yếu tổng hợp (-)
epicathechin và (-) epigalo cathechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin ),
trong khi đó chè ở Tứ Xuyên và Quý Châu - Trung Quốc chỉ chiếm 18 - 20%. Từ
đó ông cho rằng nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam.
Hiện nay, dựa trên những cơ sở lịch sử hay khảo cổ học, thực vật học các phần
đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè không cố định ở một vùng
nào nhất định, mà trải dài từ Assam Ấn Độ sang Miến Điện, Vân Nam – Trung
Quốc, Việt Nam, Thái Lan.
1.2.2. Phân loại cây chè
Tên khoa học của cây chè lần đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển đặt là
Thea sinensis vào năm 1753 sau đó có nhiều cách đặt tên khác nhau cho cây chè.
Đến nay, tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là
Camellia sinensis (L) Okuntze.
Theo Cohen Stuart (1919), trong hệ thống phân loại thực vật cây chè được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
xếp như sau: (Nguyễn Ngọc Kính 1979).
Ngành:
Hạt kín (Angiospermae)
Lớp:
Hai lá mầm
* Chè Trung Quốc lá to: cây thân bụi hoặc gỗ nhỏ cao 5 - 7 m. Phân cành
trung bình, lá hơi tròn, có diện tích khoảng 30 cm2, có 8 - 9 đôi gân lá, lá mầu xanh
nhạt, búp có khối lượng 0,5 – 0,6g,
* Chè Trung Quốc lá nhỏ: cây bụi phân cành nhiều, lá nhỏ (10 - 15cm),
phiến lá dày, giòn, mầu xanh thẫm, 6 - 7 đôi gân (không rõ), búp nhỏ, hoa nhiều,
chịu rét tốt.
* Chè Shan: cây thân gỗ cao 6 - 10m, diện tích lá lớn hơn 50cm2, lá hình
thuyền, răng cưa sâu, có khoảng 10 đôi gân lá. Búp to nhiều tuyết, khối lượng búp
khoảng 1,0 - 1,2g.
* Chè Ấn Độ: thân gỗ cao trên 10m, phân cành thưa, lá hơi tròn, mặt lá gợn
sóng gồ ghề, diện tích lá khoảng 40cm2, có 12 - 15 đôi gân lá. Búp lớn có khối
lượng 0,9 - 1,0g, búp giòn, chống chịu rét kém và thích hợp với đất tốt.
1.2.3. Sự phân bố của cây chè
Điều kiện tự nhiên là yếu tố quan trọng, quyết định sự phân bố của cây chè.
Các công trình nghiên cứu trước đây đã kết luận: Vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt
đới đều thích hợp cho sự phát triển của cây chè.
Hiện nay cây chè phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn
Độ, Srilanka, Indonesia và Việt Nam, đây là những nước có điều kiện khí hậu nóng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
ẩm. Tuy nhiên, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, với hàng loạt các biện pháp
kỹ thuật mới được áp dụng, vì vậy hiện nay cây chè hầu như đã được trồng khắp
châu lục trên thế giới từ 42 độ vĩ Bắc (Pochi -Liên Xô) đến 27o vĩ độ Nam
(Achentina). Nhưng trong đó sản xuất chè chủ yếu vẫn tập trung ở các nước châu Á:
Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Sirilanca, Indonesia, Việt Nam…và các nước châu
Phi: Kênia, Malawi, Tanzania…(Trang Văn Phương 1957).
Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những độ cao khác nhau có sự khác
nhiệt độ hàng năm lạnh hơn Munaze 20C, chu kỳ hái búp dài hơn từ 15-20 ngày. Sự
khác nhau về mùa vụ dẫn đến sự thay đổi sản lượng trong năm ở các vùng chè.
Nghiên cứu sinh trưởng búp chè trong điều kiện không đốn và có đốn tác giả
Djemukhate (1982) chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống hay không đốn các mầm
chè được phân hoá trong vụ thu, vụ đông và hình thành búp trong vụ xuân. Ở những
nương chè có đốn thì sự phân hoá mầm chè chủ yếu diễn ra ở vụ xuân. Như vậy ở
nương chè có đốn và hái búp thường xuyên, sinh trưởng búp chè bắt đầu muộn hơn
so với nương chè để giống hay không đốn.
Thời gian hình thành búp chè tôm 2-3 lá non đủ tiêu chuẩn hái dài hay ngắn
phụ thuộc vào tốc độ sinh trưởng, của búp chè, theo Tanton T.W (1982), động thái
sinh trưởng của búp chè chậm ở giai đoạn đầu (từ khi nảy mầm đến khi búp dài 2-3
cm), tăng nhanh giai đoạn sau (tiếp tục đến khi búp dài 10-15 cm). Thời gian sinh
trưởng cho mỗi lứa hái từ 7-21 ngày và phụ thuộc vào từng giống và điều kiện thời
tiết. Nhiệt độ không khí tối thiểu cho sinh trưởng chè là 13-140 C và tối thích là 18300C, những ngày có nhiệt độ tối đa vượt quá 350 C và tối thiểu thấp hơn 140C làm
giảm sản lượng chè. Nghiên cứu tương quan giữa mật độ búp và khối lượng búp với
năng suất búp chè tác giả cũng chi ra rằng nhân tố quan trọng nhất là mật độ búp
đóng góp tới 89%, còn khối lượng búp tương tự chỉ đóng góp 11% quyết định đến
năng suất búp.
* Nghiên cứu về lá chè:
Nghiên cứu của Bakhơtadze K.E (1958) về quan hệ giữa lá chè và năng suất
đã đề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: màu sắc, kích thước lá,
cấu tạo giải phẫu lá. Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng
chè tác giả kết luận: Dạng lá chè có màu vàng là đặc trưng và tương quan có lợi cho
các chỉ tiêu sinh hoá, nó phân biệt với lá có màu sắc khác ở chỗ có sự khác nhau của
hàm lượng Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác. Dạng lá có màu cà phê sáng
đặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý. Nghiên cứu kích thước lá chè tác giả đã đi
đến kết luận: Kích thước lá chè biến động theo giống chè và tuổi của cây chè, trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
chè sinh trưởng mạnh, bộ rễ phát triển chậm lại và tiếp tục như vậy khi bộ rễ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
phát triển chậm thì bộ lá, búp sinh trưởng nhanh và ngược lại, trong 1 năm cây
chè có 4 - 5 đợt sinh trưởng.
* Nghiên cứu về chất lượng chè:
Theo tài liệu của Ukers.W.H, trong tác phẩm “Trà diệp toàn thư”, việc phân
tích hoá học chè bắt đầu từ khi phát hiện ra chất cafeine trong chè thương phẩm mà
khi đó gọi là trà tố (theine). Sau đó nhiều công trình nghiên cứu khoa học lại chứng
minh được chất theine (trà tố) trong lá chè và chất cafeine trong lá cà phê là cùng
một chất giống nhau nên đã đổi tên là chất cafeine. Như vậy đã tìm được cơ sở khoa
học tác dụng gây hưng phấn thần kinh con người khi uống chè là do tác dụng
cafeine.
Chất hòa tan trong lá chè thường chiếm khoảng 50% số lượng chất khô.
Theo Chen Rong Bing, các giống chè Ấn độ chất hòa tan chiếm khoảng 50%, chè
Trung Quốc 45%, chè Grudia 44%, chè Nhật Bản 43%. Trong sản phẩm chè xanh,
chất hòa tan chiếm khoảng 38 - 42%, chè đen 34 - 36% khối lượng chất khô. Trong
búp (tôm) và lá thứ nhất hàm lượng chất hòa tan cao hơn lá thứ 2, lá thứ 3. Cuộng
chè non là nơi truyền dẫn dinh dưỡng để nuôi lá, nó chứa hàm lượng chất hòa tan
khá cao.
Nghiên cứu của Djemukhade K.M, xác định trong chè nguyên liệu hàm
lượng hợp chất tanin - catechin càng lớn thì hàm lượng đường hòa tan càng ít và
ngược lại. Hàm lượng đường hòa tan biến động theo thời vụ thu hoạch, nguyên liệu
chè thu hoạch vào tháng 5 có hàm lượng đường glucoza, fructoza và saccaroza đạt
cực đại sau đó hàm lượng của chúng giảm dần, trong tháng 8 đạt thấp nhất, đến
tháng 9 lại bắt đầu tăng lên. điều này thể hiện đặc tính chất lượng mang tính mùa vụ
Kết quả nghiên cứu phương pháp ghép của Kvarakhelia TK (1959), theo
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002), cho biết: tỷ lệ sống của mắt ghép đạt từ 53 - 76%
tùy thuộc vào phương pháp ghép. Tác giả cũng cho rằng cây chè 2 tuổi làm gốc
ghép cho kết quả tốt và ghép vào mùa thu có tỷ lệ sống cao đạt tới 80%. Kết quả
nghiên cứu của Aono, Saba, Tanaka, Sugimoto (1985), giống chè Yabukita dùng
làm gốc ghép là tốt nhất so với giống Fujimidori và Yutakamidori. Trong hai
phương pháp ghép thì ghép nêm cho kết quả tốt hơn phương pháp ghép áp.
Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cây chè ghép Nyirenda.H.E cho rằng
các dòng chè được ghép trên các gốc ghép khỏe mạnh sẽ có khả năng sinh trưởng
búp tốt hơn nhờ có bộ rễ ăn sâu, lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong rễ cao, số rễ
hút cung cấp dinh dưỡng nhiều ....
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Một phương pháp nhân giống nữa được áp dụng đối với chè được các nhà
khoa học nghiên cứu vào những năm 1904 đó là phương pháp chiết cành. Theo Đỗ
Ngọc Quỹ (1980) phương pháp chiết cành được nông dân Trung Quốc áp dụng từ
lâu để nhân các giống tốt như giống Phúc Đỉnh, Bạch Hảo, Thuỷ Tiên, Thiết Quan
Âm nhưng phương pháp này không được áp dụng rộng rãi vì hệ số nhân giống thấp.
Theo Shizuoka (2002) khi nghiên cứu chồi nách, bộ phận lấy mẫu chủ yếu trên
những cây chè 3-4 tuổi ở các giống Konkhitđa, các dòng 3, 15 và 16 tác giả cho
rằng công đoạn chủ yếu và quan trọng nhất là rửa sạch vật liệu vì những cây thân gỗ
như chè rất dễ bị tổn thương bề mặt bởi các hệ vi sinh vật khác xâm nhập vào bên
trong. Những chồi được vặt sạch lá, rửa 1-2 giờ bằng vòi nước và được rửa sạch
trong dung dịch peroxit hydro 2% và cồn Etylic 50% (tỷ lệ 1;1) trong vòng 10-15
giây sau đó rửa bằng dung dịch Dioxin 0,2% trong thời gian 5 phút và cuối cùng rửa
sạch 4-5 lần bằng nước cất 2 lần. Bằng phương pháp làm sạch như trên cho phép
1.3.2.1. Những nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học.
Nghiên cứu về đặc điển sinh vật học của các giống chè ở Việt Nam cũng đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính trong điều kiện tự nhiên hàng năm cây chè
có từ 3-5 đợt sinh trưởng trong một năm gọi là sinh trưởng tự nhiên. Nếu trong điều
kiện có chăm sóc và thu hái búp liên tục thì một năm cây chè sẽ có từ 6-7 đợt sinh
trưởng gọi là đợt sinh trưởng trong điều kiện có đốn hái. Thời gian hình thành một
đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, đất đai, khí hậu và điều
kiện canh tác.
Nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè có đốn hái và trong điều
kiện tự nhiên theo tác giả Lê Tất Khương (1997), tuỳ điều kiện tự nhiên khác nhau
mà các giống sinh trưởng khác nhau, nhưng giữa các giống ít có sự sai khác về số
đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 - 3,6
đợt/năm. Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái giữa các giống có sự sai khác đáng
kể về số đợt sinh trưởng, biến động từ 5,5 - 6,2 đợt/năm tuỳ thuộc vào điều kiện và
phương thức thu hái khác nhau.
* Nghiên cứu về búp chè
Nghiên cứu mật độ búp trên tán của một số giống chè trồng tại Thái Nguyên
tác giả Lê Tất Khương (1997) cho rằng: Các giống chè khác nhau có mật độ búp
trên tán khác nhau và những giống có mật độ búp cao thường là những giống có khả
năng cho năng suất cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng búp chè với sản lượng chè của
tác giả Nguyễn Văn Toàn [1994) cho rằng: Sản lượng búp chè do 2 yếu tố: Số
lượng búp trên cây và khối lượng búp quyết định, trong đó số lượng búp/cây có
các cây khác không vào được hoa của 1A, kể cả đem hạt phấn thụ lên nó cũng
không đậu quả. Trong khi đó hoa của giống PH1 rất phát triển: Nhụy dài, nhị dài,
hoa to, cánh hoa nhiều, đầu nhụy xẻ 3 thuỳ, có hoa xẻ 4 thuỳ nên khả năng sinh sản
hữu tính mạnh, tỷ lệ đậu quả cao.
Khi nghiên cứu số lượng nụ, hoa và khả năng đậu quả của các giống chè
trong điều kiện Thái Nguyên tác giả Lê Tất Khương (1997), cho rằng: Trong điều
kiện sinh trưởng tự nhiên cây chè ra nhiều nụ hoa hơn so với trong điều kiện có
đốn, hái. Các giống chè thuộc biến chủng Assam, Shan có số nụ hoa ít hơn so với
các giống thuộc biến chủng Trung Quốc lá to. Theo tác giả các giống chọn lọc có
nguồn gốc thuộc biến chủng Shan, Assam có thời gian nở hoa chậm hơn giống
Trung du (thuộc biến chủng Trung Quốc lá to) từ 10 - 25 ngày và có quả chè chín
muộn hơn giống Trung du từ 5 đến 10 ngày.
Kết quả của tác giả Lê Tất Khương (2006) khi nghiên cứu khả năng ra hoa
và đậu quả của một số giống chè tại Thái Nguyên cũng có kết luận tương tự về khả
năng đậu quả của giống chè 1A .
* Nghiên cứu về lá chè:
Nghiên cứu về đặc điểm của lá chè các giống, tác giả Nguyễn Ngọc Kính
cho rằng: Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của các giống chè năng suất cao.
Nghiên cứu kích thước lá chè của các giống chè khác nhau các tác giả
Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan, Lê Tất Khương (1997) đều cho rằng, các giống
chè khác nhau có kích thước lá chè khác nhau, do vậy các giống khác nhau cũng có
khả năng cho năng suất khác nhau.
Nghiên cứu quan hệ giữa chỉ số diện tích lá với khả năng cho năng suất của
các giống chè các tác giả Đỗ Văn Ngọc, Đặng Văn Thư, Đàm Lý Hoa (2006) cho
rằng: Chỉ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp chè (R = 0,69) thông
qua đó mà có tương quan thuận với năng suất búp chè.
Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Nguyễn Kim Phong (1997), căn cứ vào hệ số dài/rộng
(D/R) để xác định dạng phiến lá: Nếu D/R < 2,5 lá có dạng hình trứng, D/R từ
cây có tương quan thuận rất chặt với chiều rộng tán chè (r = 0,72± 0,09) và số
cành cấp 1 (r = 0,75±0,090, tương quan chặt với diện tích lá (r = 0,58±0,11),
nhưng không có mối tương quan thuận với chiều dài đốt cành, khối lượng búp và
mật độ búp.
Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái, điều kiện ngoại cảnh với
năng suất chè tác giả Chu Xuân Ái (1988) cho rằng: Năng suất chè có mối tương
quan thuận chặt với mật độ búp (r=0,8564) và diện tích lá (r=0,7752), những giống
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18